1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển của lục lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ khkt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phát triển của lục lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ khkt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bốn là:Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đờ

Trang 1

I Lý thuyết

1 Nguyên nhân hình thành của chủ nghĩa Tư bản độc quyền:

( 4 nguyên nhân )

- Một là: Sự phát triển của lục lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ KHKT, làm

xuất hiện những ngành sản xuất mới Ngay từ đầu nó đã là những ngành có trình độ tích tụ cao, đó là những xí nghiệp lớn đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới

- Hai là: Cạnh tranh tự do Một mặt buộc các nhà TB phải cải tiến kỹ thuật, tăng qui

mô tích lũy Mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém, hoặc bị các đối thủ mạnh thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh Vì vậy xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp

- Ba là: Khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phả sản Một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất Tín dụng TBCN mở rộng trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất

- Bốn là:Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh

mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền

2 Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Xét về bản chất CNTB độc quyền là một nấc thang phát triển mới của CNTB

CNTB độc quyền là CNTB trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

Sự ra đời của CNTB độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của CNTB Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư

3 Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền

3.1 Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền

- Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc trưng kinh tế cơ bản của CN đế quốc:

+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTB- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ phần

Trang 2

Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng ngành) dưới hình thức: Cácten, Xanhđica, Trớt

+ Sau đó là sự liên kết dọc Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica, Trớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom

Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình thành các công ty lớn như: Cônglômêrát, Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau

Khái niệm: Tổ chức độc quyền là liên minh những nhà TB lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó

- Vị trí, vai trò: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền

+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất:

* Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa bán ra

* Họ định ra giá cả độc quyền thấp hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mua vào, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền

Vậy giá cả độc quyền là: Giá cả độc quyền = chi phí sản xuất + P độc quyền

Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì: Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi nhuận vẫn bằng tổng số giá trị thặng dư

Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa và nhỏ, nhân dân lao động ở các nước TB, thuộc địa mất đi

-> Như vậy ta thấy: Độc quyền ra đời từ cạnh tranh và giữ vai trò thống trị, nhưng nó không thủ tiêu được cạnh tranh; độc quyền và cạnh tranh tồn tại song song và thống nhất với nhau một cách biện chứng Tuy nhiên trong thời đại Đế quốc chủ nghĩa thì tính chất cạnh tranh khác hẳn thời kỳ tự do cạnh tranh về mức độ và hình thức

3.2 TB tài chính và bọn đầu sỏ tài chính:

- Song song với qúa trình tích tụ và tập trung sản xuất, thì trong ngành ngân hàng cũng diễn ra một quá trình tương tự Hình thành các tổ chức độc quyền ngân hàng

- Sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng đã làm thay đổi vai trò của ngân hàng:

+ Từ chỗ là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng, nay do nắm được phần lớn tư bản tiền tệ trong xã hội, ngân hàng đã có quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế xã hội:

Trang 3

* Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công nghiệp vay và nhận gửi số tiền lớn của các tổ chức độc quyền công nghiệp tring một thời gian dài, nên lợi ích của chúng quyện chặt vào nhau Hai bên đều quan tâm đến hoạt động của nhau, tìm cách thâm nhập vào nhau, hình thành nên TB tài chính

- Khái niệm: TB tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vàp nhau giữa TB độc quyên trong ngân hàng và TB độc quyền trong công nghiệp

- Sự phát triển của TB tài chính đã dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị xã hội của xã hội TB Đó chính là bọn đầu sỏ tài chính

* Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự" với số phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc (công ty mẹ) > chi phối công ty con

->chi phối công ty cháu… Như vậy chỉ bằng một số TB nhất định một đầu sỏ tài chính

có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất

3.3 Xuất khẩu tư bản

- Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư

- Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó

- Xuất khẩu tư bản là tất yếu:

+ Vì trong các nước tư bản có hiện tượng "thừa tư bản"

+ Giá trị nguyên liệu và nhân công ở các nước chậm phát triển rẻ, nhưng lại thiếu vốn

và kỹ thuật

+ Thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn

- Hình thức xuất khẩu TB:

+ Xuất khẩu tư bản trực tiếp: Xây dựng các xí nghiệp, trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận,

+ Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Cho vay tư bản để thu lợi tức…

- Xuất khẩu TB vừa có tác dụng tích cực vừa có tác dụng tiêu cực, đặc biệt là đối với các nước nhận đầu tư, có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc về kinh tế, dẫn tới lệ thuộc về chính trị

3.4 Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế

Việc xuất khẩu TB tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư TB, phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền quốc tế với nhau Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế: Cacten, Xanhđica, Trớt quốc tế Nhưng giữa cac tổ chức

Trang 4

này luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh lẫn nhau… tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp từ

đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế

3.5 Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc

Lợi ích của việc xuất khẩu TB đã thúc đẩy các cường quốc TB đi xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trường thuộc địa dễ dàng loại trừ được các đối thủ cạnh tranh, dễ dàng nắm được độc quyền nguyên liệu và thị trường tiêu thụ Do tcác động đó, đặc biệt là

do tác động của quy luật phát triển không đều của CNTB đó là những nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, cũng như các cuộc xung đột nóng ở nhiều khu vực trên thế giới hiện nay

-> Như vậy: chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống trị ở nước ngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng của nhà nước

Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền biểu hiện trong đường lối xâm lược nước ngoài, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản độc quyền

II Liên minh thương mại châu Âu ( EU)

1 Quá trình hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu

1.1 Sự ra đời của Liên minh châu Âu và các nước tiến tới nhất thể hoá toàn diện.

Hiện nay, chúng ta chỉ biết đến một EU hùng mạnh với trên 50 tuổi, nhưng trong số chúng ta không mấy ai biết rằng ngay từ thời Saclơ Đại đế thuộc đế chế La

Mã (thế kỉ thứ VII sau Công nguyên), ý tưởng về một châu Âu thống nhất đã được hình thành Tuy nhiên, trong một thời gian dài, ý đồ thống nhất châu Âu chỉ thuộc về một vài nhà chính trị, quân sự có nhiều tham vọng và một bộ phận các nhà trí thức có

tư tưởng cấp tiến; còn đại bộ phận châu Âu vẫn thờ ơ, thậm chí không hề có ý tưởng gì

về điều đó, mặc dù châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất

Đến năm 1923, Bá tước người Áo – Condanhve Kalagi đã sáng lập ra “Phong trào Liên Âu” nhằm thiết lập “Hợp chủng quốc châu Âu” để làm đối trọng với “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; và vào năm 1929, ngoại trưởng Pháp lúc bấy giờ là Aristide Briand cũng đưa ra đề án thành lập “Liên minh châu Âu”, nhưng đều không thành Phải đến sau Thế chiến lần thứ II, những ý tưởng thống nhất châu Âu này mới trở thành hiện thực

Đại chiến thế giới thứ II kết thúc đã làm đảo lộn trât tự thế giới nói chung và trật tự ở châu Âu nói riêng Trật tự thế Yalta với hai cực là hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô trở thành lực lượng mới khống chế toàn cầu Cùng với sự thay đổi đó, châu

Trang 5

Âu cũng bị chia cắt thành hai khu vực: Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa còn Tây Âu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Và trong khi Liên Xô với vai trò là

“thành trì” của phong trào cộng sản quốc tế, dẫn dắt “nửa kia” của châu Âu, có vị thế ngày càng lớn rộng, thì Hoa Kỳ nhờ chiến tranh mà phát triển vượt bậc cả về kinh tế lẫn quân sự, còn Tây Âu đang phải đối mặt với sự suy yếu toàn diện và nguy cơ tụt hậu Cho dù thắng trận hay bại trận thì nền kinh tế các nước Tây Âu đều rơi vào tình trạng kiệt quệ Còn về quân sự thì cả hai phía đồng minh và phát xít đều không tránh khỏi những tổn thất nặng nề Nguy cơ mất vai trò “trung tâm thế giới” của Tây Âu đã trở thành hiện thực Hơn nữa, người châu Âu nhận thấy rằng để loại trừ tận gốc mầm mống của hai cuộc đại chiến thế giới đã gây không biết bao nhiêu tổn thất cho châu

Âu, cần phải tước bỏ quyền độc lập sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hai ngành kinh tế quan trọng nhất của châu Âu lúc bấy giờ là than và thép, chủ yếu nằm trong tay Pháp

và Đức, hai quốc gia luôn có những căng thẳng chính trị - mối hiểm hoạ tiềm tàng của nền hoà bình châu Âu Chính trong bối cảnh đó, nhu cầu hợp tác và liên kết chặt chẽ, toàn diện giữa các quốc gia Tây Âu trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Chỉ bằng con đường hợp tác hoà bình, các nước Tây Âu mới giải quyết được những khó khăn chồng chất sau chiến tranh, phát triển nội lực và tăng thế cạnh tranh với bên ngoài Chưa bao giờ các quốc gia Tây Âu lại ý thức rõ ràng và cấp bách về vấn đề một cộng đồng chung đến như vậy Và một yêu cầu tất yếu, hết sức cần thiết được đặt ra là phải thành lập được một tổ chức quyền lực siêu quốc gia có sứ mệnh điều hành phối hợp các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia sao cho hiệu quả Đòi hỏi khách quan đó đã trở thành nguồn gốc của sự liên kết giữa các quốc gia Tây Âu - mở ra một trang mới trong lịch

sử phát triển Tây Âu nói riêng cũng như của cả châu Âu nói chung

Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành của EU là bản “Tuyên bố Schuman” của

Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09 tháng 05 năm 1950 với đề nghị đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hoà liên bang Đức và Pháp dưới một

cơ quan quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia Sau đó, Hiệp ước thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC), một tổ chức tiền thân của EU ngày nay được ký kết Từ đó đến nay, sự liên kết giữa các quốc gia châu Âu đã không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với đỉnh cao là một Liên minh châu Âu như chúng ta thấy ngày nay và trong tương lai có thể sẽ đạt tới cấp độ liên kết cao hơn Nhìn lại hơn 50 năm hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu, có thể thấy quá trình này gắn liến với các hiệp ước chủ yếu sau đây (từ năm

1951 đến nay):

- Hiệp ước Paris thành lập cộng đồng Than – Thép châu Âu (ECSC) được ký ngày 18/04/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg,

Trang 6

nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối hai sản phẩm chính là thép và than trên toàn lãnh thổ châu Âu Hiệp ước này đã chứa đựng ý đồ của các nhà sáng lập ECSC là gây dựng nền tảng cho việc nhất thể hoá kinh tế châu Âu

- Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu

(EURATOM) và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) được ký ngày 25/31957 với sự nhất trí của 6 nước thành viên ECSC Mục đích thành lập EURATOM là để thống nhất việc quản lý ngành năng lượng nguyên tử của 6 nước thành viên; trong khi đó EEC ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường liên kết kinh tế giữa 6 nước này, tạo ra một tập hợp sức mạnh kinh tế tổng hợp dưới hình thưc một “thị trường chung” mà lao động hàng hoá được tự do di chuyển như một thị trường nội địa Hiệp ước Rome là kết quả của những thành tựu đáng khích lệ về kinh tế và chính trị mà ECSC đã đạt được Và có thể nói, hiệp ước này đã mở ra một hướng liên kết giữa các quốc gia châu Âu đánh giá

sự ra đời của một liên minh kinh tế thật sự Cộng đồng kinh tế châu Âu (EE)

- Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu (EC) được ký ngày 08/04/1965 giữa các nước của 3 nước Cộng đồng này dưới tên gọi: Cộng đồng châu Âu Đây là văn bản xác nhận một cấp độ nhất thể hóa kinh tế cao hơn giữa các quốc gia này thể hiện việc thành lập một thị trường thống nhất; trong đó, ngoài việc hàng hoá, lao động và vốn đầu tư được tự do di chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng được rỡ bỏ, hệ thống thuế quan và chính sách thương mại chung được thành lập, một số chính sách đối với các lĩnh vực kinh tế khác cũng được thống nhất nhằm tăng sức cạnh tranh với các khối kinh tế bên ngoài, tiến tới một liên minh chặt chẽ về chính trị

- Hiệp ước Maastricht thành lập Liên minh châu Âu được ký ngày 07/2/1992 tại Maastricht – Hà Lan, với sự nhất trí hoàn toàn của nguyên thu quốc gia các nước thành viên (lúc này, số thành viên của EC là 12 nước bao gồm: Pháp, Đức, Bỉ, Italy, Hà Lan, Luxembourg, Anh, Đan mạch, Ailen, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) nhằm thành lập một “không gian châu Âu” thống nhất về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội Như vậy, EU đã được bổ sung thêm các nội dung liên kết mới (an ninh, chính trị , đối ngoại) mà các tổ chức tiền thân của nó chưa có, để đạt được các mục tiêu toàn diện hơn như: duy trì bảo vệ hoà bình và thịnh vượng, thiết lập nền tảng phát triển, tiến tới hợp nhất về kinh tế vì lợi ích chung của các dân tộc châu Âu thông qua việc tạo ra một khu vực kinh tế rộng lớn, một khu vực thị trường tự

do, thống nhất, tạo điều kiện cho việc thống nhất về chính trị và hài hoà về xã hội trong liên minh Với mục tiêu như vậy, EU đã thực sự bước vào một thời kỳ mới, tồn tại như một thực thể thống nhất, hay những nói đúng hơn là đóng vai trò như một “Đại quốc gia” ở châu Âu, một “Ngôi nhà chung châu Âu”

Trang 7

- Hiệp ước Amsterdam được ký vào ngày 2/10/1997 bởi các nguyên thủ của 15 nước thành viên (năm 1995 EU đã kết nạp thêm 3 nước thành viên nữa là: Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo) hiệp ước này được hình thành trên cơ sở sửa đổi hiệp ước Maastricht nhằm đưa những cố gắng của EU trong việc xây dựng một liên minh kinh tế - tiền tệ (EMU) trở thành hiện thực Hiệp ước này đã tao cơ sở pháp lý để đồng EU đồng tiền chung của các nước châu Âu chính thức ra đời với tư cách đầy đủ của một đồng tiền thực thụ và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1999 trong phạm vi 11 nước (EU-11): Đức, Pháp, Ailen, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Italy, Luxembourg, Phần Lan Theo kế hoạch

đã được định trước, đúng ngày 1/1/2002, các đồng Euro bằng giấy và bằng kim loại đã chính thức đi vào lưu thông tiền tệ song hành với các đồng bản tệ và bắt đầu giai đoạn đổi tiền Và kể từ ngày 1/7/2002, các đồng bản tệ của tất cả 11 nước thuộc EU -11 đã kết thúc lịch sử tồn tại của mình, vĩnh viễn rút khỏi lưu thông, chính thức nhường chỗ hoàn toàn cho đồng Eurro đang là đồng tiền chung, duy nhất lưu hành trong tất cả các quan hệ kinh tế - xã hội các những nước thành viên Một “Ngôi nhà chung châu Âu”

đã hình thành

- Hiệp ước Nice (7-11/12/2000) được tập trung vào các vấn đề cải cách thể chế để đón nhận các thành viên mới và gồm các vấn đề:

+ Cải cách thể chế: đổi mới thành phần Uỷ ban châu Âu (Uỷ ban châu Âu sẽ có không quá 27 uỷ viên, trong đó mỗi nước sẽ có một uỷ viên, được chỉ định theo

nguyên tắc luân phiên, sẽ thực hiện từ năm 2005 Chủ tịch uỷ ban sẽ được trao thêm một số thẩm quyền mới, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương và việc lựa chọn chủ tịch

EC sẽ được quyết định theo nguyên tắc đa số đủ thẩm quyền; phân định số phiếu bầu trong Hội đồng Bộ trưởng, cụ thể: Pháp, Đức, Anh, Italy có cùng số phiếu bầu là 29, Tây Ban Nha có phiếu bầu là 27 phiếu, Hà Lan có phiếu bầu là 13 phiếu, Bỉ có phiếu bầu là 12 phiếu, và các nước còn lại sẽ có từ 3 đến 7 phiếu Tổng số phiếu bầu sẽ là

345 khi số thành viên EU là 25 nước(1) nguyên tắc bỏ phiếu theo đa số đủ thẩm

quyền: hiện đang áp dụng cho 80% quyết định, 20% vấn đề còn lại các nước vẫn giữ quyền phủ quyết của minh, đặc biệt đối với những vấn đề nhạy cảm, động chạm đến lợi ích quốc gia)

+ Tăng cường vai trò của Nghị viện châu Âu Số ghế nhiều nhất là 99 (tăng 12 so với số cũ) Pháp, Anh và Italy chỉ còn 74 (giảm 13 so với số cũ) tổng số nghị sĩ tương lai sẽ là 738

+ Về chính sách an ninh và quốc phòng: EU thành lập Lực lượng phản ứng nhanh (RRF) từ năm 2003, bao gồm 60.000 quân với 100 tầu chiến và 400 máy bay trong thời gian 60 ngày RRF sẽ có cơ cấu điều hành thường trực gồm uỷ ban quân sự bà Bộ tham mưu đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của EU Như vậy, từ ECSC đến EU hiện nay là

Trang 8

cả một quá trình phát triển phức tạp với các hình thức liên kết kinh tế quốc tế được phát triển chặt chẽ, toàn diện và hoàn toàn mới về vật chất Và cho đến nay, sau nhiều

nỗ lực thiết thực của EU, tiến trình nhất thể hoá châu Âu đã đạt được các kết quả rất khả quan trên nhiều lĩnh vực

+ Về an ninh: EU lấy NATO và liên minh phòng thủ Tây Âu (WCU) làm hai trụ cột chính Tuy nhiên, EU đang cố gắng tạo cho mình “một cánh tay quân sự” bên cạnh

“cánh tay kinh tế” với bản sắc riêng của mình, hạn chế sự lệ thuộc vào Hoa Kỳ + Về chính trị: đang diễn ra quá trình chính trị hoá các nhân tố kinh tế, anh ninh, nghĩa là kết hợp các phương tiện kinh tế và quân sự nhằm đạt được các mục tiêu kinh

tế Trong nội khối đã và đang diễn ra quá trình hợp nhất và thống nhất các đường biên giới quốc gia nhằm tăng cường quyền lực và quản lý chung Còn đối với bên ngoài,

EU đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế và khu vực bằng các hiệp định song phương và đa phương

+ Về xã hội: về cở bản, các nước thành viên đang áp dụng một chính sách chung về lao động, bảo hiểm, môi trường, năng lượng, giáo dục, y tế, (tuy nhiên, vẫn còn một số lĩnh vực chưa thống nhất)

+ Về kinh tế: GDP của EU năm 1988 đạt 8.482 tỷ USD, được xem là lớn nhất thế giới (NAFTA: 8.150 tỷ USD, ASEAN: 845 tỷ USD), năm 2000 đạt 9004 tỷ USD, năm

2001 đạt 9.315 tỷ USD, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm 1995-2000 gần 2,2 Đây là khu vực kinh tế đạt trình độ cao về kỹ thuật, công nghệ, thiết bị, máy móc; đặc biệt là về cơ khí, năng lượng, nguyên tử, dầu khí, hoá chất, dệt may, điện tử, công nghiệp vũ trụ và vũ khí

+ Về thương mại: EU là trung tâm thương mại lớn thứ hai sau Hoa Kỳ, với doanh

số 1.527,5 tỷ USD năm 1997, trong đó 50% là buôn bán giữa các nước thành viên Năm 2002, giá trị xuất khẩu hàng hoá của EU đạt 2.441,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu hàng hoá nội khối đạt 1.502,2 tỷ USD, xuất khẩu hàng hoá ngoại khối đạt 939 tỷ USD

Về nhập khẩu hàng hoá: năm 2002, EU đạt 2.437 tỷ USD, trong đó nhập khẩu nội khối đạt 1.506 tỷ và ngoại khối đạt 931 tỷ USD Như vậy, thương mại của EU phần lớn phát triển mạnh trong nội bộ khối nhờ khối tác động của chính sách nhất thể hoá kinh

tế khu vực Ngày 1/5/2004, EU có 25 nước thành viên sau khi kết nạp thêm 10 quốc gia mới Với việc mở rộng lần thứ 5 này EU trở thành một khối kinh tế và thị trường lớn nhất thế giới, với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vị chiếm khoảng 21,9% kim ngạch nhập khẩu của tập đoàn thế giới

1.2 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Liên minh châu Âu

Nhằm thực hiện những mục tiêu chung đã được đề ra trong các hiệp ước, EU đã xây dựng cho mình một hệ thống thể chế “ siêu quốc gia” để điều hành, giám sát quá trình

Trang 9

liên kết của các quốc gia thành viên Hệ thống thể chế này bao gồm 5 cơ quan chính sau:

- Hội đồng châu Âu: bao gồm những người đứng đầu nhà những nước, chính phủ các nước thành viên và chủ tịch Uỷ ban châu Âu Hội đồng châu Âu có nhiệm vụ xác định những định hướng lớn của EU và đóng vai trò như mọi diễn đàn chính trị

- Hội đồng bộ trưởng: bao gồm Bộ trưởng các nước thành viên Đây là cơ quan lập pháp tối cao của EU, chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của Liên minh, đưa ra các quy chế, chỉ thị mang tính bắt buộc đối với các thành viên, đồng thời cũng chịu trách nhiệm về hợp tác liên minh chính phủ

- Uỷ ban châu Âu: là cơ quan hành pháp của EU, gồm 20 uỷ viên được uỷ nhiệm trên

cơ sở sự thoả thuận của các nước thành viên và phải được Quốc hội châu Âu tán thành

Uỷ ban châu Âu đề xuất lên Hội đồng Bộ trưởng các biện pháp phát triển chính sách chung và theo dõi việc tôn trọng các hiệp ước

- Nghị viện châu Âu: là cơ quan lập pháp của EU, bao gồm 626 nghị sĩ của các nước thành viên và được chia ra thành 18 uỷ ban Nghị viện châu Âu có chức năng thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, cùng hội đồng châu Âu quyết định trong một số lĩnh vực Nghị viện cũng có quyền bãi miễn uỷ viên

Uỷ viên ban châu Âu

- Toà án châu Âu: đặt trụ sơ tại Luxembourg, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sự do các chính phủ thoả thuận bổ nhiệm Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của uỷ ban châu âu, văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU - Toà kiểm toán châu Âu: có chức năng kiểm tra các khoản tài chính của EU để đảm bảo tính hợp pháp của các khoản thu chi, đồng thời phối hợp với các cơ quan thể chế khác của EU để thực hiện các hoạt động có liên quan đến tài chính của mình

- Uỷ ban kinh tế và xã hội: là cơ quan đại diện cho lợi ích của các nhóm người trong

xã hội, có nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ cho Hội động Bộ trưởng và Uỷ ban châu Âu

- Uỷ ban về khu vực: có chức năng tư vấn cho các cơ quan thể chế của EU về các vấn

đề liên quan tới lợi ích của các đơn vị địa phương và khu vực

- Ngân hàng Đầu tư châu Âu: đảm bảo trách những hiệm cấp phát tín dụng cho các tổ chức nhà nước, các doanh nghiệp của các nước thành viên trên cơ sở nguồn vốn của các nước thành viên đóng góp hoặc vốn vay quốc tế

1.3 Tình hình phát triển kinh tế của Liên minh châu Âu

Trải qua k hông ít những thăng trầm trong gần một nửa cuối thế kỷ XX, giờ đây châu

Âu đang dần lấy lại vị trí “ trung tâm thế giới” của mình Đặc biệt, trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước EU đã thực sự khẳng định được vị thế là một trung tâm kinh tế hùng

Trang 10

mạnh của thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và tương đối ổn định Tăng trưởng GDP của EU trong năm 1996 là 1,6%, năm 1997 là 2,5%, năm 1988 là 2,7%, năm 1999 là 2,0%, và cho đến năm 2000 thì cả châu Âu “thở phào nhẹ nhõm”với tốc

độ tăng GDP là 3%, cao nhất từ cuối thập ký 80 cho tới năm cuối cùng của thế kỷ XX Năm 1988 khi cơn bão tả chính làm nghiêng ngả nền kinh tế thế giới thì EU – khu vực

ít bị ảnh hưởng nhất của khủng hoảng – vẫn tiếp tục quá trình phát triển kinh tế của mình Theo các nhà kinh tế, sự ổn định kinh tế của EU được xem là một trong những nhân tố chính giúp cho nền kinh tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu Năm 1999 tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của EU có chiều hướng giảm do sự sụt giá của đồng Euro và sản xuất công nghiệp giảm sút Nhưng chỉ với riêng sự suy giảm này cũng chưa thể đưa ra một kết luận tiêu cực về nền kinh tế EU, bởi ngày cả khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại, lạm phát của EU trong năm 1999 vẫn ở mức 1,1%- mức thấp chưa từng có trong lịch sử, tỉ lệ thất nghiệp giảm lần đầu tiên trong thập kỷ

90 từ hơn 10% xuống còn 9,4% trong năm 1999 và thâm hụt ngân sách của các nước thành viên cũng ở mức thấp: 0,5% - 0,7% GDP Tình hình kinh tế EU trong năm 1999

đã được cải thiện và phát triển tích cực Năm 2000, GDP của EU cao hơn năm 1999 gần 1,1%, tăng trưởng tốc độ 3% các năm 2001-2002 do tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp (cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ - Anh phát động ở

Afganixtan, chiến tranh chống Iraq) đã tạo nguy cơ chưa từng có chia rẽ nội bộ EU và ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế châu Âu Khoảng cách giữa các quốc gia trong khối ngày càng thu hẹp Trong số các quốc gia thuộc EU thì các nước nhỏ Bắc Âu tỏ ra tiến mạnh nhất, nước Đức khổng lồ thường bị tụt hậu trong mấy năm gần đây cũng đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của cả khối Chỉ có Italy, mặc dù hơi yếu về khả năng cạnh tranh cũng đã vươn lên với tốc độ tăng trưởng 2,6 % trong năm 2000, tuy nhiên vẫn bị coi là mức thấp nhất trong khối Theo uỷ ban châu Âu, kinh tế EU vẫn đang phát triển khả quan Các chuyên gia kinh tế của IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và OECD (Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế) cũng rất lạc quan vào sự tiếp tục phát triển kinh tế của EU bởi Ngân hàng trung ương châu Âu tiếp tục kiểm soát chặt chẽ mức cấp tiền và duy trì mức lãi xuất khá ổn định ở mức 4,5% Theo dự báo của

OECD, trong năm 2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế EU vẫn sẽ ổn định ở mức trên dưới 2,6%, tỉ lệ thất nghiệp sẽ giảm đáng kể từ 8,8% năm 2003 Các nhà kinh tế cho rằng

“EU tăng trưởng chậm nhưng chắc” và vẫn tin tưởng khẳng định xu hướng đi lên của kinh tế EU trong những năm tới 2010 và tầm nhìn tới 2020

2 Đặc điểm chung của thị trường lien minh Châu Âu

Từ năm 1990 đến nay, EU tích cực “Đẩy mạnh nhất thể hoá” trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, tiền tệ, ngoại giao an ninh đến nội chính và tư pháp Các quốc gia thành viên

Ngày đăng: 15/09/2023, 15:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w