Đối tượng nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học là những vấn đề lý luận thực tiễn về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát, các chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự dưới góc độ Luật hình sự thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Phạm vi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học: + Nội dung: Đề tài nghiên cứu khoa học là những vấn đề lý luận thực tiễn về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát; chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự trong hoạt động phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội. + Về không gian: Thành phố Hà Nội.+ Về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2021.
Trang 1BLHS Bộ luật Hình sự
LĐCĐTS Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
6 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT HÌNH SỰ 6
1.1 Nhận thức về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội 6
1.1.1 Khái niệm về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội .6 1.1.2 Đặc điểm pháp lý 9
1.2 Nhận thức về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trong sinh viên của lực lượng Cảnh sát hình sự 15
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát hình sự 15
1.2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội của lực lượng Cảnh sát hình sự 20
1.2.3 Nội dung và biện pháp phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội của lực lượng Cảnh sát hình sự 22
1.2.4 Mối quan hệ phối hợp trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA MẠNG XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT HÌNH SỰ CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Tình hình đặc điểm có liên quan đến tình trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội .32
Trang 32.1.2 Tình hình hình an ninh trật tự xã hội có liên quan 34
2.1.3 Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội 35
2.2 Tổ chức lực lượng và hoạt động của lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội 39
2.2.1 Tổ chức lực lượng, phân công, phân cấp trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội 39
2.2.2 Hoạt động của lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội trong tiến hành các biện pháp phòng ngừa xã hội đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội 42
2.2.2.1 Thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa xã hội 42
2.2.2.2 Thực trạng tiến hành các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ 44
2.2.3 Thực trạng mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội với các lực lượng khác trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội 47
2.2.3.1 Thực trạng phối hợp với các lực lượng trong ngành Công an 47
2.2.3.2 Thực trạng phối hợp với các lực lượng ngoài ngành Công an 48
2.3 Nhận xét, đánh giá chung 50
2.3.1 Ưu điểm và kết quả đạt được 50
2.3.2 Hạn chế, thiếu sót 52
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA MẠNG XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT HÌNH SỰ CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 62 3.1 Dự báo tình hình có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội trong thời gian tới .62
Trang 43.1.2 Nội dung dự báo 63
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội trong sinh viên của lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội 65
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội .65
3.2.2 Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, chiến sĩ lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội về phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trong sinh viên 69
3.2.3 Tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội nói riêng (không ăn nhập tiêu đề) 71
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội nhằm nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác cho sinh viên 74
3.2.5 Triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát hình sự trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội 82
3.2.6 Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát hình sự với các lực lượng khác trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ thời đại số như hiện nay, mạng xã hội được ra đời và đượcphát triển với tốc độ ngày càng nhanh chóng Mạng xã hội đã đem lại nhiều lợiích, là phương tiện trao đổi và kéo gần khỏang cách giữa tất cả mọi người Bêncạnh những lợi ích và cơ hội to lớn cho sự phát triển của quốc gia, thì cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) cũng đang đặt ra những thách thức khó khăn,đặc biệt là đối với vấn đề an ninh phi truyền thống và tội phạm sử dụng côngnghệ cao Tuy chỉ mới xuất hiện trong khoảng một thập kỷ gần đây, nhưng do sựphát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt là mạng Internet, tội phạm
sử dụng công nghệ cao đã phát sinh, tồn tại và phát triển nhanh chóng tại ViệtNam Hiện tại, tình hình tội phạm công nghệ cao đang tiếp tục diễn biến phứctạp, khó lường, xảy ra trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh
- quốc phòng của đất nước Có lẽ chưa khi nào tội phạm sử dụng mạng Internet
để thực hiện hành vi phạm tội lại nhiều như hiện nay khi mà thế giới đang bướcvào thời đại công nghiệp 4.0 Mạng xã hội là cụm từ đã quá quen thuộc với mọingười, đặc biệt là trong thời đại công nghệ phát triển như ngày nay Đây là mộttrang web hay nền tảng trực tuyến với rất nhiều dạng thức và tính năng khácnhau, giúp mọi người dễ dàng kết nối từ bất cứ đâu Con người có thể dễ dàngtrao đổi thông tin qua mạng xã hội như: zalo, facebook, … Sự phát triển vượtbậc của công nghệ số đã và đang là nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, từ các ngành sản xuất, công nghiệp, dịch vụ thông tin đến văn hóa,giải trí, giao thông, y tế Trong tương lai, mạng xã hội ngày càng có vai trò quantrọng hơn
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, công nghệ thông tin, mạng viễnthông đã phát triển mạnh mẽ Song hành với sự phát triển và phổ biến của côngnghệ thông tin, mạng viễn thông là sự xuất hiện ngày càng phức tạp của tội
Trang 6phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông đặc biệt là tội phạmlừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
Hiện nay ở Việt Nam, tội phạm này đã gây ra những tác hại không nhỏ đếntrật tự, an toàn xã hội Tình trạng lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử vàthanh toán điện tử gia tăng, dẫn đến nhiều hậu quả Tính từ ngày 25/5/2020 đến24/5/2021, toàn quốc đã phát hiện xảy ra 5.408 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản,trong đó: 2.894 vụ lừa đảo theo các phương thức truyền thống (chiếm hơn53,5% tổng số vụ phát hiện); 2.514 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên khônggian mạng (chiếm 46,5% tổng số vụ).1 Ngoài các thủ đoạn lừa đảo truyền thống,các đối tượng còn lợi dụng không gian mạng để hoạt động lừa đảo chiếm đoạttài sản, với phương thức thủ đoạn hết sức tinh vi, đa dạng về cách tiếp cận cácnạn nhân, nhiều vụ có lượng lớn người bị hại tham gia tại nhiều địa phương trênkhắp cả nước, một số thủ đoạn điển hình như: Sử dụng mạng xã hội để kết bạn,thông báo gửi quà, sau đó giả danh nhân viên sân bay, hải quan, thuế để yêu cầu
bị hại nộp tiền cước vận chuyển, thuế, phí, tiền phạt… vào các tài khoản ngânhàng được chỉ định rồi chiếm đoạt; giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, Công an,Viện kiểm sát, Tòa án gọi điện thông báo chủ thuê bao có liên quan đến vụ án,
vụ việc đang giải quyết rồi đe dọa, yêu cầu bị hại chuyển tiền hoặc khai thácthông tin tài khoản ngân hàng của bị hại để đăng nhập rồi chuyển tiền vào cáctài khoản khác để chiếm đoạt; chiếm quyền quản trị (hack) hoặc giả lập các tàikhoản mạng xã hội của người khác rồi nhắn tin, lừa gạt người thân quen của chủtài khoản chuyển tiền, sau đó chiếm đoạt Các nạn nhân của tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội thường là người cả tin, chưa có kiến thức và
ít kinh nghiệm trong sử dụng mạng xã hội Đặc biệt, phần lớn đối tượng sinhviên mới nhập học còn thiếu hiểu biết đã trở thành đối tượng bị lừa đảo
Thời gian qua, lực lượng cảnh sát công an thành phố Hà Nội nói riêng vàcông an trên cả nước nói chung đã tích cực thực hiện công tác tuyên truyền, phổ
1 chiem-oat-tai-san
Trang 7https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noi-len-cua-toi-pham-lua-ao-biến về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước trong công tácphòng ngừa các hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản Tuy nhiên, pháp luật Hình
sự Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể về tội phạm này vì thế nên trongviệc xử lý và phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hộicòn những điểm hạn chế nhất định, chưa đạt yêu cầu đấu tranh phòng chống tộiphạm hiện nay, cũng như trong thời gian tới Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng quyđịnh của Bộ luật hình sự để xét xử tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội trong những năm qua còn ít, chủ yếu là xử phạt hành chính Hoạtđộng ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội là vấn đề mới bởi tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội đượchình thành và tăng mạnh trong vài năm trở lại đây, khi mạng xã hội ngày càngphát triển Bên cạnh đó, vấn đề này chưa thực sự được nhiều tác giả nghiên cứuđến Ngoài ra, mạng xã hội hiện nay đã trở thành môi trường, không gian sống,phương tiện liên lạc của sinh viên dẫn đến tội phạm lợi dụng phương thức nàynhằm chiếm đoạt tài sản Xuât phát từ thực tế trên, tác giả nhận thấy đề tài:
“Hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội theo chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự công an thành phố Hà Nội” là cần thiết phải nghiên cứu Vì vậy, tác giả sẽ phân tích và
làm rõ đề tài này trong bài nghiên cứu khoa học của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở nghiên cứu và làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận và thực tiễn chức năng của lực lượng cảnh sát trong hoạtđộng phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xãhội từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động phòng ngừatội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội trong giaiđoạn hiện nay và trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tàinghiên cứu khoa học tập trung thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 8+ Phân tích, làm rõ các khái niệm, đối tượng, phạm vi và đặc điểm của hoạtđộng phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xãhội của lực lượng cảnh sát
+ Phân tích, làm rõ nội dung hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát
+ Khảo sát tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng
xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội
+ Đánh giá hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinhviên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát, tìm ra những nguyên nhân củanhững tồn tại, khó khăn vướng mắt cần phải khắc phục giải quyết
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phòng ngừa tộiphạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượngcảnh sát
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học là những vấn đề lýluận thực tiễn về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản củasinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát, các chức năng của lực lượngcảnh sát hình sự dưới góc độ Luật hình sự thuộc chuyên ngành Luật hình sự và
Tố tụng hình sự
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học:
+ Nội dung: Đề tài nghiên cứu khoa học là những vấn đề lý luận thực tiễn
về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên quamạng xã hội của lực lượng cảnh sát; chức năng của lực lượng cảnh sát hình sựtrong hoạt động phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viênqua mạng xã hội
+ Về không gian: Thành phố Hà Nội
+ Về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2021
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vậtlịch sử, Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp
và phương pháp so sánh luật
Phương pháp phân tích được sử dụng trong tất cả các chương của đề tàinghiên cứu khoa học Trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu của các tácgiả trong và ngoài nước về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát, bài nghiên cứukhoa học tổng hợp, phân loại các nghiên cứu đó theo từng trường phái và từngvấn đề nghiên cứu Từ đó có cái nhìn tổng thể về tình hình nghiên cứu đối vớihoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên quamạng xã hội của lực lượng cảnh sát tại thành phố Hà Nội
Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng để phântích những vấn đề lý luận, các quan điểm khoa học, từ đó tổng hợp, khái quátthành hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp thường xuyên sử dụng đểphân tích làm rõ các quy định của Luật hình sự Việt Nam về hoạt động phòngngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lựclượng cảnh sát và thực tiễn áp dụng các quy định này trong những năm qua ởViệt Nam Bên cạnh đó, phương pháp so sánh luật cũng được sử dụng để phântích về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viênqua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ những vấn đề lýluận về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viênqua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát theo quy định của pháp luật hình sựViệt Nam Đồng thời, đánh giá được thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật
Trang 10về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên quamạng xã hội của lực lượng cảnh sát hiện nay tại thành phố Hà Nội Từ đó nhậnbiết được những ưu điểm và bất cập trong các vấn đề về hoạt động phòng ngừatội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội của lựclượng cảnh sát Bên cạnh đó, bài nghiên cứu khoa học này đưa ra một số giảipháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và các quy định nhằm đảm bảo để cóthể áp dụng một cách có hiệu quả hơn trong thực tiễn tại Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Việc thực hiện đề tài có giá trị tham khảo và nghiêncứu trong quá trình thực hiện, áp dụng các quy định pháp luật về hoạt độngphòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hộicủa lực lượng cảnh sát Đồng thời, các lý giải và đề xuất trong bài nghiên cứukhoa học có giá trị tham khảo đối với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền trong nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt độngphòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hộicủa lực lượng cảnh sát trong Bộ luật Hình sự ở Việt Nam trong thời gian tới
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của đề tài nghiên cứu khoa học được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát hình sự
Chương 2: Đặc điểm tình hình có liên quan và thực trạng hoạt động phòngngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trong sinh viên củalực lượng cảnh sát hình sự công an thành phố Hà Nội
Chương 3: Dự báo và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hiệu quả hoạtđộng phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trongsinh viên của lực lượng cảnh sát hình sự công an thành phố Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT HÌNH SỰ
1.1 Nhận thức về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
1.1.1 Khái niệm về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
Trong các năm trở lại đây, mạng xã hội trở thành cầu nối giúp mọ ngườigiảm khoảng cách với nhau Bên cạnh những ưu điểm mà mạng xã hội đem lạinhư tạo sự giao lưu, tương tác, kết bạn, bán hàng, thì không thể tránh khỏinhững hạn chế khi sử dụng mạng xã hội Đã có rất nhiều đối tượng lợi dụng sựtin tưởng, cả tin mà lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi ngày càng đa dạnghơn Đối tượng của bọn lừa đảo chủ yếu là những sinh viên đang cần việc làm,người già và cả những người đang cần tìm việc làm
Mặc dù vậy, hiện nay trong BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (nay gọi là
BLHS năm 2015) vẫn chưa có quy định về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội” thay vào đó ta hiểu hành vi phạm tội của tội này là thực hiện
thông qua mạng xã hội Chính vì thế nên chưa có định nghĩa cụ thể về tội lừađảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Vì thế, để đưa ra khái niệm về tội phạmnày, trước hết cần làm rõ khái niệm về mạng xã hội và về tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản
Mạng xã hội là cụm từ đã quá quen thuộc với mọi người, đặc biệt là trongthời đại công nghệ phát triển như ngày nay Mạng xã hội, hay còn có thể biết
đến dưới những tên gọi khác như "cộng đồng ảo" hay "trang hồ sơ", là một trang
web mang mọi người đến với nhau để nói chuyện, chia sẻ ý tưởng và sở thích,hay làm quen với những người bạn mới Dịch vụ mạng xã hội có những tínhnăng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạngđổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tấtyếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này
Trang 12có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theogroup (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (nhưđịa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao,phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán.Căn cứ theo quy định tại khoản 7, Điều 2 Luật An ninh mạng số
24/2018/QH14 quy định: "Tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự.” Theo đó, các hành vi sử dụng mạng xã hội thực hiện
những hành vi thỏa mãn các hành vi cấu thành của một tội phạm được quy địnhtrong BLHS thì sẽ bị coi là phạm tội
Sau đó, BLHS số 100/2015/QH13 cũng có quy định tại Điều 8 về định
nghĩa tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự do người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”
Theo đó, các nhóm tội phạm ở phần “Các tội phạm” trong đó có các tội
xâm phạm sở hữu Khoa học hình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các tội
xâm phạm sở hữu như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân” Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vì vậy khái niệm Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu,đồng thời phải thỏa mãn các các dấu hiệu đặc thù nói riêng
Căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 174 của BLHS năm 2015 thì tội lừađảo chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm sau:
Trang 13Thứ nhất, lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm hại đến quyền sở hữucủa người khác, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội Tính nguy hiểm cho xãhội là dấu hiệu quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Vì vậy, tính chất
và mức độ của thiệt hại là một căn cứ để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi, khi kết hợp với các căn cứ khác nó phản ánh một hành vi là nguy hiểm
"đáng kể" hay "không đáng kể" cho xã hội, tạo cơ sở để nhà làm luật tội phạm hóa
và phi tội phạm hóa Bộ luật hình sự 2015 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản do nó đã xâm hại đến sở hữu của nhà nước, tập thể, cá nhân là quan hệ xãhội được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tàisản của người khác, không những xâm hại đến sở hữu mà còn xâm hại đến sựphát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, cũng như xâmhại đến trật tự an toàn xã hội… Vì vậy, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản của người khác trong luật hình sự là cần thiết, góp phần bảo vệ sở hữu nhànước, sở hữu của tập thể là cá nhân thông qua đó thúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế và trật tự an toàn xã hội
Thứ hai, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nằm trong nhóm tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt, do đó nó cũng có hành vi chiếm đoạt như những tộichiếm đoạt khác Điểm khác biệt là ở chỗ, hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảođược thực hiện bằng thủ đoạn gian dối là cho chủ sở hữu nhầm tưởng tự nguyện
trao tài sản cho người phạm tội Chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực"
Dưới góc độ pháp luật hình sự "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển
dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của
mình hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm".
Như vậy, dựa theo quy định về khái niệm về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt
tài sản qua mạng xã hội được hiểu theo định nghĩa sau đây: “Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội là hành vi cố ý sử dụng không gian mạng,
Trang 14công nghệ thông tin, mạng xã hội nhằm biến chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài khoản của mình hoặc một nhóm người.”
1.1.2 Đặc điểm pháp lý
Xét về hành vi phạm tội, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội có đầy đủ các đặc điểm pháp lý của hành vi chiếm đoạt tài sản Cụ thể nhưsau:
Một là, mặt khách quan của tội phạm:
- Về hành vi khách quan: (1) Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản làdùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó,người bị hại không biết được có hành vi gian dối; (2) Dùng thủ đoạn gian dối làđưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin
đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa ra thông tin giả có thểđược thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viếtthư), bằng hành động, bằng hình ảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khácnhau Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thựchiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đãchiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại vàthường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tộiphạm
Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tộichỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạtbằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành
vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủđoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện
ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà khi phân tích các dấu hiệukhách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số quan điểm cho rằngtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan là hành vi “gian dối” vàhành vi “chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là không có căn cứ Tuy
Trang 15nhiên, điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sảncủa người khác…” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi kháchquan được vì thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu hiện củathủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh
cụ thể khác mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Ví dụ: A nói dối với B là mẹ của A ốm phải đưa vào bệnh viện cấp cứu; Btin và đưa xe máy cho A để A đưa mẹ đi cấp cứu A đem xe máy của B ra tiệmcầm đồ cầm cố lấy 10.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã thuahết Nhưng trong một hoàn cảnh khác, A không nói dối với B là mẹ của mình bịbệnh mà lại nói dối với B là mượn xe chở bạn gái về rồi đem cầm cố lấy tiềnđánh bạc Như vậy việc người phạm tội có hành vi cụ thể nào để đánh lừa đượcngười khác là phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và do người phạm tộilựa chọn sao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà tự nguyện giaotài sản cho người phạm tội
Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối củangười phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếpkhiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội Thủ đoạn giandối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi việc giao tài sản giữangười bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản,nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì khôngphải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối
đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác, ví dụ nhưtội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Để lừa được chủ sở hữu hoặc ngườiquản lý tài sản, người phạm tội sử dụng nhiều cách khác nhau như: bằng lời nóidối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơquan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợp đồng…Thực tế đểxác định hành vi gian dối, thường căn cứ vào các chứng từ, tài liệu, giấy tờ giả(như Hợp đồng mua bán, Giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, giấy vay tiền…) mà
Trang 16đối tượng dùng để tạo niềm tin cho chủ tài sản, làm cho chủ tài sản tin để giaotài sản để xác định
Ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo Ngân hàng, đối tượng phạm tội thường xâydựng phương án kinh doanh khống, làm giả hồ sơ tài sản thế chấp…để được vayvốn sau đó chiếm đoạt mà không có khả năng trả nợ
Đây cũng là đặc điểm để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủđoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng ngườiphạm tội mà trao tài sản cho họ Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừađảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhânlàm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản Người lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạt tài sản bằng thủ đoạn khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù sựchiếm đoạt tài sản có tính chất gian dối Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạttài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giaotài sản Họ nhận được tài sản từ chủ tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng Saukhi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạttài sản ấy Sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nênlạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín (phản bội lòng tin) của chủ tàisản
- Về hậu quả: Hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là làm thiệt hại
về tài sản của người khác Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nếuhành vi gian dối bị phát hiện trước khi người bị lừa dối giao tài sản hoặc người
bị lừa dối không phát hiện ra hành vi gian dối nhưng không thực hiện việc giaotài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thời điểm hoàn thànhtội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi
đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản
lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho mình hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phảinhận
Trang 17Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể
là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bịchiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bịchiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt viphạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc mộttrong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của
Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính củangười bị hại và gia đình họ Nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại
về tài sản (người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm.Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trịlớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay, điện thoại đắt tiền, đồng hồ
có giá trị rất lớn hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệu đồng trở lên, thì dùngười phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, là phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạthoặc chuẩn bị phạm tội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể
- Về mối quan hệ nhân quả: Cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậuquả và hành vi khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau Hậuquả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối Nếu việc thiệt hại
về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách quan để xácđịnh xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh như thếnào Tuy nhiên, ở đây cũng nên lưu ý là cần phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạt tàisản với những tội phạm có dùng thủ đoạn gian dối khác “tự nguyện” giao tài sảncho mình, còn đối với những thủ đoạn gian dối nhưng không phải do người bịhại tự động giao tài sản của mình thì phải căn cứ vào dấu hiệu khách quan đểxác định tội phạm tương ứng, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm giandối nhằm ăn gian, bớt của khách hành hoặc để bán hàng giả nhằm thu lợi bấtchính thì sẽ cấu thành tội lừa dối khách hành hoặc tội buôn bán hàng giả
Trang 18Hai là, mặt khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạttài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân Đốitượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền Việc xâm phạmquyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của ngườikhác sau khi lừa lấy được tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội cótính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâmphạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng làmột điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tộicướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tìnhtiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, ngườiphạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặcgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác
Ba là, mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ýtrực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội,thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả đó xảy
ra Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý củachủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu củangười bị hại Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng cótrước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi
đã có tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng rồi mới có ý định chiếm đoạt tàisản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy trường hợp cụ thể,người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác như tộiLạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thực tế việc chứng minh ý thức chiếmđoạt của người phạm tội thường căn cứ vào tài sản thực có, tình trạng tài chính,
Trang 19nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của người phạm tộinhư thế nào Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tàisản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinhdoanh…, không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạttài sản
Bốn là, mặt chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳngười nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự Theo quy địnhtại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệmhình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phảichịu trách nhiệm hình sự về tội này
Từ những phân tích này, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những điểm hợp lýtrong khái niệm về tội phạm của BLHS và những vấn đề đã được thực tiễn ápdụng pháp luật kiểm nghiệm, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phạm đượcquy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tàisản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật làmcho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm tưởng tự nguyện trao tài sảncho người phạm tội
1.2 Nhận thức về hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trong sinh viên của lực lượng Cảnh sát hình sự
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội của lực lượng cảnh sát hình sự
Khái niệm về phòng ngừa tội phạm được hiểu là việc sử dụng hệ thống cácbiện pháp mang tính xã hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân vàđiều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống
Trang 20xã hội.2 Theo nghĩa hẹp, chỉ tập trung vào việc ngăn cản tội phạm xảy ra, khắcphục loại bỏ nguyên nhân điều kiện Theo nghĩa rộng, ngoài việc ngăn cản tộiphạm xảy ra còn sử dụng các biện pháp để phát hiện xử lý tội phạm kịp thời Phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng vàchiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học Nghiên cứu về phòngngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tụcnghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học Cho nên, phòngngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa làmục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học Hơn nữa, suy cho cùng thì mụcđích của ngành khoa học về tội phạm học để phòng ngừa tội phạm, để cho tộiphạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Vì vậy, trước khi đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tộiphạm học cần phải làm sáng tỏ hai nội dung “tội phạm” với tư cách là đối tượngphòng ngừa và “tội phạm học” với tư cách là hệ thống bao gồm các bộ phậnkhác nhau mà lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thànhtrong đó chính là một bộ phận cấu thành trong đó Đúng như GS TSKH Đào
Trí Úc đã viết “…Tội phạm học có mục đích đưa ra những kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm…”
Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này làtìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và pháttriển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạmtội Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng ngừa tội phạm
đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì trật tự và côngbằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Chủnghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế thừa và phát triểnnhững tư tưởng văn minh và tiến bộ này Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dướichế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân
2 Trang 273, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Tội phạm học, NXB Hồng Đức, TP HồChí Minh
Trang 21và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm…”
Ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm
Cụ thể, riêng trong công tác tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn” Câu nói này của Người đã thể
hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta - lấygiáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt.Yêu cầu là phải ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ngay từ đầu làm cho tộiphạm ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra tội phạm, và để việc chống tội phạm,
xử lý tội phạm chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ Lấy việc tuyên truyền, phổbiến giáo dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu
Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này, về sau trong nội dung chính sách hình
sự của Đảng và Nhà nước ta, phòng ngừa tội phạm được coi là một bộ phậnquan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toànquân, toàn dân, cũng như của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án làlực lượng trung tâm và nòng cốt Cụ thể, ngay từ những ngày đầu mới giànhđược chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung đấu tranh phòngchống các tội phản cách mạng, các tội phạm hình sự nguy hiểm khác để giữ gìn
an ninh trật tự và an toàn xã hội, cũng như bảo vệ các lợi ích của xã hội, củanhân dân…
Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP về tăngcường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới ngày 31/7/1998 đã
nhận định rất xác đáng rằng: “… Tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay vẫn có
xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Cơ cấu thành phần tội phạm có những
Trang 22thay đổi, số thanh niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng, buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em… phạm tội có sử dụng bạo lực, cướp của, giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn; tổ chức, trong đó các gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng gây lo lắng cho toàn xã hội… Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, việc thi hành pháp luật lại chưa nghiêm, sự phối hợp hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nhiều ngành, nhiều cấp chưa coi trọng đúng mức công tác tham gia phòng, chống tội phạm Một bộ phận cán bộ,
kể cả cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật bị tha hóa, ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân; công tác phòng ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư chưa được quan tâm đúng mức…”
Mặc dù vậy, để đưa ra được khái niệm phòng ngừa tội phạm chính xác vềmặt khoa học và phù hợp với thực tiễn, phục vụ công tác đấu tranh phòng vàchống tội phạm cần phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm của khái niệm này
Về cơ bản, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản các nhà khoa học luật gia đều thông qua các nội dung của các đặc điểm cơ bản về khái niệmphòng ngừa tội phạm và tổng hợp lại, chúng tôi có thể chỉ ra như sau:
-Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổchức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháphình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, mà trong đó ngànhkhoa học về tội phạm học phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tộiphạm Dựa trên cơ sở chức năng này, đến lượt mình tội phạm học phải xây dựngđược cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thểphòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệthống các biện pháp phòng ngừa Do đó, nếu thực hiện tốt chức năng này mới cóthể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không chotội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏiđời sống xã hội
Trang 23Thứ hai, phòng ngừa tội phạm chính là mục tiêu cuối cùng và là chức năngquan trọng nhất, vì chỉ khi làm tốt các chức năng mô tả, giải thích và dự báo thìmới có thể tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại
và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được các nguyên nhân và điềukiện phạm tội cũng như những tồn tại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Thứ ba, cũng trên cơ sở những chức năng đã nêu mới có thông tin đầy đủ
để xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tìnhhình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ vàtội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa - phi tội phạmhóa, hình sự hóa - phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hộikhác
Thứ tư, phòng ngừa tội phạm bao gồm tổng thể các biện pháp phòng ngừa:chính trị - tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhànước
Thứ năm, phòng ngừa tội phạm, suy cho cùng, chính là đưa ra những giảipháp mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn trong công tácđấu tranh phòng và chống tội phạm, hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnhvực tư pháp hình sự Hơn nữa, chính những giải pháp của ngành khoa học này làtiền đề rất quan trọng để thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, cũng nhưtrong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Nhà nước, đồngthời đây cũng chính là phương diện xã hội rộng lớn và bao quát hơn của cuộcđấu tranh đối diện và trực diện với tội phạm
Thứ sáu, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan và mỗi công dân trong xã hộikhông phải chịu những hậu quả (thiệt hại) mà tội phạm gây ra, cũng như Nhànước và xã hội không phải mất đi những chi phí không cần thiết để giải quyết vàkhắc phục các hậu quả này
Thứ bảy, trong xã hội không có bất kỳ thành viên nào phải bị điều tra, truy
tố và xét xử Nói một cách khác, không để bất kỳ công dân nào trong xã hội phải
bị xử lý, bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt
Trang 24Thứ tám, tiết kiệm một khoản rất lớn về chi phí, tiền của và sức lực choNhà nước, của xã hội trong việc điều tra, truy tố, xét xử, trong việc khắc phụchậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội, trong công tác cải tạo, giáo dục và thihành án đối với người phạm tội
Và thứ chín, trong trường hợp nếu vẫn có tội phạm xảy ra trong xã hội thìbảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội,giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật đối với trách nhiệm hình
sự và hình phạt của người phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhànước, của xã hội và của công dân
Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp vớithực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua,dưới góc độ tội phạm học, theo chúng tôi khái niệm này có thể được định nghĩanhư sau: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ phápluật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dântrong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vàothủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tốtiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồngthời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xãhội Nói một cách ngắn gọn khác, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấuthành của lý luận tội phạm học, đồng thời là hoạt động của toàn xã hội trongviệc tìm ra các nguyên nhân phát sinh ra tội phạm khắc phục, cũng như để ngănchặn, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội
1.2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội của lực lượng Cảnh sát hình sự
Cơ sở pháp lý là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảngcho hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng CSHS Do vậy, cơ sở pháp lýcủa hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hộicủa lực lượng CSHS là:
Trang 25Một là, Bộ luật Hình sự: Bộ luật Hình sự được ban hành nhằm xác địnhnhững hành vi mà xã hội đó không muốn xảy ra và đề ra những hình phạt riêngbiệt, nặng nề hơn bình thường nếu thành viên xã hội đó phạm vào Nội dung của
Bộ luật hình sự quy định về các hành vi vi phạm tương ứng với các mức xử lý viphạm nhằm răn đe, ngăn ngừa tội phạm Chính vì vậy, Bộ luật Hình sự là cơ sởpháp lý trong hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội
Tuy BLHS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về tội phạm lừa đảo chiếmđoạt tài sản qua mạng xã hội nhưng nó được coi là một hành vi phạm tội màmục đích cuối cùng là chiếm đoạt tài sản của người khác Do đó, về kết quả củahành vi phạm tội tương tự như tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174,BLHS năm 2015) Như vậy, trong công tác phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếmđoạt tài sản qua mạng xã hội của lực lượng CSHS cần căn cứ theo quy định củaBLHS để xây dựng các nội dung phòng ngừa và biện pháp phòng ngừa tội phạmmột cách hiệu quả
Hai là, các văn bản dưới luật quy định về các hành vi lừa đảo chiếm đoạttài sản qua mạng xã hội Phòng ngừa tội phạm nhằm mục đích kìm chế sự giatăng, hạn chế dần mức độ và tính chất nghiêm trọng của tội phạm và ngăn ngừatội phạm xảy ra Theo đó, cơ sở của phòng ngừa tội phạm có các mức độ khácnhau từ kìm chế sự gia tăng của tội phạm, hạn chế dần mức độ và tính chấtnghiêm trọng của tội phạm đến ngăn ngừa tội phạm xảy ra Để có thể đạt đượcmục đích phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải đưa ra được hệ thống các biện phápphòng ngừa phù hợp với thực trạng và diễn biến của tội phạm và có tính khả thicũng như phải tể chức triển khai thực hiện được các biện pháp phòng ngừa nàymột cách đồng bộ và hợp lý Các biện pháp phòng ngừa tội phạm phải được xâydựng trên cơ sở khảo sát, đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình tội phạm đã xảy
ra, dự báo tình hình tội phạm sẽ xảy ra và xuất phát từ các giải thích về nguyênnhân của tội phạm
Trang 26Ngoài BLHS, các văn bản dưới luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụngcác điều luật về phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội cụ thể hơn Vì thế, lực lược CSHS căn cứ theo quy định của các văn bảnnày, xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm cụ thể hơn Vì thế, các biệnpháp phòng ngừa tội phạm được xây dựng đã xác định đúng nguyên nhân củatội phạm và có khả năng ngăn ngừa sự hình thành cũng như loại trừ dần nguyênnhân của tội phạm Đồng thời, các biện pháp phòng ngừa tội phạm được đưa raphù hợp với điều kiện thực tế cho phép để đảm bảo tính khả thi Khi đề ra cácbiện pháp phòng ngừa tội phạm không những phải tính đến tính hiệu quả mà cònphải tính cả đến tính khả thi của biện pháp
Như vậy, các biện pháp phòng ngừa tội phạm đã hướng tới những người cónguy cơ phạm tội như người đã phạm tội, người đã có hành vi vi phạm , hướngtới những người hoặc tổ chức có khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm cũngnhư phải hướng tới khả năng phát sinh “tình huống tiêu cực” của môi trường
Do vậy, lực lượng CSHS thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm trên cơ
sở áp dụng các văn bản dưới luật tạo nên sự đồng bộ cho hệ thống pháp luật
Có thể nói hoạt động phòng ngừa tội phạm là hoạt động công và hoạt động
tư, gắn liền và có sự thay đổi linh hoạt cùng với quá trình phát triển của xã hộinói chung Do tính hệ thống, tính liên tục và tính thay đổi linh hoạt như vậy màkhó có thể liệt kê được một cách đầy đủ các biện pháp phòng ngừa tội phạm cụthể mà chỉ có thể khái quát các nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm và cácđịnh hướng phòng ngừa tội phạm
1.2.3 Nội dung và biện pháp phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội của lực lượng Cảnh sát hình sự
1.2.3.1 Nội dung phòng ngừa
Với mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sảnqua dụng mạng xã hội, từ đó hạn chế, từng bước loại trừ tội phạm này ra khỏi
Trang 27đời sống xã hội Nội dung phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội được xác định ở các tiêu chí sau đây:
- Nắm tình hình, xác định đúng thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất,phương thức, thủ đoạn của tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội Việc nghiên cứu nắm tình hình, xác định rõ thực trạng, diễn biến,
cơ cấu, tính chất, phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
từ mạng xã hội là một trong những yêu cầu quan trọng để xác định nguyên nhân,điều kiện tội phạm, từ đó phân tích, xem xét nhằm hiểu rõ bản chất của loại tộiphạm này Dựa vào những thông tin này, các chủ thể phòng ngừa căn cứ vàochức năng, nhiệm vụ của mình để áp dụng các phương tiện, biện pháp phòngngừa sát hợp Đây là một nội dung quan trọng và xuyên suốt đối với lực lượngCảnh sát hình sự trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng
xã hội
- Xác định đúng nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản từ mạng xã hội Sự phát sinh, phát triển của tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản qua mạng xã hội bắt nguồn từ những nguyên nhân, điều kiện riêng có,đan xen cùng quá trình phát triển kinh tế xã hội và chịu sự tác động của nền kinh
tế thị trường Nghiên cứu đầy đủ, chỉ rõ được nguyên nhân, điều kiện, phát hiện
và đúc kết quy luật phát sinh, phát triển của tội phạm này là yêu cầu cấp bách.Bởi chỉ như vậy, các biện pháp phòng ngừa về mặt xã hội cũng như các biệnpháp nghiệp vụ của lực lượng CSHS mới thực sự trở nên hiệu quả
- Xây dựng kế hoạch, phương pháp phòng ngừa đối với tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Lực lượng CSHS cần xây dựng kế hoạch vàphương án phòng ngừa một cách cụ thể đi cùng với mục tiêu ngắn hạn và dàihạn để ngăn chặn, loại bỏ những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Phân công, phân cấp, phối kết hợp với các
cơ quan có thẩm quyền xây dựng mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháptrong hoạt động phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội cần có quy trình chặt chẽ, tránh chồng chéo trong tổ chức thực hiện Lực
Trang 28lượng CSHS cần thường xuyên tổng kết, giao ban, trao đổi rút kinh nghiệm,đánh giá những mặt tồn tại, ưu điểm, khuyết điểm cùng nguyên nhân, chủ độngphát hiện, loại bỏ những sơ hở trong hoạt động phòng ngừa tội phạm này.
- Thực hiện các biện pháp ngăn chặn, loại bỏ những nguyên nhân, điều kiệncủa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Những nguyên nhân
và điều kiện của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội luôn thayđổi, vận động Chúng có sự tác động qua lại, có thể chuyển hóa với nhau hay bịtriệt tiêu bởi các yếu tố tích cực trong xã hội Do đó biện pháp hữu hiệu nhất đểlực lượng chức năng có thể loại bỏ tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội ra khỏi đời sống xã hội là đấu tranh ngăn chặn và xóa bỏ cácnguyên nhân, điều kiện của tình trạng này Trách nhiệm của lực lượng CSHS làthông qua các hoạt động nghiệp vụ thực hiện các biện pháp ngăn chặn, xóa bỏnhững nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội nhằm giảm thiểu hậu quả, tác hại của các vụ phạm tội
1.2.3.2 Biện pháp phòng ngừa
- Biện pháp phòng ngừa xã hội:
+ Quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, thực hiện các chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tácphòng, chống tội phạm trong tình hình mới Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạocủa các cấp ủy, tổ chức đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước,phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòngngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Xác định công tácphòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội là nhiệm vụquan trọng, cấp bách, thường xuyên và lâu dài, phải thực hiện mọi nơi, mọi lúc,mọi địa bàn, lĩnh vực, có trọng tâm, trọng điểm; lấy “chủ động phòng ngừa” từsớm, từ xa, từ cơ sở là chính, lấy cơ sở là địa bàn trọng tâm tập trung các biệnpháp phòng, chống tội phạm Kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa vớitích cực phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm,không có ngoại lệ với những hành vi phạm tội
Trang 29+ Lực lượng CSHS cần thực hiện tốt công tác nắm tình hình, kịp thời pháthiện vấn đề trên các trang mạng xã hội (những trang mạng được nhiều người sửdụng như: Facebook, Twitter, Zalo, Instagram, …) có dấu hiệu bất thường nhằmxác định phương thức, thủ đoạn của những đối tượng có ý định hoặc đang trongquá trình thực hiện hành vi phạm tội Ví dụ: Giả mạo trang web ngân hàngthông báo trúng thưởng để chiếm quyền kiểm soát tài khoản ngân hàng của nạnnhân, giả mạo cơ quan chức năng gửi tin nhắn cho nạn nhân đòi đến cơ quannộp tiền phạt, …
+ Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tàisản qua mạng xã hội Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng, tiếptục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng,phong phú, phản ánh khách quan, toàn diện công tác phòng, chống tội phạm.Giám sát và thực hiện các kiến nghị, khiếu nại của người dân ở cơ sở, góp phầnphòng ngừa và giảm thiểu các yếu tố phát sinh tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tàisản qua mạng xã hội
+ Phối hợp, chỉ đạo các đơn vị trong lực lượng CSHS nâng cao chất lượngcông tác nghiệp vụ cơ bản phục vụ công tác phòng chống tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Tiếp tục mở rộng mối quan hệ phối hợpgiữa lực lượng CSHS với các công ty CNTT, mạng viễn thông
+ Tuyên truyền, hướng dẫn, vân động quần chúng nhân dân tham giaphòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Với mụcđích làm cho người dân nhận thấy quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trongtham gia phòng ngừa, tố giác tội phạm, biện pháp tuyên truyền, vận động quầnchúng giúp lực lượng CSHS kịp thời tiếp nhận thông tin về các đối tượng phạmtội; tố giác những đối tượng có ý định phạm tội, nhanh chóng truy bắt đối tượng
đã thực hiện hành vi trái pháp luật Lực lượng CSHS phối hợp với các lực lượngchức năng, các cơ quan, đơn vị sử dụng những phương tiện thông tin đại chúngtiến hành tuyên truyền, phòng chống tội phạm thông qua những bài viết, nhữngvideo giúp người dân trang bị kiến thức cần thiết về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt
Trang 30tài sản qua mạng xã hội Nội dung tuyên truyền về những phương thức, thủ đoạnhoạt động của tội phạm; chỉ ra những sơ hở, thiếu sót trong bảo mật tài khoản cánhân.
- Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ:
+ Công tác điều tra cơ bản: là một trong những biện pháp quan trọng củalực lượng CSHS góp phần quan trọng trong hoạt động phòng ngừa tội phạm sửdụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản Công tác điều tra cơ bản đượclực lượng CSHS sử dụng vào hoạt động phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếmđoạt tài sản qua mạng xã hội là hoạt động điều tra, nghiên cứu, thu thập thôngtin, tài liệu về có liên quan ở địa bàn nhằm phục vụ công tác phòng chống tộiphạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Điều tra cơ bản giúp cho lựclượng CSHS chủ động nắm tình hình có liên quan đến công tác phòng chống tộiphạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội; làm cơ sở quan trọng trongviệc xác định những hệ loại đối tượng, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, phức tạp vềtội phạm này, từ đó xây dựng và triển khai các chủ trương chiến lược, cácchương trình, kế hoạch, biện pháp công tác; phát hiện sự việc, hiện tượng, conngười có liên quan đến loại tội phạm này một cách quy củ, phục vụ thực hiệncác yêu cầu nghiệp vụ của lực lượng CSHS trọng phòng ngừa tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
+ Công tác sưu tra: Đây là quá trình điều tra nghiên cứu về những ngườiđang có điều kiện, khả năng phạm tội hoặc có biểu hiện nghi vấn phạm tội sửdụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo chức năng, nhiệm vụ củalực lượng CSHS Đây là công tác nghiệp vụ cơ bản trong phòng ngừa, phát hiện,đấu tranh PCTP và là khâu mở đầu, quan trọng trong hoạt động trinh sát nhằmmục đích nắm tình hình diễn biến hoạt động của các loại đối tượng, phát hiện tộiphạm để chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn Công tác sưu tra giúp tìm
ra nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm; những sơ hở, thiếu xót trongquản lý sử dụng mạng xã hội, đồng thời đề xuất những biện pháp góp phần nângcao hiệu quả các mặt công tác quản lý nhà nước về sử dụng mạng xã hội
Trang 31+ Công tác xác minh hiềm nghi: Cùng với công tác sưu tra, công tác xácminh hiềm nghi là một trong những biện pháp nghiệp vụ cơ bản quan trọng củalực lượng CSND trong tổ chức các hoạt động phòng ngừa tội phạm sử dụngCNC nói chung, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội nói riêng.Công tác xác minh hiềm nghi trong đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội là hoạt động thu thập, kiểm tra, xác minhlàm rõ bản chất của hiềm nghi và đi đến kết luận có hay không có hoạt động lừađảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội nhằm kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn,đấu tranh chống tội phạm sử dụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.+ Công tác đấu tranh chuyên án: Công tác tổ chức đấu tranh chuyên án làmột hình thức tổ chức hoạt động nghiệp vụ đặc biệt quan trọng của lực lượngCSHS có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, phối hợp chặt chẽ nhiều lực lượng, sửdụng tổng hợp, đồng bộ nhiều biện pháp, phương tiện kỹ thuật, chiến thuậtnghiệp vụ để thu thập thông tin, tài liệu nhằm điều tra, xác minh, ngăn chặn cáchành vi phạm tội, vi phạm pháp luật có liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếmđoạt tài sản qua mạng xã hội Như vậy, có thể xác định đấu tranh chuyên án làbước phát triển, giai đoạn quan trọng của công tác điều tra trinh sát, giải quyếtnhững phần việc mà các hoạt động điều tra khác có khó khăn hoặc không giảiquyết được Tổ chức phát hiện tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội là một hướng của hoạt động phòng ngừa, trong điều kiện chưa thể loại trừhết nguyên nhân, điều kiện của tội phạm thì bằng mọi cách để kịp thời phát hiện,ngăn chặn để chúng không thể gây ra hậu quả xấu cho xã hội Tổ chức đấu tranhchuyên án nhằm ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để chủ động phát hiện, tác động đến tưtưởng, vô hiệu hóa khả năng và xóa bỏ điều kiện cụ thể cho việc thực hiện tộiphạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội, không để tội phạm xảy rahoặc không gây ra hậu quả xấu cho xã hội
+ Công tác xây dựng, sử dụng cộng tác viên bí mật: Cộng tác viên bí mật làmột bộ phận tất yếu không thể thiếu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
Trang 32phạm, đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Bằngcách khai thác triệt để nguồn thông tin thu thập được từ mạng lưới cộng tác viên
bí mật, cụ thể trong việc xây dựng, sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật được bố trítheo từng địa bàn, lĩnh vực mà lực lượng CSHS đã xây dựng, triển khai hiệu quảcác biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội
+ Sử dụng các biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ: Những biện pháp có tính chấtchuyên môn cao được lực lượng CSHS sử dụng để tiến hành hoạt động phòngngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Các chủ thể chuyêntrách trực tiếp sử dụng các công cụ phương tiện nghiệp vụ chuyên biệt để truytìm dấu vết trên không gian mạng, thu thập thông tin về tội phạm, kiểm tra bímật máy tính, hòm thư, tài khoản cá nhân, sử dụng hệ thống bẻ khóa mật khẩuđiện tử, hệ thống thu thập, lưu trữ, phân tích chứng cứ điện tử, thiết bị đọc thôngtin tín dụng, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, Big Data trong việc xử lý, phântích dữ liệu trên không gian số,… ngăn chặn hành vi phạm tội của đối tượnghoặc phối hợp với các lực lượng chức năng khác trong và ngoài ngành Công an
để sử dụng các phương tiện kĩ thuật nghiệp vụ nhằm kịp thời phát hiện, ngănchặn hành vi phạm tội của các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội Tóm lại, nhằm phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng
xã hội, lực lượng CSHS cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo, kết hợp nhiều biệnpháp với nhau nâng cao hiệu quả cộng tác phòng chống, ngăn chặn tội phạmnày, từ đó kịp thời phát hiện, nhanh chóng điều tra, xử lý, góp phần hạn chế hậuquả mà nó để lại đối với đời sống xã hội
1.2.4 Mối quan hệ phối hợp trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
1.2.4.1 Phối hợp trong ngành CAND
Việc phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hộiđược thực hiện bởi các cơ quan chuyên trách trong CAND (CSHS) và có sự
Trang 33phối hợp giữa CSHS và các cơ quan khác cùng ngành CAND như: Cụ An ninhmạng, lực lượng cảnh sát hình sự, cảnh sát phòng chống tội phạm kinh tế,
Về nội dung phối hợp:
- Trên cơ sở tình hình thực tiễn và định hướng trong tương lai góp phần ngănngừa tội phạm nói chung và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xãhội nói riêng lực lượng CSHS cần phối hợp với các cơ quan thuộc CAND thựchiện tốt nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm thông qua việc ban hành văn bản phápluật điều chỉnh các quan hệ xã hội
- CSHS và các cơ quan thuộc CAND xây dựng nhiều phương án và áp dụngcách thức khác nhau trong việc nâng cao nhận thức của người dân trong việcphòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
Về cách thức phối hợp:
- CSHS phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội thuộc CAND là nòng cốt trong các hoạt động phối hợp giữa các cơquan thuộc CAND trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội trên phạm vi toàn quốc Vì vậy, các cơ quannày tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, xây dựng và ban hành các vănbản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội, hạn chế các hành vi viphạm pháp luật về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
- Cơ quan CSHS phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tàisản qua mạng xã hội có trách nhiệm thông báo ngay khi có thông tin, tài liệu vềhoạt động của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội cho các cơquan khác biết để cùng phối hợp giải quyết
- CSHS phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quamạng xã hội cùng phối hợp với các cơ quan trong CAND xây dựng phương ántuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của người dân cả nước nhằm giúp
họ cảnh giác, giảm thiểu những hậu quả do hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảnqua mạng xã hội có thể gây ra
1.2.4.2 Phối hợp ngoài ngành CAND
Trang 34Quá trình đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung không phải làtrách nhiệm riêng của bất kỳ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào mà là cần có sựphối hợp chặt chẽ của mọi người Vì vậy, trong hoạt động phòng ngừa tội phạmlừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội có sự phới hợp của lực lượng CSHS
và các cơ quan, tổ chức khác như: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cácCục, chi cục,
Về nội dung phối hợp:
- Thực hiện công tác thống kê, rà soát, cung cấp, trao đổi thông tin về phòngngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội, triển khai thực hiệnđồng bộ, kịp thời, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa hành vi lừa đảo chiếmđoạt tài sản qua mạng xã hội
- Tiến hành điều tra, xử lý nghiêm tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vựclừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội
Về cách thức phối hợp:
Công tác phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong trao đổi, xử lý, xác minh thôngtin, xác lập, đấu tranh chuyên án chung đã có nhiều chuyển biến tích cực và pháthuy hiệu quả; đã thường xuyên hỗ trợ tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn nghiệp
vụ, sử dụng các phương tiện kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực, kỹ năngchiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ của từng lực lượng; việc mở rộng mối quan hệphối hợp với lực lượng chức năng các quốc gia trên thế giới được tăng cường… Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội diễn biếnngày càng phức tạp, số lượng tội phạm có chiều hướng gia tăng mạnh trongnhững năm gần đây nên công tác phối hợp giữa các lực lượng bộc lộ nhiều khókhăn, vướng mắc Công tác phối hợp thực hiện các biện pháp nghiệp vụ, điềutra, xử lý tội phạm có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức
- Ở một số vụ án, các lực lượng phát hiện, bắt giữ trước khi chuyển giao cho cơquan điều tra theo thẩm quyền thiếu sự phối hợp từ đầu, gây khó khăn cho việcđiều tra mở rộng, bắt giữ đối tượng liên quan Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộmáy của mỗi lực lượng có sự khác nhau và thay đổi qua từng giai đoạn, trong
Trang 35khi đó, hành lang pháp lý, nhất là cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chưa phùhợp, còn chồng chéo, trùng dẫm, chậm được bổ sung, hoàn thiện
- Cơ quan chuyên trách phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản qua mạng xã hội thuộc CAND và các cơ quan chuyên trách khác hoạtđộng phối hợp lẫn nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng
cơ quan theo quy định của pháp luật; bảo đảm sự đoàn kết, hiệp đồng, hỗ trợ,không gây cản trở lẫn nhau Mỗi khu vực, địa bàn do một cơ quan chịu tráchnhiệm chính, chủ trì trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Việc trao đổi thông tin tội phạm, thực hiệncác biện pháp nghiệp vụ bảo đảm kịp thời, chính xác, đúng quy định bảo vệ bímật nhà nước và biện pháp nghiệp vụ của từng cơ quan
- Phối hợp tổ chức lực lượng, phương tiện áp dụng các biện pháp nghiệp vụ đểphòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội;
tư vấn, trao đổi nghiệp vụ chuyên môn để xử lý vụ án, vụ việc theo yêu cầu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội đang diễn ra hàngngày với tần số ngày càng nhiều và thủ đoạn tinh vi hơn Vì thế, biện phápphòng ngừa tội phạm cần được quan tâm xây dựng và áp dụng trong thực tiễn.Thông qua việc người dùng mạng xã hội, nhiều tội phạm đã tạo dựng lòng tin sửdụng nhiều phương thức khác nhau để chiếm đoạt tài sản người khác Hiện nay,
có rất nhiều người trở thành người bị hại, có thể kể đến như: người lớn tuổi, sinhviên, người đang có nhu cầu tìm việc làm,
Các biện pháp ngăn ngừa tội phạm này được đặt ra là rất cần thiết, thôngqua việc phòng ngừa ta có thể hiểu thêm về khái niệm, đặc điểm, các căn cứpháp lý, nội dung, các biện pháp phòng ngừa cụ thể và mối quan hệ phối hợptrong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Các nộidung trên được làm rõ góp phần thực hiện tốt hơn về công tác phòng ngừa vàgiảm thiểu số lượng người bị hại trong tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua
Trang 36mạng xã hội Đặc biệt, hiện nay sinh viên là đối tượng đang bị lừa đảo chiếmđoạt tài sản với tần số ngày càng nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu vềtội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội đối với sinh viên là vấn đềcấp thiết Do vậy, nội dung chương 2 sẽ làm rõ hơn về tình hình thực tiễn vàthực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội của sinh viên tại
Hà Nội và các biện pháp phòng ngừa tội phạm này của lực lượng cảnh sát hình
sự công an thành phố Hà Nội
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA MẠNG XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT HÌNH SỰ CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tình hình đặc điểm có liên quan đến tình trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của sinh viên qua mạng xã hội trên địa bàn thành phố
Hà Nội
2.1.1 Tình hình sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội tính đến hết năm 2021 trên địa bàn thành phố có đến
133 trường Cao đẳng, Đại học lớn, nhỏ Trong đó bao gồm: 8 trường đại họcthuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, 38 các trường đại học trực thuộc các cơ quanlãnh đạo Nhà nước, 35 học viện, 18 các trường Đại học ngoài công lập và 34trường Cao đẳng Như vậy, có thể thấy số lượng các trường cao đẳng, đại học tạithành phố Hà Nội rất lớn Chính vì vậy nên số lượng sinh viên của các trườngcũng khá cao, chẳng hạn như Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đào tạo 41chương trình đại học, 11 chương trình thạc sĩ, 3 chương trình tiến sĩ Quy môđào tạo giữ ổn định từ 30.000 – 32.000 sinh viên.3 Trường Đại học Luật Hà Nộigồm 4 khóa sinh viên chính quy (mỗi khóa khoảng 2000 - 2500 sinh viên), cáckhoa sau đại học, khoa vừa làm vừa học, Nhìn chung, số lượng sinh viên củacác trường đại học, cao đẳng hiện nay đang sinh sống và học tập tại thành phố
Hà Nội là con số rất lớn
Sinh viên hiện nay việc sử dụng mạng xã hội chiếm tỷ lệ lớn, mục đíchchung khi sử dụng là nhằm trao đổi thông tin, giao lưu học hỏi, hỗ trợ học tập, Bên cạnh đó, nhiều bạn sinh viên còn sử dụng mạng xã hội như một công cụ để
3 nghiep-ha-noi-chuyen-doi-so-huong-toi-mo-hinh-dai-hoc-thong-minh.html
Trang 38https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nguon-nhan-luc/truong-dai-hoc-cong-tạo thu nhập hoặc tìm việc làm thêm Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực
mà mạng xã hội lại đem thì vẫn tồn tại những điểm hạn chế như:
Một là, sử dụng mạng xã hội chiếm lượng lớn thời gian học sẽ khiến sinhviên ngày càng thụ động trong học tập, ít nghiên cứu tài liệu, sách vở Điều nàykhiến phần lớn sinh viên sẽ dần xao nhãng những mục tiêu trong học tập vàcuộc sống Thay vì cố gắng học tập, rèn luyện bản thân để hiện thực hóa ước mơbằng cách trở thành một người thực sự tài năng, giỏi giang thì phần lớn sinhviên có xu hướng phấn đấu trở thành ngôi sao trên Internet
Hai là, sử dụng mạng xã hội ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo Lướt cáctrang mạng xã hội sẽ làm tê liệt tâm trí của con người, tương tự như xem truyềnhình một cách vô thức
Ba là, sử dụng mạng xã hội sẽ thiếu sự riêng tư Các trang mạng xã hộivẫn đang âm thầm lưu lại (và bán) thông tin cá nhân Chẳng hạn như, ngay cả cơquan tình báo Mỹ cũng đang dính vào vụ lùm xùm liên quan đến việc cho phépchính phủ truy cập vào những dữ liệu cá nhân bao gồm email, các cuộc gọiSkype… Điều này rõ ràng cho thấy rằng sự bảo mật và riêng tư trên mạng xã hộiđang bị xâm hại
Bốn là, gián tiếp gây ra hiện tượng mất tập trung trong học tập, làm việc,giảm thời gian và chất lượng giấc ngủ, ảnh hưởng đến sự phát triển của thể chất
và tinh thần … Việc sử dụng mạng xã hội rất tốn thời gian và gây xao lãng đếnnhững việc khác Thay vào đó, bạn sẽ chỉ tập trung vào những lượt like, lượtshare, lượt bình luận ảo trên mạng xã hội Đặc biệt, nó sẽ góp phần tăng nguy cơmắc bệnh trầm cảm, một căn bệnh nguy hiểm vẫn chưa có phương pháp điều trịhiệu quả
Như vậy, mạng xã hội không chỉ là nơi tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sảnhoạt động mà nó còn ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và cuộc sống của sinhviên Vì vậy, cần phải có các giải pháp nhằm hạn chế việc lạm dụng việc sửdụng mạng xã hội và ngăn ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hộinói chung và đối với đối tượng sinh viên nói riêng
Trang 392.1.2 Tình hình hình an ninh trật tự xã hội có liên quan
Trong Quý III và quý IV năm 2021, tình hình an ninh trật tự tiếp tục diễnbiến phức tạp, khó lường, dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh mẽ trở lại, ảnhhưởng hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đời sống, an sinh xã hội Song bám sát chỉđạo của Bộ Công an, Thành ủy, UBND Thành phố, Công an Thành phố Hà Nội
nỗ lực, chủ động triển khai các biện pháp, giải pháp sáng tạo, hiệu quả trongcông tác đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội của Thủ đô.4
Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành những hoạt động nhằm phòng ngừatội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội như: Đảm bảo tuyệt đối anninh, an toàn 280 lượt kỳ, cuộc trên địa bàn Thành phố Trong quý III/2021,toàn Thành phố xảy ra 748 vụ phạm tội về trật tự xã hội, giảm 386 vụ = 34% sovới cùng kỳ năm 2020 Trong đó, phạm pháp hình sự xảy ra 638 vụ, giảm 302
vụ =32,1%, án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng giảm 26 vụ =36,6%.Phát hiện 05 vụ PPHS liên quan đến "tín dụng đen", giảm 03 vụ = 37,5% so vớicùng kỳ năm 2020 Công an Thành phố đã tham mưu UBND Thành phố thànhlập các chốt kiểm soát người, phương tiện ra, vào Thành phố tại các tuyếnđường lớn, nhỏ giáp ranh tỉnh ngoài, được triển khai từ ngày 14/7 do Công anThành phố Hà Nội chủ trì Chỉ đạo Công an cấp huyện tham mưu UBND cấp
huyện lập các chốt phòng chống dịch “ngay từ gốc” ở đầu ngõ, ngách, thôn,
xóm nhằm kiểm soát chặt chẽ người ra, vào, đồng thời, thành lập các tổ tuần tra,kiểm soát lưu động khép kín địa bàn, kịp thời phát hiện, trấn áp các loại tộiphạm và xử phạt các hành vi vi phạm quy định phòng, chống dịch
Thực hiện chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố, Công an Thành phố
đã tham mưu triển khai các phân hệ phần mềm trên nền tảng Cơ sở dữ liệu Quốcgia về dân cư phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19; triển khai các biện
pháp công tác công an đảm bảo thực hiện nhiệm vụ kép “vừa phòng chống dịch Covid-19, vừa bảo đảm an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội”; triển
4 https://congan.hanoi.gov.vn/tin-tuc/cong-an-ha-noi-dam-bao-tot-tinh-hinh-12124
Trang 40khai các biện phương án phòng chống dịch Covid-19 trong nội bộ, bảo vệ sứckhỏe cán bộ chiến sỹ, bảo đảm quân số thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ côngtác
Công an Thành phố, công an cấp phường và các phòng nghiệp vụ của Công
an Thành phố đã đánh giá tình hình, kết quả công tác an ninh trật tự, trật tự anninh xã hội, phòng chống tội phạm, phòng chống dịch bệnh và lĩnh vực đượcphân công phụ trách; đồng thời làm rõ hơn những tồn tại, hạn chế và nguyênnhân, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặtcông tác
Tác động của dịch Covid-19 dẫn đến hoạt động thanh toán, giao dịch, giaolưu qua mạng xã hội nảy nở Đại dịch Covid-19 cùng những yêu cầu về giãncách, phong tỏa, hạn chế tiếp xúc đã làm doanh nghiệp và người tiêu dùng quantâm hơn đến mua sắm trực tuyến Tại Việt Nam, theo Sách trắng Thương mạiđiện tử năm 2021, tỷ lệ người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến đãtăng từ 77% trong năm 2019 lên 88% trong năm 2020 Như vậy, có thể thấy, đạidịch Covid-19 cùng những yêu cầu về giãn cách, phong tỏa, hạn chế tiếp xúc đãlàm doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm hơn đến mua sắm trực tuyến.Tuy nhiên, bên cạnh mặt lợi, sự gia tăng mua hàng qua mạng trong thời kỳ dịchbệnh cũng có nguy cơ mang lại những tác động tiêu cực cho người tiêu dùng và
là phương thức để các đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảnqua mạng xã hội như: hàng hóa không giống như quảng cáo, hàng không ápdụng đồng kiểm, hàng giao chậm, đã thanh toán nhưng không giao hàng, bảomật thông tin cá nhân…
2.1.3 Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ mạng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội được xác định là địa bàn có nhiều nguyên nhân, điều kiện để cácđối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (LĐCĐTS) lợi dụng hoạt động
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong điều kiện công tác quản lý nhà