1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Văn Hóa Dân Gian - Chủ Đề - Hệ Thống Các Chùa Khu Vực Hà Nội Và Phụ Cận Đền Đô – Đình Bảng – Chùa Tiêu Sơn

26 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống các chùa khu vực Hà Nội và phụ cận đền Đô – Đình Bảng – Chùa Tiêu Sơn
Tác giả Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Thị Bé, Phạm Anh Bình, Phan Thị Hồng Nhung, Hoàng Thị Kim Huệ, Nguyễn Thị Như
Trường học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Dân Gian
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA DU LỊCH *** HỌC PHẦN VĂN HÓA DÂN GIAN CHỦ ĐỀ HỆ THỐNG CÁC CHÙA KHU VỰC HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN ĐỀN ĐÔ – ĐÌNH BẢNG – CHÙA TIÊU SƠN BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC STT Họ và tên Công việc[.]

Trang 1

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA DU LỊCH

-*** -HỌC PHẦN VĂN HÓA DÂN GIAN

CHỦ ĐỀ:

HỆ THỐNG CÁC CHÙA KHU VỰC HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN

ĐỀN ĐÔ – ĐÌNH BẢNG – CHÙA TIÊU SƠN

Trang 2

BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC

1 Nguyễn Thị Anh Sơ đồ tượng phật, các giá trị văn hóa đặc

trưng của đền Đô

2 Nguyễn Thị Bé Sơ đồ đền Đô, lộ trình từ Hà Nội tới đền Đô

Trang 3

I ĐỀN ĐÔ I.1 Lộ trình

I.1.1 ĐỊA ĐIỂM

Đền Đô thuộc xóm Thượng, làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, thành phốBắc Ninh

I.1.2 ĐƯỜNG ĐI

Khoảng cách từ Hà Nội tới Đền Đô khoảng 20 km về phía Bắc, đi theođường quốc lộ 1A, qua cầu Đuống khoảng 5km là tới địa phận thành phố BắcNinh Hoặc có thể đi theo đường 1B (đường cao tốc), thuộc địa phận làng ĐìnhBảng, thị xã Từ Sơn Phương tiện di chuyển: từ Hà Nội tới Từ Sơn có cungđường bằng dễ đi, du khách có thể di chuyển bằng xe máy hoặc xe ô tô để tới

có 3 tuyến xe bus đi qua đền Đô đó là tuyến số 10 Long Biên – Từ Sơn, tuyến

54 Long Biên - Bắc Ninh và tuyến 203 Giáp Bát – Bắc Giang, chỉ cần đi thằng

từ cầu Chương Dương Từ điểm dừng xe bus cách đền Đô 1km hoặc đi đường1B theo lộ trình từ cầu Thanh Trì đi thẳng tới Cầu Hồ, vòng ngược lại chạythẳng theo hướng Bắc Ninh – Hà Nội thấy biển chỉ dẫn đền Đô

I.2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG

I.2.1 LỊCH SỬ

Đền Đô hay còn có tên gọi khác là Cổ Pháp hay Lý Bát Đế, đền được xâydựng vào thế kỷ 11 (1030) nay thuộc Đình Bảng, Từ Sơn thành phố Bắc Ninh.Theo Thiền Sư Lý Vạn Hạnh thì khu đất này là nơi hội tụ thiên khí Khi vua LýCông Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương vào tháng 2 năm Canh Tuất(1010), tại đây, nhà vua đã dừng thuyền rồng để đi thăm các bậc kỳ lão, yết lăngThái Hậu và đo vài mươi dặm đất làm “Sơn Lăng cấm địa” Dân làng ĐìnhBảng đã xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua Đình đượcxây trên nền đất

Trang 4

Khi vua Lý Công Uẩn băng hà (1028), Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vuacha, Ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn đây làm nơi thờ tự vua cha.Cũng từ đó đền trở thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng hà.

Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, đền Đô đều được quan tâm tu sửa và

mở rộng, đặc biệt, đền được mở rộng nhất vào thế kỷ 17 (1602) với quy mô của

21 hạng mục công trình Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong cách cung đình

và phong cách dân gian, tổng thể kiến trúc được kết hợp hài hoà, chạm khắctinh xảo, thể hiện một công trình kiến trúc bề thế vững chắc nhưng không cứngnhắc trong khung cảnh thiên nhiên

Đền Lý Bát Đế thuộc xóm Thượng, làng (xã) Đình Bảng (nay là phườngĐình Bảng), thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đền nằm cách thủ đô Hà Nội gần

20 km về phía Bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng ĐìnhBảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nên còn gọi là đền Cổ Pháp

là Cổ Pháp Điện - Đền Lý Bát Đế

Trang 5

Năm 1952, đền Đô bị giặc Pháp chiếm và phá huỷ hoàn toàn Từ năm

1989 trở lại đây, Đền Đô đã từng bước được khôi phục, tìm lại dáng vẻ xưa củađợt trùng tu, mở rộng đền năm 1602 với các hạng mục công trình như: Nhà Hậucung (80m²), nhà chuyền Bồng (80m²), nhà Kiệu (130m²), nhà để Ngựa(130m²), Thuỷ đình, Phương đình

Thủy Đình trên hồ Bán Nguyệt

I.2.2 NÉT ĐẶC TRƯNG

Đền Đô là nơi thờ bài vị của 8 vị vua thời Lý Đền Lý Bát Đế rộng31.250 m², với trên 20 hạng mục công trình, chia thành 2 khu vực: nội thành vàngoại thành Tất cả đều được xây dựng công phu, đắp vẽ chạm khắc tinh xảo

Đền được xây theo hình chữ Công qua Ngũ Long môn là khu vực sânchầu, tiếp đến là nhà Phương Đình (nhà vuông), tiếp đến là nhà Tiền Tế Tạiđây có điện thờ vua Lý Thái Tổ Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại

"Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vìcủa 8 đời vua nhà Lý Phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng

"Nam quốc sơn hà." Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi

Trang 6

đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý Gian giữa là nơi thờ Lý Thái

Tổ và Lý Thái Tông; ba gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý NhânTông và Lý Thần Tông; ba gian bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý HuệTông và Lý Cao Tông Phía bên trái là gian nhà đặt tượng và bìa vị của 7 vịHoàng Hậu còn phía bên phải có nhà bia, nơi đặt “Cổ Pháp Điện Tao Bi” – biađền Cổ Pháp Phía bên phải của khu vực ngoại thành là khu thờ 3 vị tướng kiệtxuấy dưới thời Lý đó là Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu Khu nhà thơ phía bêntrái là khu thờ 2 vị quan Văn xuất chúng dưới thời nhà Lý là Tô Hiến Thành và

Lý Đạo Thành Ngoài ra còn có Thủy Đình xây trên hồ Bán Nguyệt

Trong đền còn trưng bày rất nhiều tranh chụp lại những hiện tượng lạtrong các buổi lễ diễn ra tại đền Đô như bức tranh “Bát Đế Vân Du” được chụplại trong 1 buổi rước bài vị của các vị vua triều Lý

Bức tranh “Bát Đế Vân Du”

Trang 7

Kiến trúc của Đền:

Đền được xây theo lối “Nội công ngoại quốc”, theo hình chữ Công –

“giống như hình chữa I” Trong nội thành còn có nhà chuyển bồng, kiến trúctheo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại Đồng thời kiếm trúc của đền

tuân thủ chặt chẽ theothuyết âm dương, có hồ, cónúi, tạo nên thế cân bằng.Khu ngoại thất đền Lý Bát

Đế gồm thủy đình trên hồbán nguyệt Thủy đình ởphía Bắc hồ rộng 5 gian cókiến trúc chồng diêm 8mái, 8 đao cong

Mái đầu đao đầu rồng tại đền Đô

Các tầng mái trong chùa được xây theo dạng mái đầu đao cong, các tàumái uốn cong nhẹ nhàng, duỗi ra cho đến đoạn cuối chót thì cong vút lên, bắtgặp độ cong của tàu mái lên, được trang trí bởi hình rồng, tượng trưng choquyền lực và sức mạnh của vua chúa Theo kiến trúc ban đầu của đền, mái đềnđược lợp mái mũi hài nhằm làm giảm áp lực của dòng nước trong những ngàymưa to, điều này giúp ổn định mái, giảm thiểu hư hại và tăng thêm nét thẩm mĩ.Tuy nhiên trong chiến tranh thực dân Pháp xâm lược, đền đã bị tàn phá cáccông trình hiện nay đều được tu bổ lại và chỉ còn sót lại 1 ít phần mái đền đượclớp bằng ngói mũi hài Cửa đền vẫn được giữ nguyên kiến trúc cũ với hệ thốngcửa bức bàn, có thể dễ dàng tháo ra và lắp vào khi đền có các lễ lớn, tạo khônggian lớn cho việc tiến hành các nghi lễ, đồng thời tạo không gian thoáng mát.Các họa tiết trang trí trong đền chủ yếu sử dụng là hình ảnh “Ngũ Long” tượngtrưng cho quyền lực và sức mạnh của nhà vua Điều dễ nhận thấy trong hìnhảnh rồng thời Lý đó là rồng không có râu, thân hình mảnh thể hiện cho sự thanh

Trang 8

thoát Đền Đô là một công trình kiến trúc đặc sắc với nghệ thuật điêu khắc đá(rồng, voi, ngựa, lân), điêukhắc gỗ (lân, chạm lộng hình rồng, họa tiết trang trí),tạc tượng thờ và xây dựng (hệ thống cột trụ, mái đao) đều đạt ở mức tinh xảo.

Điều đặc biệt khi đến với đền Đô là du khách có thể thưởng những lànđiệu quan họ của các liền anh, liền chị từ các làng quan họ, và cũng không thểquên thưởng thức món bánh Phu thê, một trong những thứ bánh lạ được dùngtrong ngày cưới, tượng trưng cho hình ảnh của vợ chồng Bánh Phu thê có màuvàng được làm từ quả dành dành, vỏ bánh được làm từ bột lọc, nhân đỗ xanhtrộn lẫn với dừa trắng, màu đen của hạt vừng, màu xanh của lá bánh và màu đỏcủa lạt buộc tạo nên thể cân đối về Triết lý ngũ hành Tất cả như biểu tượng cho

sự hòa hợp, trời đất và con người cũng như sự hòa hợp, gắn bó yêu thương giữa

vợ chồng

Lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch nhằm

kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1009), ban

"Chiếu dời đô"

Trang 9

I.3 SƠ ĐỒ ĐỀN THỜ, SƠ ĐỒ TƯỢNG PHẬT

5 Hậu cung – nơi đặt bài vị 8 vị vua Lý

6 Nơi đặt bài vị 7 vị Hoàng Hậu

Trang 10

1

7

I.3.2 SƠ ĐỒ TƯỢNG PHẬT

SƠ ĐỒ VÀCÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG CÁC VỊ VUA TRONG ĐỀN THỜ 8 VỊ

VUA NHÀ LÝ

CHÚ GIẢI

Sơ đồ sắp xếp tượng và bài vị của các vị vua tại đền Đô

1 Vua Lý Thái Tổ

2 Vua Lý Thái Tông

3 Vua Lý Nhân Tông

4 Vua Lý Anh Tông

5 Vua Lý Huệ Tông

6 Vua Lý Thánh Tông

7 Vua Lý Thần Tông

8 Vua Lý Cao Tông

9 Ban thờ vua Lý Thái Tổ

10.Ban thờ các vị vua, nơi làm lễ dâng hương

9 10

Trang 11

II ĐÌNH ĐÌNH BẢNG II.1 LỘ TRÌNH

II.1.1 ĐỊA ĐIỂM

Đình làng Đình Bảng xưa thuộc làng Cổ Pháp, nay thuộc làng ĐìnhBảng, thị xã Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 20 km về phíaBắc

II.1.2 ĐƯỜNG ĐI

Khoảng cách từ Hà Nội tới đình làng Đình Bảng khoảng 20 km về phíaBắc, đi theo đường quốc lộ 1A, qua cầu Đuống khoảng 5km là tới địa phậnthành phố Bắc Ninh Hoặc có thể đi theo đường 1B (đường cao tốc), thuộc địaphận làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn Phương tiện di chuyển: từ Hà Nội tới TừSơn có cung đường bằng dễ đi, du khách có thể di chuyển bằng xe máy hoặc xe

ô tô để tới có 3 tuyến xe bus đi qua đền Đô đó là tuyến số 10 Long Biên – TừSơn, tuyến 54 Long Biên - Bắc Ninh và tuyến 203 Giáp Bát – Bắc Giang, chỉcần đi thằng từ cầu Chương Dương Từ điểm dừng xe bus cách đình Đình Bảngkhoảng 1km hoặc đi đường 1B theo lộ trình từ cầu Thanh Trì đi thẳng tới Cầu

Hồ, vòng ngược lại chạy thẳng theo hướng Bắc Ninh – Hà Nội thấy biển chỉ dẫnđình Đình Bảng

II.2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG

II.2.1 LỊCH SỬ

Đình Bảng là một ngôi đình nằm ở làng Đình Bảng (xưa là làng Cổ Pháphay tên Nôm là làng Báng), thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đình được xây dựngvào cuối thế kỷ 18, thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn Đại vương (thần Núi),Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và Bách Lệ Đại vương (thần Đất) đồng thờithờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ 15 Đình Bảng là một trong nhữngngôi đình có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay

Trang 12

Đình làng Đình Bảng được xây dựng năm 1700 thời Hậu Lê kéo đến năm

1736 mới hoàn thành Công việc xây dựng đình là một công việc lao động nghệ

thuật khoa học đầy sáng tạo và kiên trì hàng trục năm liền Khi chúng tôi hỏi vềthời gian xây dựng ngôi đình, cụ già trong đình có kể: “Bác thợ cả khi đến ĐìnhBảng nhận việc, có mang theo cậu con mới 4 tuổi, trong quá trình dựng đình cậu

bé ấy đã lớn lên, lấy cô gái làng Đình Bảng và sinh con thì đình mới dựngxong” Chính xác người hưng công là quan Nguyễn Thạc Lương, người ĐìnhBảng (từng làm trấn thủ Thanh Hóa) và vợ là Nguyễn Thị Nguyên, quê ở ThanhHóa Ông bà đã mua gỗ lim, một loại gỗ quý và bền đem về cúng để dựng ngôiđình

II.2.2 NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÌNH

Đình Đình Bảng trông về hướng Nam nguyên trước có Tam quan Cửagiữa xây hai trục gạch kiểu

lồng đèn cao, hai bên có cửa

cuốn tò vò mái giải, sau lần

cửa này là xây gạch rộng Hai

bên có hai dãy tả vu và hữu

vu Những kiến trúc đấy đã bị

phá hủy hoàn toàn trong thời

gian kháng chiến chống Pháp

Này Đình Bảng chỉ còn lại tòa

bái đường, ống muống và hậu

cung nối liền nhau một khối chữ “công” Đặc biệt, Đình Bảng chưa gặp phảibiến cố lớn về tự nhiên nào gây tác hại thay đổi ngôi đình, những thành phầnkiến trúc và lối kiến trúc vẫn được giữ nguyên nên Đình Bảng có thể xem nhưmột tài liệu gốc để tìm hiều nghệ thuật kiến trúc thế kỷ 18

Trang 13

Đình Bảng cũng như mọi ngôi đình Việt Nam khác, công trình quan trọngnhất về nghệ thuật cũng như về khoa học kiến trúc chính là tòa bái đường ( Đạiđình) Tòa bái đường Đình Bảng xây trên một nền cao 3 bậc cấp đá xanh bóxung quanh, dài 30m, rộng 14m, từ mặt nền đến bờ nóc cao 8m, trông khối nhàrất bề thế và vững chãi Bốn mãi đình úp trên tòa nhà chiếm 2 phần 3 chiều caotoàn thể (5,5m, 18m) và xòe rộng ra bốn phía Diện tích mái rộng lại được lớpngói mũi hài dầy bản rộng khổ tạo cho bên trong lòng đình có một không gianrộng, ít bị bức xạ của mặt trời nhiệt đới, mặt bên ngoài có hàng vạn mái ngói hấtngượt, như muôn ngàn lớp sóng lô nhô trông rất sống động Bộ mái trùm trànrộng ra tận hàng hiên theo kiểu mái đầu đao còn nhằm mục đích không cho tianắng xiên thẳng vào trong nhà và che chở mưa nắng không cho hắt vào hiên cộtcũng như tránh bắt lửa khi có họa hoạn Mái cao và rộng đã tạo ra độ dốc thíchhợp với khí hậu nhiệt đới mưa to, bão lớn, nước mưa thoát nhanh, lại ít cản gió.

Trang 14

Sơ đồ kiến trúc Đình Bảng.

Các tàu mái uốn cong nhẹ nhàng, duỗi ra cho đến đoạn cuối chót thì congvút lên, bắt gặp độ cong của tàu mái lên, tạo thành đầu đao như cánh của mộtbông sen Chạy dọc bờ lóc và bờ dải gắn gạch hộp rỗng, đoạn giữa hình rồnghai đoạn đầu và cuối hình hoa thị Hai bờ đầu nóc gắn hai con kìm đối nhau.Bên tây hình rồng, bên đông hình nghê, cả hai đều cuốn nước Giữa các bờ dải ơchỗ gẫy khúc chuyển hướng và cuối bờ dải chỗ gặp đầu đao đều được gắn hìnhrồng cân đối nhau Nhưng không con nào giống con nào về chi tiết nên khônglặp lại, không đơn điệu Hai đầu đốc mái hồi có lắp diềm và vỉ ruồi gỗ trang trímây, hoa, lá bằng kỹ thuật chạm thủng tỉ mỉ và công phu

Bốn mặt bái đường đều bưng cửa “bức bàn” có thể đóng mở dễ dàng, khicần thoáng và sáng thì mở, khi muốn tránh gió thì đóng kín lại Nền đình chỉ cóphần “lòng giếng” ở gian giữa là nát gạch chéo nem, các gian bên đều có sànván gỗ Hệ thống sàn cao 0m70 vừa có tác dụng chống ẩm ướt vừa đảm bảo độthoáng mát

Tòa bái đường có bẩy gian chính và hai trái với sáu hàng cột, tổng cộng

có 60 chiếc cột, đươc dựng trên những chân tảng đá xanh vuông vức, nhẵnbóng Sáu hàng cột được phân chia, từ trong ra hai bên trước và sau hàng cột

Trang 15

cái, hai hàng cột cân và hai hàng cột hiên Đường kính trung bình của hàng cộtlớn tới 0,65m, tất cả cột đều bằng gỗ lim rắn chắc Thân cột phình rộng ở chỗ

lắp ván sàn, dưới chân hơi thót lại và vươn cao dừng lại bằng một chiếc đầuvuông Lối tạo hình này làm cho cột vừa khỏe mà lại thanh, nhìn dưới mọi góc

độ đều thuận mắt

Độ vững chắc của lối cấu trúc Đình Bảng đã được chứng minh bằng cuộc

đọ sức với xe tăng Pháp Trước khi cuốn gói rút lui nhục nhã ra khỏi miền bắcnước ta, thực dân Pháp đã buộc xích vào chân cột định rật đổ công trình này.Nhưng kết quả cuối cùng của cuộc đọ sức ấy là thất bại của cơ giới giặc ĐìnhĐình Bảng vẫn đứng vững chãi, đường bệ như hình ảnh của đất nước không baogiờ bị khuất phục

Tìm hiểu kiến trúc Đình Đình Bảng, không thể không nhắc tới thiênnhiên bao quanh kiến trúc Đình Đình Bảng đặt giữa một thiên nhiên đẹp Vâylấy khu đất dựng đình là những hồ ao, ấy là di tích của con sông Tiêu Lương mà

sử xưa gòi là sông do các vua Lý đào ăn lên Phật Tích để rồi hòa mình vào dòngsông đuống tuy nhiên ngày nay tám cái ao ở bên trái đình đã bị lấp mất Chỉ còncái ao ở trước sân Đình Những mắt nước ao phẳng lặng trước kia vừa có ýnghĩa thực tiễn làm điều hòa khí hậu cho cả khu vực đình, vữa có ý nghĩa thẩm

Trang 16

mỹ bởi mặt nước hồ xanh in hình khối kiến trúc để nhân lên quy mô của côngtrình và làm tăng lên vẻ đẹp huyền ảo của nó, vừa bao hàm nội dung tư tưởng vềđất nước trong tình cảm truyền thống của người Việt Bao quanh đình còn đượctrồng nhiều cây cổ thụ làm hòa dịu khí trời và còn làm cho kiến trúc hòa thấmvào một không gian rộng, không bị đơn độc.

Những con rồng làm chốt bầy có thân hình nhỏ nhắn, hai chân nắm bằnghai sợi râu mép, dáng hình ngộ nghĩnh, nét mặt như cười Hai mươi tám conrồng là 28 cuộc sống sinh động đa dạng Trên tám đầu bẩy trước, còn được đặtthêm tám đầu rồng, nghê để đỡ mái cũng là những tác phẩm điêu khắc khôngđồng bản, mang một ấn tượng đẹp từ bên ngoài

Khung cửa đình được phủ lên hai dải hoa văn câu đối Một bên tìm cáiđẹp trong nét đường cấu trúc nét thẳng có góc cạnh, còn bên kia cái đẹp hiện lên

từ những đường lượn cong mềm mại, nhịp nhàng

Dưới hai băng hoa văn ấy lại có hai khối tròn Đó chính là hai cối gỗ đểtra cánh cửa được nghệ sỹ tạo thành hai con nghê Cả hai con nghê để trong tưthế nằm phục chầu nhau Con nghê bên phải cửa đình dáng trừng là con đực, ức

nở phồng, đeo ba quả lục lặc nét mặt hơi dữ tợn Con nghê bên trái là con cái,nét mặt hiền dịu, không đeo nhạc Nhưng cả hai đều có nét đồng nhất trong nụcười kín hở và thân hình tròn lẳn, với khói căng đầy sức sống Bước vào lòngđình khi cánh cửa mở rộng, ngôi đình đã niềm nở đón khách bằng tất cả các tinhhoa nghệ thuật chạm khắc nửa đầu thế kỷ 18

Đập ngay vào mắt ta, là bức cửa võng lớn ở cung ngoài gian giữa, phủkín một diện rộng kéo dài từ thượng lương xuống đến tận xà hạ và mở nganhhết cả một gian nhà Mầu vàng son choáng lộng của cửa võng làm rực lên cảgian đình Nhìn toàn thể trông có phần rườm rà, nhưng vẫn chặt chẽ tươi mát,các chi tiết có rậm nhưng không rối, càng nhìn kỹ càng say mê, cảm phục tàinghệ của nghệ sỹ trang trí Có lẽ để lột tả hết được cái đẹp, nét tinh tế trong kiến

Ngày đăng: 15/09/2023, 00:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w