Nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những nội dung trái pháp luật của văn bản, đảm bảo quyền con người ĐBQCN thì kiểm tra văn bản KTVB quy phạm pháp luật QPPL được đánh giá là hoạt động hiệ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HÒE
ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 9 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Bùi Thị Đào
Phản biện 1: PGS,TS Trương Hồ Hải
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS,TS Vũ Công Giao
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 3: TS Nguyễn Linh Giang
Viện Nhà nước và Pháp luật
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền con người (QCN, nhân quyền) là những quyền tự nhiên của con
người, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào “Ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng và bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”; “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14 Hiến pháp 2013) Hơn nữa, những
quyền này còn được thực thi trong thực tiễn bằng cách thể chế hóa trong các luật cụ thể và được hướng dẫn thực hiện bằng hệ thống văn bản dưới luật Tuy nhiên, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nhiều tầng nấc, do nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở cả trung ương và ba cấp chính quyền địa phương ban hành, số lượng văn bản được ban hành hàng năm ở Việt Nam rất lớn thì bên cạnh những văn bản hợp hiến, hợp pháp còn tồn tại một tỷ lệ không nhỏ các văn bản chưa đảm bảo yêu cầu này, trong số đó đáng kể
là những quy định xâm phạm QCN, quyền cơ bản của công dân (chẳng hạn, quy định mỗi người dân cư trú trong 4 quận nội thành Hà Nội chỉ được sở hữu một chiếc xe gắn máy; khi tổ chức đám cưới chỉ được mời người thân thiết, không tổ chức tiệc cưới nhiều lần, không mời tiệc cưới trong giờ làm việc; mỗi lễ tang chỉ được sử dụng không quá 7 vòng hoa ) Nhằm phát hiện
và xử lý kịp thời những nội dung trái pháp luật của văn bản, đảm bảo quyền con người (ĐBQCN) thì kiểm tra văn bản (KTVB) quy phạm pháp luật (QPPL) được đánh giá là hoạt động hiệu quả, thiết thực Thông qua hoạt động KTVB QPPL, các QCN được đảm bảo bằng việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận và xử lý các văn bản, nội dung VBQPPL xâm phạm hoặc cản trở thực hiện các QCN, quyền cơ bản của công dân Hoạt động KTVB QPPL bắt đầu được thực hiện từ năm 2003 theo quy định tại Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Ban hành VBQPPL năm 2002 và hướng dẫn tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý VBQPPL Đến nay, được thực hiện theo quy định tại Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015,
Trang 4Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020)
Qua 20 năm thực hiện, hoạt động KTVB QPPL đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ; góp phần nâng cao nhận thức, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, giúp cho các cơ quan này tuân thủ nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản, đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật, ĐBQCN, quyền cơ bản của công dân Sự tham gia, trí tuệ của xã hội trong việc phát hiện và phản ánh về những nội dung trái pháp luật, chưa khả thi của văn bản được huy động vào hoạt động KTVB QPPL Thông qua đó, công dân có quyền phản ánh, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý những VBQPPL, văn bản hành chính thông thường có chứa QPPL xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận
Tuy vậy, việc kiểm tra, xử lý những văn bản trái pháp luật, ĐBQCN trong thời gian qua chỉ là kết quả tự thân của hoạt động KTVB), chưa có định hướng và tầm vóc của một hoạt động ĐBQCN Vì vậy, mặc dù đã được triển khai gần hai mươi năm, nhưng ở nhiều cơ quan có thẩm quyền, việc triển khai còn hạn chế, nhiều người dân còn chưa hiểu đúng về hoạt động KTVB nên vẫn chưa sử dụng được hoặc sử dụng chưa hiệu quả hoạt động này trong việc ĐBQCN Do đó, việc nghiên cứu, nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL với tư cách là một hoạt động ĐBQCN là rất cần thiết, xuất phát từ nhu cầu của cả hai phía: nhà nước và người dân, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thi hành Hiến pháp
2013 và thực thi Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn
mới với mục tiêu: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ
Trang 5hiệu quả quyền con người, quyền công dân” Chính vì tính cấp thiết của vấn
đề, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đảm bảo quyền con người thông
qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”
làm luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay, luận án kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL, đưa hoạt động KTVB QPPL thực sự trở thành công cụ ĐBQCN, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ khái niệm ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL và mối quan hệ giữa hoạt động KTVB QPPL với việc ĐBQCN trên cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai hoạt động KTVB QPPL tại Việt Nam thời gian qua;
- Đánh giá thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay (các kết quả, hạn chế, bất cập của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL);
- Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu lý luận về QCN, ĐBQCN trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật; lý luận về VBQPPL, KTVB QPPL, ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL; mối liên hệ giữa KTVB QPPL với ĐBQCN;
- Thực tiễn hoạt động KTVB QPPL và ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quyền con người được đề cập, phân tích trong luận án là các QCN, quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật; trọng tâm nghiên cứu của luận án
là vai trò của KTVB QPPL đối với ĐBQCN với tư cách là cơ chế đảm bảo
Trang 6các quy định về QCN trong hệ thống pháp luật quốc gia trở thành một thể thống nhất, không trái với Hiến pháp - đạo luật gốc về QCN
- Thực trạng hoạt động KTVB QPPL tại Việt Nam hiện nay được xem xét trên cơ sở kết quả KTVB QPPL do các cơ quan có thẩm quyền trên cả nước thực hiện từ năm 2017 đến năm 2021 thể hiện tại các Báo cáo kết quả KTVB trên toàn quốc do Bộ Tư pháp thực hiện trong 05 năm (từ năm 2017 đến năm 2021) và thực tiễn triển khai hoạt động KTVB QPPL tại Cục KTVB QPPL - Bộ Tư pháp
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác - Lênin, thể hiện ở cách tiếp cận động, tiếp cận lịch sử và tiếp cận thực tiễn Đồng thời, là công trình nghiên cứu về một hoạt động trong quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên QCN, học thuyết về QCN, quản trị tốt và nhà nước pháp quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp suy luận lôgic, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp tổng hợp
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã góp phần làm rõ hơn và bổ sung lý luận về VBQPPL, KTVB QPPL, QCN và ĐBQCN, vai trò của KTVB QPPL đối với ĐBQCN Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB, bao gồm: chủ thể có trách nhiệm ĐBQCN, chủ thể được ĐBQCN, nội dung, quy trình và các phương diện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Luận án hình hành nên tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL;
Luận án phân tích thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở kết quả hoạt động KTVB QPPL Từ
đó, đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó;
Luận án xây dựng hệ thống quan điểm, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
Trang 76 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho những người hoạch định chính sách và quản lý nhà nước khi xem xét, đánh giá, nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức quyền lực, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng và hoàn thiện cơ chế ĐBQCN, cơ chế bảo vệ hiến pháp, tổ chức thi hành pháp luật
- Luận án có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình giảng dạy
về xây dựng văn bản, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, ĐBQCN và các vấn
đề khác có liên quan
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc gồm 4 chương, 12 tiết
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu về quyền con người
Các nghiên cứu về QCN cả ở trong nước và nước ngoài đều rất phong phú về thể loại, sâu sắc về nội dung, thể hiện sự phát triển của nhân loại về quá trình nhận biết và làm chủ QCN
1.1.2 Các nghiên cứu về đảm bảo quyền con người
Tương tự như các nghiên cứu về QCN, các nghiên cứu về ĐBQCN ở cả trong nước và nước ngoài cũng rất phong phú, sâu sắc về thể loại và nội dung nghiên cứu về các cơ chế ĐBQCN
1.1.3 Các nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong đảm bảo quyền con người
Các nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong ĐBQCN đều là nghiên cứu chuyên sâu Các nghiên cứu đã chỉ rõ bên cạnh chức năng điều chỉnh các quan hệ
xã hội thì pháp luật có một mục đích cụ thể khác là bảo vệ cá nhân trong quan hệ với nhà nước Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là pháp luật bảo vệ, ĐBQCN
1.1.4 Các nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật
Nghiên cứu về VBQPPL là nghiên cứu mang tính chuyên sâu Ở Việt Nam các nghiên cứu về nội dung này được công bố sau khi có Luật Ban
Trang 8hành VBQPPL năm 1996 và tập trung vào việc phân tích, làm sáng tỏ các giá trị, các đặc trưng của VBQPPL
1.1.5 Các nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Trên thế giới, các nghiên cứu về KTVB QPPL được đặt trong nghiên cứu về cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp luật, cơ chế bảo vệ hiến pháp Ở Việt Nam, các nghiên cứu về hoạt động này đều được công bố sau năm 2003, sau khi hoạt động KTVB QPPL được triển khai trong thực tế theo quy định của Chính phủ Các nghiên cứu này thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này
và tồn tại ở nhiều loại công trình nghiên
1.1.6 Các nghiên cứu về đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Nghiên cứu trực tiếp về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL là lĩnh vực chưa được nghiên cứu
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và hướng phát triển nội dung đề tài luận án
1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Về mặt lý luận, các nghiên cứu về QCN và ĐBQCN đã đưa ra được khái
niệm, sự hình thành và phát triển của khái niệm QCN, ĐBQCN Hầu hết các nghiên cứu về VBQPPL, KTVB QPPL đã làm sáng tỏ khái niệm, sự cần thiết phải KTVB QPPL Trong số đó, cũng có nghiên cứu đã phân tích khá đầy đủ các vấn đề lý luận của hoạt động KTVB QPPL như: nguyên tắc và phương thức KTVB QPPL; đối tượng, thẩm quyền, nội dung và trình tự, thủ tục KTVB QPPL
Về mặt thực tiễn, các nghiên cứu về ĐBQCN đã đánh giá thực tiễn
ĐBQCN và vai trò của pháp luật trong việc ĐBQCN; Các nghiên cứu về KTVB QPPL đã đánh giá về thực trạng KTVB QPPL ở Việt Nam vào thời điểm nghiên cứu và nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai hoạt động này
Về giải pháp, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đảm ĐBQCN
hoặc thực tiễn, lý luận về KTVB QPPL, các nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp khá cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN hoặc nâng cao hiệu quả hoạt động KTVB QPPL để đáp ứng tình hình kinh tế - xã hội tại thời điểm nghiên cứu
Trang 9Các nghiên cứu này đã tạo nên các giá trị khoa học cần được tác giả luận
án tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhằm thực hiện mục tiêu chính của luận án Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về KTVB QPPL thường ở phạm vi hẹp, chưa có tính liên thông, kết nối giữa KTVB QPPL với các hoạt động đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật Đặc biệt, chưa có nghiên cứu về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Phần lớn các công trình chưa thu thập đầy đủ thông tin, dữ liệu về thực trạng hoạt động KTVB QPPL nên chưa đủ cơ sở để đánh giá chính xác, khách quan hoạt động KTVB QPPL Do nghiên cứu đã lâu nên nhiều giải pháp đến nay đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện kinh tế -
xã hội; hoặc một số giải pháp về cơ bản đã được triển khai trên thực tiễn và thấy rằng cần phải củng cố, hoàn thiện
1.2.2 Hướng phát triển nội dung đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn KTVB QPPL, học tập kinh nghiệp nước ngoài, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện những khoảng trống cơ bản liên quan đến nội dung của đề tài như: đặc trưng của VBQPPL, khái niệm và một số nội dung cơ bản của ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL; các tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Luận án cũng nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động này, xác định nguyên nhân của những hạn chế trong việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL trên thực tế để đưa ra những định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở nước ta hiện nay
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1 Việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL được thực hiện như thế nào, thông qua các phương diện gì?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL trong thời gian qua đã thu được kết quả như thế nào, có ưu điểm, hạn chế gì, nguyên nhân của những hạn chế đó là gì?
Câu hỏi nghiên cứu 3 Quan điểm và giải pháp nào nhằm thúc đẩy hơn nữa hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL?
Trang 101.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Thời gian qua, QCN đã được đảm bảo thông qua hoạt động KTVB QPPL Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động KTVB QPPL còn có nhiều hạn chế, bất cập đã làm giảm hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động này Việc nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí, vai trò của hoạt động KTVB QPPL trong việc ĐBQCN, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTVB QPPL, pháp luật có liên quan đến QCN và nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống pháp luật này sẽ nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
2.1 Khái niệm quyền con người và đảm bảo quyền con người
2.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người là bất kỳ quyền nào gắn với mỗi con người, cũng là toàn bộ những quyền của một cá nhân được sinh ra trong xã hội, quyền này mang tính chất nhân bản bởi nó là quyền được hình thành ngay sau khi con người được sinh ra, thuộc về bản chất con người chứ không phải do pháp luật quy định hoặc do nhà nước trao cho
2.1.2 Đảm bảo quyền con người
Đảm bảo QCN là việc các chủ thể (cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội ) có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp, cách thức để hiện thực hóa các QCN trên cơ sở các nguyên tắc về QCN nhằm bảo vệ, tôn trọng và thúc đẩy thực thi các quyền của con người trong các hoạt động của mình, ngăn
ngừa sự lạm dụng, vi phạm QCN từ phía các chủ thể khác
Trong đó, QCN bao gồm các QCN và quyền cơ bản của công dân được quy định tại Hiến pháp 2013; Các nguyên tắc về QCN bao gồm: (i) QCN chỉ được đảm bảo khi được ghi nhận bằng pháp luật; (ii) Việc hạn chế QCN, quyền công dân chính là cơ sở để ĐBQCN và việc hạn chế đó phải theo nguyên tắc do pháp luật quy định; (iii) Việc thực hiện quyền phải được thực hiện đồng thời với nghĩa vụ và không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích
của người khác; (iv) QCN là bình đẳng đối với mỗi cá nhân trong xã hội
Trang 112.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
2.2.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản QPPL là một hình thức tồn tại của pháp luật, trong đó bao gồm các QPPL là các quy tắc xử sự chung do các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định
và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Trong đó, QPPL là yếu tố quan trọng, quyết định thẩm quyền, hình thức
và trình tự, thủ tục ban hành văn bản Một quy tắc xử sự chung chỉ là QPPL khi đáp ứng yêu cầu về tính “mới” và tính phổ biến trong phạm vi áp dụng chung Văn bản có chứa quy tắc xử sự chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần với mọi đối tượng hoặc nhiều nhóm đối tượng trên phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương nhưng không được ban hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định là văn bản có chứa QPPL
2.2.2 Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
2.2.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động KTVB QPPL là quá trình các chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý của VBQPPL, yêu cầu chủ thể có thẩm quyền kịp thời xử lý nội dung trái pháp luật, chưa hợp lý của văn bản bằng hình thức thích hợp, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính minh bạch, hiệu quả, khả thi của VBQPPL
2.2.2.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật Mục đích của hoạt động: Là hoạt động được tiến hành ngay sau khi văn bản
được ban hành, KTVB QPPL được thực hiện nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, không khả thi của văn bản để kịp thời xử lý nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật; tăng cường tính chuyên nghiệp, trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành VBQPPL; bảo đảm tính nghiêm minh trong quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tăng cường lòng tin của nhân dân với cơ quan nhà nước; góp phần tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế
Chủ thể thực hiện KTVB QPPL: là cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định pháp luật Tại Việt Nam, chủ thể này gồm: Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các cấp;
Trang 12Đối tượng của hoạt động KTVB QPPL: là VBQPPL và văn bản có chứa
QPPL thuộc phạm vi thẩm quyền của chủ thể có thẩm quyền cao nhất là Thủ tướng Chính phủ
Nội dung kiểm tra gồm: thẩm quyền ban hành văn bản, nội dung văn
bản và thể thức, kỹ thuật trình bày; trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản nhằm phát hiện nội dung trái pháp luật
2.2.2.3 Vai trò của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với đảm bảo quyền con người
- Là cơ sở khẳng định và đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các QCN đã được pháp luật ghi nhận
- Đảm bảo thực thi các QCN thống nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ
- Góp phần phát huy dân chủ, tăng cường QCN trong giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước
Ngoài ra, hoạt động KTVB QPPL còn thể hiện vai trò của hoạt động bảo
vệ, thúc đẩy thực hiện QCN và quá trình các chủ thể này sử dụng các biện pháp, cách thức để hiện thực hóa các QCN trong hoạt động KTVB
2.2.3.2 Các đặc điểm đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản
Chủ thể được ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB là chủ thể QCN mà
quyền của chủ thể này bị vi phạm bởi VBQPPL hoặc văn bản có chứa QPPL
do cơ quan/chủ thể trong cơ quan nhà nước ban hành
Chủ thể có trách nhiệm ĐBQCN là chủ thể có thẩm quyền kiểm tra và
xử lý văn bản
Nội dung ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB là đảm bảo các QCN hoặc
các nguyên tắc QCN đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận; đảm bảo quyền giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tham gia vào quản lý nhà nước và việc thực hiện quyền/trách nhiệm giải trình của chủ thể quyền trong quá trình thực hiện KTVB
Trang 13Đối tượng của hoạt động ĐBQCN thông qua KTVB là VBQPPL thuộc
đối tượng của hoạt động KTVB, bao gồm VBQPPL và văn bản có chứa QPPL thuộc đối tượng của hoạt động KTVB QPPL
Trình tự, thủ tục ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB là quy trình
KTVB QPPL, từ khâu xem xét, phát hiện nội dung trái pháp luật, vi phạm QCN, các nguyên tắc về QCN cho tới khi nội dung vi phạm được xử lý
Các phương diện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB: Việc ĐBQCN
thông qua hoạt động KTVB được thực hiện qua hai phương diện: một là,
bằng việc phát hiện và xử lý những quy định vi phạm QCN, vi phạm nguyên
tắc về QCN; hai là, thông qua quá trình tổ chức thực hiện hoạt động KTVB QPPL
2.2.3.3.Tiêu chí đánh giá hiệu quả đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản
Thứ nhất, đánh giá về việc đảm bảo nội dung QCN, các nguyên tắc về QCN
từ kết quả hoạt động KTVB QPPL Theo đó, việc đánh giá được thực hiện trên
cơ sở trả lời câu hỏi: hoạt động KTVB QPPL đã đảm bảo được QCN nào, đã đảm bảo các nguyên tắc nào về QCN đã được Hiến pháp ghi nhận?
Thứ hai, đánh giá về việc ĐBQCN từ việc tổ chức hoạt động KTVB
QPPL Theo đó, quá trình đánh giá hiệu quả ĐBQCN trong việc tổ chức hoạt động KTVB QPPL phải trả lời được các câu hỏi:
(i) Hoạt động KTVB QPPL có được tiến hành hợp pháp không?
(ii) Quy trình thực hiện KTVB QPPL có minh bạch không?
(iii) Trong quy trình KTVB có đảm bảo trách nhiệm giải trình của các chủ thể có văn bản được kiểm tra không?
(iv) Có đảm bảo sự tham gia của các chủ thể hưởng quyền trong quá trình thực hiện KTVB QPPL không?
(v) Quá trình kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật có đảm bảo yêu cầu bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể và đối tượng kiểm tra không? Việc xác định hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL phụ thuộc vào kết quả trả lời các câu hỏi của hai nhóm vấn đề nêu trên Khi câu trả lời cho các câu hỏi trên là có và được được đánh giá là tốt thì cũng đồng thời là kết quả đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
2.3.1 Tác động của hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật tác động tới việc ĐBQCN thông qua hoạt động
KTVB QPPL là hệ thống pháp luật có nội dung liên quan đến QCN Hệ