Qua gần 20 năm triển khai, hoạt động KTVB QPPL đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, được
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HÒE
ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HÒE
ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 9 38 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Bùi Thị Đào
HÀ NỘI - 2023
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thu Hòe
Trang 4Trang
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và hướng
phát triển nội dung đề tài luận án
29
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON
NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
35
2.1 Khái niệm quyền con người và đảm bảo quyền con người 35 2.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật và đảm bảo quyền con người thông qua hoạt
động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
45
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đảm bảo quyền con người
thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
72
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
77
3.1 Thực trạng thực hiện đảm bảo quyền con người ở phương diện
phát hiện, xử lý vi phạm quyền con người thông qua hoạt động
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
77
3.2 Thực trạng đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật ở phương diện tổ chức thực
hiện hoạt động này
85
3.3 Đánh giá hiệu quả đảm bảo quyền con người thông qua hoạt
động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
110
Trang 5ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
4.1 Quan điểm nâng cao hi ệu quả đảm bảo quyền con người thông
qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
120
4.3 Giải pháp tổ chức thực hiện hoạt động kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật
140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
151
PHỤ LỤC
Trang 6ĐBQCN : Đảm bảo quyền con người HĐND : Hội đồng nhân dân
KTVB : Kiểm tra văn bản QCN : Quyền con người QPPL : Quy phạm pháp luật UBND : Ủy ban nhân dân VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền con người (QCN, nhân quyền) là những quyền tự nhiên của con người, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, nhân quyền là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người [166, tr 4] Hiến pháp năm 2013 (đã được Quốc hội khóa XIII,
kỳ hợp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014) - văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với một trong những nội dung quan trọng là chế định về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, đưa lên vị trí trang trọng hơn (đưa từ Chương V trong Hiến pháp 1992 lên Chương II trong bản Hiến pháp 2013, chỉ sau Chương về chế độ chính trị), thể hiện sự nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự
phát triển xã hội Hiến pháp 2013 khẳng định nguyên tắc: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14) và “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì
lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14) Hơn nữa, những quyền này còn
được thực thi trong thực tiễn bằng cách thể chế hóa trong các luật cụ thể và được hướng dẫn thực hiện bằng hệ thống văn bản dưới luật
Đặc biệt, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đặt ra những thách thức và đòi hỏi mới cho hệ thống pháp luật Việt Nam Bởi vì, trong mô hình nhà nước pháp quyền, vai trò của pháp luật được đề cao, như là phương tiện
Trang 8bảo vệ, bảo đảm quyền và tự do cơ bản của cá nhân, hạn chế sự tùy tiện, lạm quyền của nhà nước Nói đúng hơn, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người là nội hàm của nhà nước pháp quyền [134, tr 63] Bởi vì, pháp luật trong nhà nước pháp quyền không phải là thứ pháp luật bất kỳ mà nó phải chứa đựng một số thuộc tính nội tại cần được tuân thủ - đòi hỏi về mặt nội dung [89, tr 3], bao gồm các tiêu chuẩn về chất lượng, như: dễ tiếp cận, ổn định, có hiệu lực, dễ hiểu, có tính khả đoán cao Điều này cho thấy, vai trò quan trọng của xây dựng và ban hành pháp luật trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo quyền con người (ĐBQCN)
Tuy nhiên, trong thực tiễn xây dựng và ban hành pháp luật, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nhiều tầng nấc, do nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành (theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL, hệ thống VBQPPL được ban hành ở cả trung ương và địa phương, gồm 15 cấp giá trị hiệu lực, trong đó, ở địa phương thì cả 3 cấp chính quyền địa phương đều được ban hành VBQPPL), số lượng văn bản được ban hành hàng năm ở Việt Nam rất lớn thì bên cạnh những văn bản hợp hiến, hợp pháp còn một tỷ lệ không nhỏ các văn bản chưa đảm bảo yêu cầu này, trong
số đó tồn tại là những quy định có thể ảnh hưởng, xâm phạm QCN, quyền cơ bản của công dân Chẳng hạn, quy định mỗi người dân cư trú trong 4 quận nội thành Hà Nội chỉ được sở hữu một chiếc xe gắn máy [137] hay quy định khi
tổ chức đám cưới chỉ được mời người thân thiết, không tổ chức tiệc cưới nhiều lần, không mời tiệc cưới trong giờ làm việc [20] hoặc mỗi lễ tang chỉ được sử dụng không quá 7 vòng hoa [23] là những quy định vi phạm nghiêm trọng QCN, quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận
Nhằm giữ gìn trật tự pháp lý, phát hiện kịp thời những nội dung trái pháp luật của văn bản, bảo vệ QCN thì kiểm tra văn bản (KTVB) quy phạm pháp luật (QPPL) được xem xét và đánh giá là hoạt động hiệu quả và thiết thực ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ ra các văn bản, nội dung VBQPPL chưa đảm bảo tính hợp hiến,
Trang 9hợp pháp, xâm phạm hoặc cản trở thực hiện các QCN, quyền cơ bản của công dân để xử lý theo quy định pháp luật Hoạt động này bắt đầu được thực hiện từ năm 2003 theo quy định tại Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật
Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Ban hành VBQPPL năm 2002 và hướng dẫn tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra,
xử lý VBQPPL Đến nay, được thực hiện theo quy định tại Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020) Theo đó, việc KTVB QPPL được thực hiện đối với các VBQPPL, văn bản hành chính thông thường có chứa quy phạm pháp luật do người, cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ cấp Bộ trưởng trở xuống ban hành
Qua gần 20 năm triển khai, hoạt động KTVB QPPL đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ; đồng thời, đã góp phần nâng cao nhận thức, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, giúp cho các cơ quan này chú trọng hơn trong việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản, đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật, ĐBQCN, quyền cơ bản của công dân được thực hiện đúng và đủ trong thực tiễn Ngoài sự vào cuộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoạt động này còn huy động được sự tham gia, trí tuệ của toàn xã hội trong việc phát hiện và phản ánh về những nội dung trái pháp luật, chưa khả thi của văn bản Thông qua đó, công dân có quyền phản ánh, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiểm tra, xử lý những VBQPPL, văn bản hành chính thông thường có chứa QPPL xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận
Trang 10Tuy vậy, kết quả thực hiện KTVB QPPL cũng cho thấy, ở một chừng mực nhất định, hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL còn hạn chế Việc kiểm tra, phát hiện và xử lý những văn bản trái pháp luật, đảm bảo thực thi QCN trong thời gian qua chỉ là kết quả tự thân, vốn có của hoạt động KTVB QPPL, chưa có định hướng và tầm vóc của một hoạt động ĐBQCN
Vì vậy, mặc dù đã được triển khai gần hai mươi năm, nhưng ở nhiều cơ quan
có thẩm quyền, việc triển khai còn hạn chế, nhiều người dân còn chưa hiểu đúng về hoạt động KTVB QPPL nên vẫn chưa sử dụng được hoặc sử dụng chưa hiệu quả hoạt động này trong việc ĐBQCN Do đó, có thể khẳng định, việc nghiên cứu, nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL với tư cách là một hoạt động ĐBQCN là rất cần thiết, xuất phát từ nhu cầu của cả hai phía: nhà nước và người dân, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thi hành Hiến pháp 2013 và thực thi Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới với mục tiêu: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”
Chính vì tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay, luận án kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL trên cơ sở nâng
Trang 11cao chất lượng hoạt động KTVB QPPL, đưa hoạt động KTVB QPPL thực sự trở thành công cụ ĐBQCN, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ khái niệm ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL và mối quan hệ giữa hoạt động KTVB QPPL với việc ĐBQCN trên cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai hoạt động KTVB QPPL tại Việt Nam thời gian qua;
- Đánh giá thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay (trong đó nêu rõ những hạn chế, bất cập của quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay);
- Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu lý luận về QCN, ĐBQCN trong xây dựng
và hoàn thiện pháp luật; lý luận về VBQPPL, KTVB QPPL, ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL; mối liên hệ giữa KTVB QPPL với ĐBQCN;
- Thực tiễn hoạt động KTVB QPPL và ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- QCN được đề cập, phân tích trong luận án là các QCN, quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật; trọng tâm nghiên cứu của luận án là vai trò của KTVB QPPL đối với ĐBQCN với tư cách là cơ chế đảm bảo các quy định về QCN trong hệ thống pháp luật quốc gia trở thành một thể thống nhất, không trái với Hiến pháp - đạo luật gốc về QCN
Trang 12- Thực trạng hoạt động KTVB QPPL tại Việt Nam từ năm 2017 đến nay được xem xét, nghiên cứu thông qua các kết quả KTVB QPPL do các cơ quan có thẩm quyền KTVB trên cả nước thực hiện từ năm 2017 đến năm
2021 thể hiện tại các báo cáo kết quả KTVB trên toàn quốc do Bộ Tư pháp thực hiện trong 05 năm (từ năm 2017 đến năm 2021) và thực tiễn triển khai hoạt động KTVB QPPL tại Cục KTVB QPPL - Bộ Tư pháp
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác - Lênin, thể hiện ở cách tiếp cận động, tiếp cận lịch sử và tiếp cận thực tiễn Đồng thời, là công trình nghiên cứu về một hoạt động trong quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên QCN, học thuyết về QCN, quản trị tốt và nhà nước pháp quyền
- Cách tiếp cận động: Bằng cách nghiên cứu này, tác giả luận án đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL trong phạm vi chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động; nội dung, cơ chế và cách thức tác động, ảnh hưởng đến việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB của các yếu tố, từ đó tiếp cận nghiên cứu về hoạt động KTVB QPPL toàn diện hơn Vấn đề này được thể hiện tại Phần 3.3 Đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam tại Chương 3 Thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
- Cách tiếp cận lịch sử: Việc tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB được đặt trong thời điểm lịch sử cụ thể nhất định là trong vòng 5 năm gần đây, các số liệu, kết quả kiểm tra được lấy từ năm
2017 đến năm 2021, để từ đó, đưa ra hệ thống giải pháp gắn với tình hình lịch sử
cụ thể của giai đoạn hiện nay Nội dung này được thể hiện trong phần phân tích thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL tại Phần 3.1 và 3.2 của Chương 3 Thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL và những giải
Trang 13pháp cụ thể tại Chương 4 Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam
- Cách tiếp cận thực tiễn: Luận án đặc biệt chú ý tới việc xem xét, đánh giá thực tiễn ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Chính vì vậy, luận án đã sử dụng cách tiếp cận thực tiễn để xem xét kết quả KTVB QPPL trong 5 năm nghiên cứu; từ đó đánh giá về thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay Nội dung này được thể hiện tại Chương 3 của luận án
- Phương pháp tiếp cận dựa trên QCN: Xem xét, nghiên cứu, đánh giá lý luận, thực tiễn ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL cũng như nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL dựa trên nguyên tắc cân bằng hai yếu tố: nội dung quyền và cách thức thực hiện QCN Theo đó, dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế về QCN, hoạt động KTVB QPPL được xem xét, đánh giá và kiến nghị hoàn thiện nhằm mục tiêu thúc đẩy và phát triển các QCN cả về phương diện đảm bảo nội dung quyền và phương diện, cách thức tổ chức tiến hành hoạt động KTVB QPPL ĐBQCN Phương pháp tiếp cận này được sử dụng trong toàn bộ luận án, đặc biệt tập trung ở Chương 2, trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay; tại Chương 3 và Chương 4 của luận án trong quá trình đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
- Phương pháp tiếp cận dựa trên học thuyết về QCN được sử dụng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về QCN tại Chương 2 của luận án, như: khái niệm QCN, ĐBQCN, ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL từ đó hình thành nên hệ thống lý luận về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
- Phương pháp tiếp cận dựa trên học thuyết về nhà nước pháp quyền
và quản trị tốt được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở
Trang 14Việt Nam hiện nay tại Chương 4 của luận án, nhằm đảm bảo hiệu quả quản trị quốc gia và phù hợp với đặc thù nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để việc triển khai nghiên cứu được thuận lợi và đạt được mục tiêu đề
ra, trong quá trình nghiên cứu, ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp suy luận lôgic, tác giả luận án
đã tiến hành nghiên cứu bằng một số phương pháp đặc thù khác như:
Phương pháp phân tích để nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn
hoạt động KTVB thông qua phân tích số liệu thực tiễn KTVB của các Bộ, ngành, địa phương, xem xét kết quả KTVB, đánh giá hiệu quả KTVB
Phương pháp này được thực hiện để nghiên cứu các vấn đề lý luận về KTVB QPPL được thể hiện tại Chương 2 Một số vấn đề lý luận ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Đồng thời, phương pháp này cũng được
sử dụng triệt để khi phân tích các số liệu, thực trạng và kết quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL tại Chương 3 Thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng để tham khảo quy định
pháp luật quốc tế về các phương thức ĐBQCN trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, các cơ chế bảo vệ Hiến pháp; nghiên cứu pháp luật trong nước qua các thời kỳ về hoạt động KTVB Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu các vấn đề về lý luận tại Chương 2 và nghiên cứu các giải pháp tại Chương 4
Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn,
tổng hợp các kết quả thu được, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Phương pháp này được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, hình thành nên nội dung Chương 3 (Phần 3.3 Đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL) và Chương 4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
Trang 155 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã góp phần làm rõ hơn và bổ sung lý luận về VBQPPL, KTVB QPPL, QCN và ĐBQCN, vai trò của KTVB QPPL đối với ĐBQCN Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB, bao gồm: chủ thể có trách nhiệm ĐBQCN, chủ thể được ĐBQCN, nội dung, quy trình và các phương diện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Luận án hình hành nên tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL;
Luận án phân tích thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở kết quả hoạt động KTVB QPPL Từ
đó, đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó;
Luận án xây dựng hệ thống quan điểm, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho những người hoạch định chính sách và quản lý nhà nước khi xem xét, đánh giá, nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng và hoàn thiện cơ chế ĐBQCN, cơ chế bảo vệ hiến pháp, tổ chức thi hành pháp luật
- Luận án có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình giảng dạy
về xây dựng văn bản, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, ĐBQCN và các vấn
đề khác có liên quan
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 16Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu về quyền con người
Quyền con người là một lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước Các nghiên cứu về QCN rất phong phú, đa dạng và đạt được những kết quả nhất định Có rất nhiều định nghĩa về QCN, mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền
Ở các nước Châu Âu, QCN được nghiên cứu từ rất sớm, với nhiều học giả nổi tiếng, trong đó tập trung ở các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế
kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên Trường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (giáo sư đại học khoa học xã hội
Toulouse) đưa ra định nghĩa: “Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền” [164, tr 12] Quan niệm này, thực chất là dựa
trên cơ sở lý thuyết pháp quyền tự nhiên để xem xét về QCN và do đó đã tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con người, coi đó là “những giá trị tuyệt đối” không thể xâm phạm, không thay thế, bất biến, tuy vậy đã gắn quyền tự nhiên của con người với “quy tắc điều khiển”, có nghĩa gắn với những quy định của các thể chế khác nhau (có thể là những thể chế quốc tế, thể chế quốc gia, thể chế của các tổ chức phi nhà nước, thể chế của cộng đồng)
Ngược lại với quan điểm trên, các học giả theo học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights) {trong một số tài liệu, các quyền pháp lý còn được gọi là các quyền dân sự (civil rights) hoặc các quyền luật định (statutory
Trang 17rights)} cho rằng, các QCN không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các QPPL hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa Hai học giả tiêu biểu cho học thuyết về quyền pháp lý có thể kể đến là Edmund Burke (1729-1797) và
Jeremy Bentham (1748-1832) Edmund Burke, trong tác phẩm “Suy nghĩ về Cách mạng Pháp” (Reflections on the Revolution in France, 1790) và Jeremy Bentham, trong tác phẩm “Phê phán học thuyết về các quyền tự nhiên, không thể tước bỏ” (Critique of the Doctrine of Inalienable, Natural Rights, 1843)
cùng cho rằng, ý tưởng về các quyền tự nhiên là vô nghĩa (nonsense upon stilts) và chẳng có quyền nào lại không thể tước bỏ (inalienable)
Các sách chuyên khảo, tham khảo như: “A practitioner's guide to the European Convention on Human Rights”, của Karen Reid, được xuất bản năm
1998 tại London; “Asia-Pacific human rights documents and resources”, của Fernand de Varennes, xuất bản năm 2000 bởi Đại học Cambridge; “Challenges facing the system of special procedures of the United Nations Commission on Human Rights” (tạm dịch là “Những thách thức đối với hệ thống quy định đặc
biệt của Liên hợp quốc về quyền con người”), của Miko Lempinen, được xuất
bản bởi Đại học Åbo Akademi năm 2001; “Human rights and policing: standards for good behaviour and a strategy for change” (tạm dịch là Quyền
con người và chính sách: Những chuẩn mực cho cách xử sự tốt và một chiến lược để thay đổi) của nhóm tác giả Ralph Crawshaw, Barry Devlin, Tom
Williamson, năm 1998; “Human rights in the twenty-first century: a global challenge” (tạm dịch là Quyền con người trong thế kỷ 21: Một thách thức toàn
cầu), của nhóm tác giả Kathleen E Mahoney and Paul Mahoney, được xuất
bản bởi Đại học Boston, năm 1993; “International human rights law: a practical approach” (tạm dịch là “Luật Quốc tế về quyền con người: Một cách tiếp cận thực tế”) của Javaid Rehman, xuất bản năm 2003; “The European system for the protection of human rights” (tạm dịch là “Hệ thống châu Âu về
Trang 18bảo vệ quyền con người”), của nhóm tác giả R St J Macdonald, F Matscher,
H Petzold, được xuất bản bởi Đại học Boston, năm 1993… là những nghiên cứu về QCN ở những lĩnh vực khác nhau từ thực tế về quá trình áp dụng các Công ước quốc tế về QCN Theo đó, từ những cách tiếp cập của các tác giả là các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động nhân quyền hoặc của nhân viên cảnh sát, trên cơ sở thực tiễn quy định tại Công ước quốc tế về QCN, thực tiễn áp dụng các Công ước này tại Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, các tác giả
đã tiếp tục phân tích để thấy rõ hơn nội hàm khái niệm QCN, đánh giá thực tế
áp dụng các văn bản pháp lý quốc tế về QCN, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm ĐBQCN ở cả khía cạnh nhà nước và công dân Trong đó, có các phân tích cụ thể về 02 Công ước về các quyền dân sự và chính trị và các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, 07 hiệp ước khác liệt kê các nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến một số hành vi vi phạm nhất định (tra tấn, cưỡng chế mất tích, phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc và giới tính…) hoặc đối với một số đối tượng chủ thể thuộc nhóm yếu thế (trẻ em, người bị khuyết tật, lao động nhập cư); các công ước khu vực như Công ước Châu Âu về Nhân quyền; và vô số các văn bản, hiệp ước và các công cụ khác Tuy nhiên, hệ thống những quy định này vẫn gặp phải những khó khăn thách thức về thể chế, về trí tuệ, về quy chuẩn… và cần phải gỡ bỏ những rào cản đó trong thời gian tới Đặc biệt, cuốn
“Human rights in the twenty-first century: a global challenge” (tạm dịch là
Quyền con người trong thế kỷ 21: Một thách thức toàn cầu) được viết bởi một nhóm các chuyên gia quốc tế nổi tiếng về con người, là kết quả của một hội nghị quốc tế lớn có nội dung về “quyền con người trong thế kỷ XXI: Một thách thức toàn cầu” được triệu tập tại Banff, Alberta, Canada vào tháng 11 năm
1990 (Hội nghị này được hỗ trợ và tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ trưởng Tổng hợp Hội đồng Châu Âu, Tòa án Nhân quyền Châu Âu, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu, Viện Luật Nhân quyền So sánh Strasbourg, Tổ chức Luật Alberta và Trung tâm Quốc tế tại Đại học Calgary) Các mục tiêu chính của
Trang 19-Hội nghị là giáo dục pháp luật và nghiên cứu pháp lý, với tổng số 92 diễn giả đại diện cho 24 quốc gia khác nhau trình bày quan điểm của họ về 24 chủ đề nhân quyền Đặc biệt, phụ nữ và những người tham gia từ các nước đang phát triển đã mang lại một tầm nhìn mới về QCN cho các chủ đề đa dạng như công nghệ sinh sản, bạo lực nhà nước và công nghệ sinh học Do đó, chủ đề của cuốn sách này phân tích cụ thể sự phụ thuộc lẫn nhau của các vấn đề pháp lý,
xã hội, kinh tế, và môi trường; vượt qua các ranh giới quốc gia và quốc tế; và tinh thần đoàn kết cần thiết để giải quyết chúng
Ở Việt Nam, kể từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986), đặc biệt từ sau khi QCN trở thành quyền hiến định, được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và tiếp tục ghi nhận trong bản Hiến pháp 2013, nhu cầu nhận thức đầy đủ về QCN ngày càng trở nên cần thiết Hướng nghiên cứu này vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cấp bách, thời sự, nhạy cảm, vừa mang tính quốc tế, tính khu vực và quốc gia [152], vừa có ý nghĩa tư tưởng lý luận và thực tiễn rất quan trọng Do đó, QCN cũng đã được tiếp cận, định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể một số nghiên cứu tiêu biểu sau:
Đề tài khoa học cấp bộ: “Quan điểm C Mác-Ph.Ăngghen về quyền con người”, Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (1997), đề tài cấp bộ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người”, Cao Đức Thái chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội (1998), đề tài cấp cơ sở: “Tư tưởng nhân quyền trong một số học thuyết chính trị, pháp lý cơ bản”, Nguyễn Duy Sơn chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (2013) Trên cơ sở phân tích các luận điểm, quan điểm khác nhau về QCN trong lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình nghiên cứu này đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về QCN như: khái niệm QCN, nguồn gốc QCN, giá trị của QCN và các thuộc tính của QCN (như: mang tính nhân loại và tính giai cấp, gắn liền với nhà nước và pháp luật, được bảo vệ bằng pháp luật )
Trang 20Trong nghiên cứu của Bộ Tư pháp: “Việt Nam với vấn đề quyền con người” năm 2005 và trong giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật
Hà Nội năm 2013 cũng đưa ra khái niệm về QCN “là những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Quyền con người là quyền của tất cả mọi người” và “về pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế” Hai quan niệm này cũng chịu sự ảnh hưởng
của trường phái pháp quyền tự nhiên, coi QCN là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, hay những đặc quyền vốn có và khách quan của con người, đã kết hợp giữa hai yếu tố, yếu tố tự nhiên và yếu tố pháp lý, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc “được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” hay “được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia” lại là chưa thực sự hợp lý, vì như vậy QCN chỉ là những
nhu cầu, lợi ích tự nhiên được pháp luật ghi nhận, còn những gì không được ghi nhận thì không được gọi là QCN Theo quan niệm của tác giả: “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người” và “những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người)” là những giá trị mà con người nhận thức được còn cao hơn những gì đã được thừa nhận và quy định bởi quyền lực Những gì được thừa nhận và quy định chỉ là sự tiếp cận dần đến những gì mà con người nhận thức được Điều này thể hiện trong thực tiễn lịch sử của nhân loại, nhà nước, vì có những giai đoạn lịch sử ở quốc gia này, quốc gia khác, quyền của con người đã bị nhà nước hạn chế vì lợi ích của nhà nước - của giới cầm quyền cai trị xã hội
Chuyên đề: “Một số xu hướng mới về quyền con người tại Việt Nam hiện nay”, số 4/2017, của Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, đã đưa ra những khái
niệm, nhận định chung về các thế hệ QCN và xu hướng mới về QCN nói chung và thực tiễn tại Việt Nam nói riêng Công trình này như là một làn gió
Trang 21mới mẻ với việc đề cập những xu hướng mới về QCN tại Việt Nam như QCN gắn với sự phát triển khoa học kỹ thuật, QCN gắn với sự phát triển của y học, quyền của một số đối tượng dễ bị tổn thương, quyền của người khuyết tật…
Các nghiên cứu về QCN còn được thể hiện tập trung trong các sách chuyên khảo, sách tham khảo Trong đó, các sách được viết và xuất bản trước khi Quốc hội ban hành Hiến pháp 2013 đã tập trung là rõ hơn cả lý luận và thực tiễn về QCN như: Khái niệm QCN, vị trí của QCN trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cách tiếp cận nghiên cứu QCN Tiêu biểu trong số này có thể
kể đến như: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển”, do tác giả Võ Khánh Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2012; “Sổ tay Tìm hiểu pháp luật trong nước về quyền con người”, của Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2012; “Hỏi đáp về quyền con người” của nhóm tác giả Nguyễn Đăng
Dung - Phạm Hồng Thái - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học”, tập I và tập II, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010;
“Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội”, của Võ
Khánh Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2009
Ngược lại, những công trình nghiên cứu sau năm 2013 ngoài việc định hình cụ thể nội hàm khái niệm QCN trên cơ sở quy định của Hiến pháp, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề mang tính chuyên sâu, như: việc hạn chế QCN, nguyên tắc, thẩm quyền và phạm vi hạn chế QCN; lịch sử hình thành
và phát triển tư tưởng QCN ở Việt Nam; sự phát triển của quy định QCN trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ lịch sử… Có thể kể đến như:
“Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013”, của chủ biên Nguyễn Văn Hiển, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2019; “Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân: sách tham khảo”, của tác giả Lưu Đức Quang, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Trang 22năm 2016; “Tư tưởng Việt Nam về quyền con người”, tác giả Phạm Hồng Thái làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2016; “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam”,
của chủ biên Phạm Văn Ba, Nguyễn Thị Báo, Vũ Công Giao, Trần Thái Dương (tập thể tác giả), do Văn phòng thường trực về nhân quyền và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Phối hợp thực hiện) xuất bản, năm
2015; “Tiếp cận dựa trên quyền con người: Lý luận và thực tiễn”, của chủ
biên Vũ Công Giao, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016
1.1.2 Các nghiên cứu về đảm bảo quyền con người
Song song với việc nghiên cứu về QCN, trong chính những công trình nghiên cứu đã nêu cũng có những công trình có nghiên cứu về ĐBQCN hoặc
có gợi mở về việc đảm bảo hiện thực hóa QCN trong thực tế Khái niệm ĐBQCN được tiếp cận ở việc hiện thực hóa các QCN và các điều kiện ĐBQCN Trong đó, các công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập tới việc ĐBQCN thông qua các cơ chế ĐBQCN, gồm có ba cấp độ cơ bản: cấp độ quốc tế (của Liên hợp quốc), cấp Khu vực (châu Âu, châu Phi, Đông Nam Á ) và cấp
quốc gia [176], đồng thời khẳng định: “Quyền con người thường được thể hiện và đảm bảo bằng các quy định của pháp luật, dưới các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế…” (Tuyên ngôn thế giới về QCN, Đại hội đồng Liên hợp
quốc, ngày 10/12/1948)
Ở trong nước, ĐBQCN cũng được nghiên cứu từ khá sớm, ngay trong các đề tài khoa học cấp bộ, cấp cơ sở nghiên cứu về QCN [66], [116], [121] Trong Báo cáo Tổng quan đề tài khoa học cấp nhà nước, Chương trình khoa
học công nghệ cấp nhà nước KX-07 “Các điều kiện bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do Hoàng Văn
Hảo là chủ nhiệm (1995), nhóm nghiên cứu cho rằng: bảo đảm QCN gắn liền với dân chủ, nhà nước pháp quyền, pháp luật, dân trí, thông tin, kinh tế
Trang 23Trong đó khẳng định: dân chủ gắn bó hữu cơ với nhân quyền và là công cụ,
phương tiện đảm bảo và phát triển QCN Trong tham luận “Vai trò của Tòa
án trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân” tại Hội thảo quốc
tế “Chủ nghĩa Hiến pháp, cơ chế bảo hiến và quyền con người - kinh nghiệm Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam” (Kỷ yếu Hội thảo - Viện Nghiên cứu quyền con người - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2014), tác giả Hoàng Hùng Hải cho rằng “Bảo đảm quyền con người là hoạt động của các chủ thể thực hiện một hệ thống các điều kiện và biện pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức” [65, tr 1]
Các sách chuyên khảo: “Bảo hiến và vấn đề bảo vệ quyền con người”,
của chủ biên Đặng Minh Tuấn, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2015;
“Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, của chủ biên Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2011; “Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người”, của Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam do Vũ Văn Nhiêm chủ biên, Biên soạn: Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, năm
2013; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, của tác giả Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, năm 2004 đều nghiên cứu về các phương pháp ĐBQCN ở các giác
độ khác nhau Trong đó, tác giả Trần Ngọc Đường đã phân tích vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc ĐBQCN thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, thông qua hệ thống cơ quan hành pháp, thông qua hệ thống cơ quan tư pháp, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân hay thông qua hành
vi hợp pháp và trình độ văn hóa pháp lý của mỗi cá nhân công dân
Luận án tiến sĩ luật học của Trần Thị Hòe, bảo vệ năm 2015 tại Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Nhà nước Việt Nam với việc đảm bảo
Trang 24quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày nay” đã nêu và phân
tích khái niệm QCN, các đặc trưng của QCN, phân biệt nó với quyền công dân, đồng thời từ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm QCN, tác giả cho rằng: “bảo đảm quyền con người là việc các chủ thể (cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội…) có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp, cách thức để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người nhằm bảo vệ và thực thi hiệu quả các quyền và tự do cơ bản của con người trong các hoạt động của mình, ngăn ngừa sự lạm dụng, vi phạm quyền con người từ phía các chủ thể khác”
Đối với cơ chế ĐBQCN của các nước trên thế giới, tiêu biểu là nghiên cứu của tác giả Bùi Nguyên Khánh, Viện Nhà nước và Pháp luật, năm 2010
về: “Cơ chế bảo vệ quyền con người tại Liên minh Châu Âu” Trọng tâm của
nghiên cứu hướng đến các quyền tự do cơ bản, các chế định cơ bản trong hệ thống thể chế Hiến pháp của Liên minh Châu Âu và vai trò của Tòa án nhân quyền của Châu Âu, Hiến chương về các quyền cơ bản trong Liên minh Châu
Âu trong việc ĐBQCN
Tác giả Hồ Sỹ Sơn, Viện Nhà nước và Pháp luật cũng có bài viết:
“Giám sát Hiến pháp - Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người: Nhìn từ góc
độ kinh nghiệm nước ngoài” Bài viết phân tích sự phát triển của hệ thống
giám sát Hiến pháp ở một số nước, phân tích cơ quan giám sát Hiến pháp: thẩm quyền, các nguyên tắc và các hình thức bảo vệ con người, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế giám sát Hiến pháp bảo vệ QCN
1.1.3 Các nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong đảm bảo quyền con người
Pháp luật trong nhà nước pháp quyền không phải là thứ pháp luật bất
kì mà phải là pháp luật chứa đựng một số thuộc tính nội tại [163, tr 18] (đòi hỏi về mặt nội dung) Thuộc tính nội tại quan trọng nhất của pháp luật trong
Trang 25nhà nước pháp quyền là bảo vệ, đảm bảo quyền con người Nói đúng hơn, bảo
vệ các quyền và tự do cơ bản của con người là nội hàm của nhà nước pháp quyền [134, tr 63]
Bên cạnh chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội thì pháp luật có một mục đích cụ thể khác là bảo vệ cá nhân trong quan hệ với các cá nhân khác cũng như quan hệ với nhà nước Theo các chuyên gia của dự án World Justice Project [188], trong nhà nước pháp quyền, để đảm bảo quyền, tự do cơ bản của con người, pháp luật phải đáp ứng năm yêu cầu cơ bản, trong đó có
yêu cầu “pháp luật phải rõ ràng, được công bố, ổn định” Các yêu cầu này
tương ứng với ba tiêu chí về tính dễ tiếp cận, tính ổn định và tính khả đoán của pháp luật Ba yêu cầu này có mối liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho chủ thể pháp luật
Để đạt được mục tiêu bảo vệ QCN, pháp luật trong mô hình nhà nước pháp quyền phải đáp ứng được các tiêu chí nhất định Đây cũng là khía cạnh nghiên cứu mới về nhà nước pháp quyền và QCN trong những năm gần đây tại một số quốc gia:
Geranne Lautenbach, The Concept of the Rule of Law and the European Court of Human Rights, (Quan niệm pháp quyền và Tòa án châu
Âu về quyền con người), Nxb Oxford University Press, 2013, nghiên cứu về quan niệm của Tòa Án nhân quyền châu Âu thông qua các phán quyết của Tòa án này liên quan đến chất lượng của VBQPPL của các quốc gia châu Âu
Paul Craig, Formal and Substantive Conceptions of the Rule of Law:
An Analytical Framework, (Quan niệm pháp quyền hình thức và nội dung: khuôn khổ phân tích) in trong Richard Bellamy (ed), The Rule of Law and the Separation of Powers (Pháp quyền và phân quyền), Nxb Routledge, 2005
Công trình này phân tích các quan niệm truyền thống về pháp quyền và nhấn
mạnh đến xu hướng đề cao pháp quyền về mặt nội dung (Substantive Rule of Law) trong những năm gần đây trên thế giới
Trang 26Patricia Rrapi, L’accessibilité et l’intelligibilité de la loi en droit constitutionnel, (tính dễ tiếp cận và dễ hiểu của luật trong luật hiến pháp)
Nxb Dalloz, 2014 Nghiên cứu này phân tích về tính dễ tiếp cận và dễ hiểu của luật pháp như là những điều kiện để bảo vệ QCN Tác giả sử dụng các phán quyết gần đây của Hội đồng Hiến pháp Cộng hòa Pháp cũng như các phán quyết của Tòa án nhân quyền châu Âu để làm minh họa
Ở Việt Nam, hiện chỉ có một vài nghiên cứu bước đầu đề cập về mối liên hệ giữa chất lượng pháp luật và QCN Có thể kể ra một vài nghiên cứu:
Sách chuyên khảo của TS Nguyễn Văn Cương (Chủ biên), Tính ổn định của pháp luật: Nhận thức, thực tiễn và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, 2021, công trình này phân tích vai trò của ổn định của pháp luật trong việc bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh cũng như QCN Nguyễn Văn
Quân, Chất lượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2018; Một số tiêu chuẩn của pháp luật trong nhà nước pháp quyền dưới góc độ bảo vệ quyền con người, Tạp chí Pháp luật về quyền con
người, số 4/2021 Các nghiên cứu này phân tích vai trò của pháp luật trong đảm bảo quyền và tự do cá nhân, chỉ ra những tiêu chuẩn mà pháp luật phải đáp ứng nhằm bảo vệ các quyền, tự do cơ bản
1.1.4 Các nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản QPPL là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu quản lý của nhà nước VBQPPL với những yếu tố cấu thành của nó đã tạo
ra những ưu thế đặc biệt giúp các chủ thể quản lý làm cơ sở cho hoạt động quản lý đạt mục tiêu mong muốn
Ở Việt Nam, VBQPPL là hình thức pháp luật được sử dụng chủ yếu (chỉ từ khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, ngày 01/01/2017, thì án lệ và tập quán mới được sử dụng trong xét xử tại Tòa án) Khái niệm VBQPPL lần đầu được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 và được hướng dẫn
Trang 27chi tiết tại Nghị định 101/NĐ-CP ngày 23/8/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành VBQPPL Theo quy định tại Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL 1996 và hướng dẫn tại Nghị định số 101/NĐ-CP thì VBQPPL là văn bản có đầy đủ các yếu tố sau đây: (i) Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với hình thức, trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Ban hành VBQPPL và hướng dẫn tại Nghị định; (ii) Văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc nhóm đối tượng, (iii) Có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương và (iv) được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Cho đến nay, dù đã qua 05 lần sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế {vào các năm: năm 2002 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL 1996); năm
2004 (Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND); năm 2008 (Luật Ban hành VBQPPL); năm 2015 (Luật Ban hành VBQPPL), năm 2020 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL)} song với quy định hiện hành tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) thì khái niệm VBQPPL và 04 đặc trưng nêu trên của VBQPPL từ Luật Ban hành VBQPPL 1996 là dường như không thay đổi
Chính vì vậy, các tài liệu nghiên cứu trong nước cơ bản dựa trên quy định của Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để xem xét, phân tích, bình luận, cho ý kiến đối với các đặc trưng này Trong đó, nhóm các nghiên cứu là giáo trình thì tuân theo đúng quy định của Luật Ban hành VBQPPL để xem xét, phân tích, hướng dẫn về khái niệm và các đặc trưng cấu thành nên khái niệm VBQPPL; trong khi đó, các nghiên cứu khác lại căn cứ lý luận và thực tiễn để phân tích làm rõ giá trị của các yếu tố cấu thành QPPL, từ đó, đưa ra các đặc trưng mà tác giả cho rằng đó là cốt lõi của
Trang 28một VBQPPL, có thể những đặc trưng mà tác giả đúc kết qua nghiên cứu của mình khác với các đặc trưng đã được quy định tại Luật và hướng dẫn tại Nghị định Cụ thể có thể kể đến là:
Tác giả Nguyễn Cửu Việt tại bài nghiên cứu: “Một luật hay hai luật”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24, năm 2007 thì phân tích về giá trị của VBQPPL Tác giả khẳng định: “Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chính là “cỗ máy cái” trong cơ chế xây dựng pháp luật” Còn khái niệm VBQPPL là hạt nhân trong “cỗ máy cái” ấy Việc đưa ra khái niệm VBQPPL
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động lập pháp, nó là cơ sở pháp lý
để xác định ai là người ban hành ra pháp luật? Văn bản nào được coi là VBQPPL? Tiêu chí nào để phân định VBQPPL?
Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về KTVB QPPL, gồm: “Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật” năm 2002 của Bộ
Tư pháp; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 của Bộ Tư pháp “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - thực trạng và giải pháp hoàn thiện”; Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp năm 2012 “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra - rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2014 của Bộ Tư pháp “Hoàn thiện thể chế phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin, theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2018 của Bộ Tư pháp:”Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật
và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Kiểm tra, rà soát, xử lí, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật” của TS Bùi Thị Đào (2010)… đều có nghiên cứu về khái niệm
VBQPPL Mặc dù ở các thời điểm nghiên cứu khác nhau, song các công trình này đều sử dụng khái niệm VBQPPL đã được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL và hướng dẫn tại Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn Luật Ban
Trang 29hành VBQPPL ở thời điểm nghiên cứu là cơ sở lý luận cho nghiên cứu của
mình Theo đó, tại Đề tài Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2018 của
Bộ Tư pháp), “văn bản quy phạm pháp luật là một trong các đối tượng của
hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật”, “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” (Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL 2015)
Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội: VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống [128, tr 355]
Trong bài “Bàn về khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật” trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập
pháp, số 15(271), tháng 8/2014, tác giả Nguyễn Minh Đoan kiến nghị sửa khái
niệm VBQPPL trong Luật Ban hành VBQPPL theo hướng quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành và bảo đảm thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hình thức, nội dung phù hợp với thẩm quyền của cơ quan ban hành, được thực hiện nhiều lần để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích cộng đồng” xuất phát từ 05 lý do, trong đó, tác giả cho rằng việc ban
hành và bảo đảm thực hiện VBQPPL phải theo trình tự, thủ tục nhất định, trình tự này có thể được quy định trong các văn bản pháp luật khác chứ không chỉ quy định tại Luật Ban hành VBQPPL và mục đích ban hành VBQPPL là
để điều chỉnh quan hệ xã hội vì lợi ích cộng đồng ở các phạm vi khác nhau tùy thuộc vào tính chất, nội dung của mỗi văn bản Như vậy, ở khái niệm này,
Trang 30tác giả đã mở rộng phạm vi quy định trình tự, thủ tục ban hành VBQPPL và đồng thời, siết chặt mục đích ban hành VBQPPL là vì lợi ích cộng đồng
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy VBQPPL không phải là một khái niệm mới nhưng để đưa ra một định nghĩa chính xác, thể hiện đúng bản chất và đặc điểm của loại văn bản này thì cần nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc Nhất là khi VBQPPL thể hiện ý chí, mục đích của Nhà nước đối với một quan
hệ xã hội nhất định, là chính sách của Nhà nước đối với vấn đề đó, quan hệ xã hội đó, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý của bất cứ Nhà nước nào trên thế giới, đặc biệt việc nghiên cứu khái niệm này trong việc ĐBQCN dưới góc độ luận án tác giả đưa ra lại càng cần thiết
1.1.5 Các nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể, nhìn chung các nước đều thiết lập cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp luật Thẩm quyền xem xét, xử lý đối với các văn bản trái pháp luật có thể được giao cho Tòa án thường (như Hoa Kỳ, Indonesia, Malaysia, Philippines), Tòa án Hiến pháp (như Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Áo, Liên bang Nga, các nước SNG và các nước Đông Âu) hoặc Hô ̣i đồng hiến pháp (Cộng hòa Pháp, Angiêri), Thanh tra Chính phủ (Trung Quốc) Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà luật học ở nhiều nước được xuất bản dưới dạng sách chuyên khảo hoặc bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về cơ chế đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp luật, như: Judicial Review in Comparative Law (Allan R.Brewer- Carías (1989) - Cambridge University Press, Cambridge); Marbury v Madison and the establishment of judicial review (Megan Nichol); “Confucian Constitutionalism? The Emergence of Constitutional Review in Korea and Taiwan” (Tom Ginsburg (2002) - Law & Social Inquiry); Judicial Review in New Democracies: Constitutional Courts in Asian Cases (Tom Ginsburg (2003) - Cambridge University Press, New York)
Trang 31Còn theo thuật ngữ pháp lý do Nhà xuất bản Đại học Pháp phát hành tái bản lần thứ 2 năm 1990, thuật ngữ kiểm tra được hiểu là “sự kiểm tra phù hợp của một quyết định, một tình trạng, một xử sự với một chuẩn mực; là hoạt động nhằm kiểm tra xem một cơ quan công quyền, một cá nhân hoặc một văn bản có tôn trọng hay không tôn trọng yêu cầu về chức năng, nhiệm
vụ hoặc các quy tắc đặt ra” [Dẫn theo 146]
Hiện nay, các công trình nghiên cứu trên thế giới về cơ bản đã làm rõ lịch sử phát triển và các cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp luật và những đặc trưng của nó Một số công trình đã chỉ ra nhu cầu tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là bảo vệ Hiến pháp và các văn bản pháp luật, sự đòi hỏi của cơ chế bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước và thực thi hiệu quả pháp luật, nghiên cứu về cơ chế bảo hiến, tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền, vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực; cơ chế xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của VBQPPL của một số nước trên thế giới và thường gắn liền với cơ chế bảo hiến Việc kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của VBQPPL luôn là vấn đề được các quốc gia quan tâm, như một nhu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, hay để duy trì trật tự của một quốc gia Ngoài ra, các nghiên cứu đã đưa ra và phân tích ưu, nhược điểm của nhiều mô hình bảo hiến khác nhau trên thế giới, có phân tích và đánh giá sự phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động KTVB QPPL được thực hiện từ năm 2003 theo quy định tại Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL Trước đó, mặc dù khái niệm KTVB QPPL đã được
đề cập tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL năm 2002 và cũng có một số nghiên cứu của Bộ Tư pháp về hoạt động KTVB QPPL, song những nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi nội bộ, phục vụ
Trang 32việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp Do vậy, các nghiên cứu về KTVB QPPL được công bố cơ bản đều được thực hiện sau năm 2003
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu khoa học gồm: “Hoàn thiện
cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật” năm 2002 của Bộ Tư pháp; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 của Bộ Tư pháp “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - thực trạng và giải pháp hoàn thiện”; Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp năm 2012 “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra - rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2014 của Bộ Tư pháp “Hoàn thiện thể chế phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin, theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực”; Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2018 của Bộ Tư pháp:”Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật
và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Kiểm tra, rà soát, xử lí, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật” của TS Bùi Thị Đào (2010)…
Ngoài ra, còn có một số luận án, luận văn, một số bài báo đăng trên các tạp chí như Luật học, Nhà nước và pháp luật, Dân chủ và Pháp luật… có
liên quan đến nội dung này, như: “Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ của Đoàn Thị Tố Uyên, bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Các bài viết: “Nhìn lại công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau 05 năm triển khai - Kết quả
và những vấn đề đặt ra” (Lê Hồng Sơn), “Thực trạng năng lực trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua” (Lê Thị Uyên),
“Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin” (Nguyễn Thị Việt Nga), “Kiểm tra, xử lý văn bản có chứa quy phạm pháp luật” (Nguyễn Thị Thu Hòe) đăng trên số chuyên đề về “Kiểm tra và rà soát
văn bản quy phạm pháp luật” của Tạp chí Dân chủ và pháp luật xuất bản năm
Trang 332009; “Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” (Đoàn Thị Tố Uyên, Tạp chí Luật học, số 6/2011); “Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật” (Tào Thị Quyên, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2011); “Một số quan điểm hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật” (Nguyễn Văn Tuấn, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp tháng 5/2013),…
Các nghiên cứu này, ở những phạm vi khác nhau, đã đưa ra những định nghĩa về KTVB QPPL Trong đó, quan điểm khá phổ biến (trong các công trình [5], [6], [10], [11], [13], [132], [140], [143], và các bài viết: [81], [108], [114], [142]) hiểu khái niệm KTVB QPPL theo quy định tại Luật Ban hành VBQPPL và hướng dẫn tại Nghị định hướng dẫn thi hành Theo đó,
“kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật” (Khoản 4 Điều 2 Nghị định số
dự thảo văn bản; hoạt động KTVB QPPL sau khi VBQPPL được ban hành bao gồm hoạt động xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản ngay sau khi văn bản này được ban hành (hoạt động KTVB QPPL) và hoạt động xem xét tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của VBQPPL sau khi văn bản đã được áp dụng trên thực tiễn (trong Luật Ban hành VBQPPL thì hoạt động này được gọi là hoạt động rà soát VBQPPL) Tuy nhiên, qua
Trang 34nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành và trong thực tiễn pháp lý nhiều năm qua cho thấy, hoạt động xem xét, đánh giá chất lượng dự thảo văn bản được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL là hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL; việc xem xét, đánh giá chất lượng văn bản sau khi văn bản đã được ban hành và được thực tế kiểm chứng được quy định là hoạt động rà soát VBQPPL (khoản 5 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) Chỉ có hoạt động đánh giá chất lượng VBQPPL ngay sau khi VBQPPL này được ban hành mới được xác định là hoạt động KTVB QPPL Do vậy, cách tiếp cận khái niệm KTVB QPPL theo nghĩa rộng có thể dẫn tới sự chồng lấn giữa các hoạt động, gây khó khăn cho việc tiếp cận nghiên cứu
1.1.6 Các nghiên cứu về đảm bảo quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc gia đều cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc của con người, vì thế bảo vệ các quyền của con người là một yếu tố khách quan và là một xu hướng phát triển của quốc gia Chính vì vậy, các nghiên cứu về QCN và ĐBQCN khá phổ biến (như đã trình bày tại Phần 1.1.1 và 1.1.2 ở trên) Đồng thời, pháp luật, VBQPPL là công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội, ĐBQCN; việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của VBQPPL là trọng tâm, cơ sở đảm bảo hiệu quả quản lý của Nhà nước Chính vì vậy, các nội dung này thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu và cả người thực thi pháp luật (như đã trình bày tại mục 1.1.3 và 1.1.4 của Chương này)
Tuy nhiên, qua tìm hiểu cho thấy, ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL được thể hiện như thế nào, bao gồm những nội dung gì lại là một mảng nghiên cứu khá lớn còn trống trong những công trình đã ra đời trước đó Như trên đã trình bày, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những vấn
đề về QCN và ĐBQCN hay hoạt động KTVB QPPL mà chưa có sự xâu chuỗi hai vấn đề này ở một góc độ toàn diện và tổng thể Một số công trình cũng
Trang 35khai thác vấn đề này nhưng lại ở một khía cạnh khác như sách chuyên khảo:
“Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người” của Trường
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013; bài đăng Tạp chí Tổ chức Nhà nước của tác giả Đặng Dũng Chí, Viện Nghiên cứu QCN, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017: “Bảo hiến vì quyền con người
trong Hiến pháp 2013”, bài viết: “Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay” của tác giả Trần
Thị Hòe, Viện Nghiên cứu QCN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2020… Bài đăng Tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2020 của đồng tác
giả Vũ Hồng Anh và Nguyễn Thị Thủy về: “Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam”,
“Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm và thực hiện quyền con người” của tác
giả Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Nhân dân điện tử năm 2009… Những nghiên cứu này tập trung xem xét việc ĐBQCN trong những hoạt động khác nhau của nhà nước và xã hội Trong đó, tùy từng phạm vi nghiên cứu, trên cơ sở nền tảng
lý luận đã được thừa nhận, các tác giả đã đánh giá thực tiễn và đề xuất hoặc gợi
mở các giải pháp, phương hướng hoặc định hướng các hoạt động nhằm ĐBQCN hoặc xác định đầy đủ vị trí, vai trò của các hoạt động trong việc ĐBQCN Do vậy, có thể nói, nghiên cứu trực tiếp về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL là lĩnh vực chưa được nghiên cứu Đây cũng chính là nhiệm vụ nghiên cứu chính mà tác giả muốn tập trung để lấp đầy khoảng trống của những công trình nghiên cứu đã ra đời trước đó
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và hướng phát triển nội dung đề tài luận án
1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Nhìn chung, các công trình đã luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về QCN, ĐBQCN, VBQPPL và KTVB QPPL; đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN hoặc hiệu quả của hoạt động KTVB QPPL
Trang 36Trong đó, về mặt lý luận, các nghiên cứu về QCN và ĐBQCN đã đưa ra được những khái niệm về QCN, sự hình thành và phát triển của khái niệm QCN Hầu hết các nghiên cứu về VBQPPL, KTVB QPPL đã làm sáng tỏ khái niệm VBQPPL, KTVB QPPL, sự cần thiết phải KTVB QPPL Trong số đó, cũng có nghiên cứu [13] đã phân tích khá đầy đủ các vấn đề lý luận của hoạt động KTVB QPPL như: nguyên tắc và phương thức KTVB QPPL; đối tượng, thẩm quyền, nội dung và trình tự, thủ tục KTVB QPPL
Về mặt thực tiễn, các nghiên cứu về ĐBQCN đã đánh giá ở những khía cạnh khác nhau về thực tiễn ĐBQCN và vai trò của pháp luật trong việc ĐBQCN Các nghiên cứu về KTVB QPPL đã có những đánh giá về thực trạng của hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam vào thời điểm nghiên cứu và nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai hoạt động này
Về giải pháp, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn ĐBQCN hoặc thực tiễn, lý luận về KTVB QPPL, các nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp khá cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả ĐBQCN hoặc nâng cao hiệu quả hoạt động KTVB QPPL để đáp ứng tình hình kinh tế - xã hội tại thời điểm nghiên cứu
Các nghiên cứu này đã tạo nên các giá trị khoa học cần được tác giả luận án tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhằm thực hiện mục tiêu chính của luận án
Tuy nhiên, qua xem xét tình hình nghiên cứu cũng cho thấy, trong khi các nghiên cứu về QCN và ĐBQCN khá phong phú và ở nhiều khía cạnh thì các nghiên cứu về KTVB QPPL nói chung tính đến nay không nhiều và không mang tính hệ thống Nhìn chung, các nghiên cứu về KTVB QPPL thường ở phạm vi hẹp, mang tính độc lập nghiên cứu hoạt động này mà chưa
có tính liên thông, kết nối giữa KTVB QPPL với các hoạt động đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật Đặc biệt, chưa có nghiên cứu về ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL Chính vì vậy, trong các nghiên cứu này, các đánh giá không mang tính liên ngành, chưa toàn diện, khách quan, dẫn tới hệ thống các giải pháp được đề xuất từ các công trình đã nghiên
Trang 37cứu còn phiến diện, đơn nhất ở ngành, lĩnh vực nghiên cứu Về thực trạng, phần lớn các công trình lại chưa thu thập đầy đủ thông tin, dữ liệu về thực trạng hoạt động KTVB QPPL, hoặc hoạt động này tuy được thực hiện nhưng nội dung thiếu thuyết phục, chưa bám sát, chưa thực sự có ý nghĩa trong việc đánh giá chính xác, khách quan hoạt động KTVB QPPL Ngoài ra, vào thời điểm nghiên cứu, các công trình này được triển khai trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng, các quy định tại Luật Ban hành VBQPPL năm
1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002); Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 hoặc Luật Ban hành VBQPPL 2008; Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý VBQPPL nên nhiều vấn đề nghiên cứu đến nay đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; hoặc một số vấn đề nghiên cứu về
cơ bản đã được triển khai trên thực tiễn, tuy nhiên, vẫn cần phải củng cố, hoàn thiện thêm; hoặc các khảo sát, điều tra, đánh giá thực tiễn trong các nghiên cứu này đến nay không còn phù hợp nữa…
Tình hình hiện nay đã đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, trong đó hoạt động KTVB QPPL đóng vai trò quan trọng Bên cạnh đó, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-
CP ngày 14/5/2016 được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 cũng đã được hoàn thiện bằng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành VBQPPL năm
2020 và Nghị định số 154/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2019 quy định nhiều nội
Trang 38dung mới và toàn diện hơn về hoạt động KTVB QPPL so với Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trước đây Một trong những nhiệm vụ chính mà văn kiện và các văn bản này hướng đến là đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy tiềm lực con người Như vậy, cần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL từ việc nâng cao hiệu quả hoạt động KTVB QPPL, là một hoạt động hữu hiệu để bảo vệ Hiến pháp Hoạt động này về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vẫn còn nhiều nội dung cần nghiên cứu, xung quanh các vấn đề như: Thẩm quyển KTVB; hình thức và thẩm quyển xử
lý VBQPPL trái pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật; trách nhiệm bồi thường khi áp dụng văn bản trái pháp luật, phạm
vi KTVB QPPL…, đặc biệt là việc thể hiện những vấn đề đó luôn xâu chuỗi với ĐBQCN, bảo vệ và thúc đẩy QCN là mục đích mà tác giả hướng tới và tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong luận án
1.2.2 Hướng phát triển nội dung đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới như Liên minh Châu Âu, Pháp, Trung Quốc (xem Phụ lục số 6 của luận án) và tập hợp kết quả của những công trình nghiên cứu đã có trước đây, thực tiễn KTVB QPPL gần 20 năm qua, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện những khoảng trống cơ bản liên quan đến nội dung của đề tài như: VBQPPL, khái niệm và một
số nội dung cơ bản của ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL (như: chủ thể được ĐBQCN, chủ thể có trách nhiệm ĐBQCN; nội dung, quy trình và các phương diện ĐBQCB); các tiêu chí đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL…
Luận án cũng nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay Từ đó đánh giá hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động này, xác định những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL
Trang 39trên thực tế để đưa ra những định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở nước ta hiện nay
Quá trình nghiên cứu, sưu tầm, thu thập những kết quả hoạt động KTVB làm cơ sở cho những kết luận, lập luận chính xác để luận án không chỉ
có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn Những nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật cũng như nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tiễn của những chủ thể có thẩm quyền
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1 Việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL được thực hiện như thế nào, thông qua các phương diện gì?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Việc ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL trong thời gian qua đã thu được kết quả như thế nào, có ưu điểm, hạn chế gì, nguyên nhân của những hạn chế đó là gì?
Câu hỏi nghiên cứu 3 Quan điểm và giải pháp nào nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Thời gian qua, QCN đã được đảm bảo thông qua hoạt động KTVB QPPL Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động KTVB QPPL còn có nhiều hạn chế, bất cập đã làm giảm hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động này Việc nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí, vai trò của hoạt động KTVB QPPL trong việc ĐBQCN, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTVB QPPL, pháp luật có liên quan đến QCN và nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống pháp luật này sẽ nâng cao hiệu quả ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay
Tiểu kết Chương 1
KTVB QPPL ở Việt Nam hiện nay là hoạt động được thực hiện từ năm 2013 theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
Trang 401996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và hướng dẫn tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính minh bạch, khả thi của hệ thống VBQPPL do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp ban hành Thông qua hoạt động KTVB QPPL, các QCN đã được đảm bảo
Các nghiên cứu về QCN, ĐBQCN và KTVB QPPL được thực hiện khá đa dạng cả ở trong nước và nước ngoài Các nghiên cứu này đã hình thành nên hệ thống lý luận về QCN, ĐBQCN; khái niệm, thẩm quyền, đối tượng, nội dung, nguyên tắc thực hiện KTVB QPPL, làm rõ lịch sử phát triển
và các cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp luật; thực trạng thực hiện hoạt động KTVB tại thời điểm nghiên cứu Từ các nghiên cứu này, việc đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTVB QPPL cũng đã được thực hiện, nhiều đề xuất đã được triển khai trong thực tiễn và đã thu được những kết quả bước đầu
Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài luận
án Từ đó làm giàu thêm hệ thống nghiên cứu lý luận và thực tiễn về QCN, ĐBQCN và hoạt động KTVB QPPL, ĐBQCN thông qua hoạt động KTVB QPPL, đặt nền móng cho việc nghiên cứu về các hoạt động ĐBQCN trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể của cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay