1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm thực phẩm chức năng tại công ty cổ phần dược phẩm nam hà

91 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm thực phẩm chức năng tại công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Thị Mơ
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 642,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I: Tổng quan về hợp đồng điện tử và rủi ro trong (4)
    • I. Thương mại điện tử và hợp đồng điện tử (4)
      • 1. Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử (4)
        • 1.1. Khái niệm thương mại điện tử (4)
        • 1.2. Đặc điểm của thương mại điện tử (5)
      • 2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng điện tử (6)
        • 2.1. Khái niệm về hợp đồng điện tử (6)
        • 2.2. Đặc điểm của hợp đồng điện tử (7)
    • II. Giao kết hợp đồng điện tử và những rủi ro phát sinh (10)
      • 1.1. Khái niệm giao kết hợp đồng điện tử (10)
      • 1.2. Chủ thể của hợp đồng điện tử (11)
      • 1.3. Hình thức hợp đồng điện tử (12)
      • 1.4. Thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng điện tử (16)
      • 1.5. Nội dung của hợp đồng điện tử (19)
      • 1.6. Chữ ký điện tử và bằng chứng về hợp đồng điện tử (22)
      • 2. Rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử (24)
        • 2.1. Khái niệm rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử (24)
        • 2.2. Phân loại rủi ro (24)
        • 2.3. Tác động của những rủi ro trong khâu giao kết hợp đồng điện tử đến việc thực hiện hợp đồng điện tử và những rủi ro phát sinh do thực hiện hợp đồng điện tử (32)
    • I. Thực trạng khung pháp lý về giao kết hợp đồngt ở Việt Nam (33)
      • 1. Những thuận lợi (33)
        • 1.1. Đã ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005-đạo luật cơ bản đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh giao kết hợp đồng điện tử nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho giao kết hợp đồng điện tử (33)
        • 1.2. Đã kịp thời ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (34)
        • 1.3. Nhiều quy định cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử đã từng bước hình thành (37)
      • 2. Những bất cập (41)
        • 2.1. Những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng điện tử chưa đầy đủ, chưa cụ thể (41)
        • 2.2. Thiếu quy định cụ thể về xử lý các hành vi gian lận trong giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam (42)
        • 2.3. Chưa có quy định cụ thể về hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên (43)
      • 3. Thực trạng giao kết hợp đồng điện tử tại Việt Nam và những rủi ro phát sinh (44)
        • 3.1. Thực trạng giao kết hợp đồng điện tử tại Việt Nam (44)
        • 3.2. Những khó khăn, yếu kém và nguyên nhân (54)
        • 3.3. Những rủi ro phát sinh từ giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử (56)
  • Chương III Giải pháp phòng tránh rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam (33)
    • I. Dự báo về tình hình giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam trong thời (59)
      • 1. Cơ sở dự báo (59)
        • 1.1. Xu hướng phát triển của TMĐT trên thế giới (59)
        • 1.2. Xu hướng phát triển của TMĐT ở Việt Nam (60)
        • 1.3. Việt Nam gia nhập WTO giúp Việt Nam dễ dàng giao kết hợp đồng điện tử với 150 nước thành viên (62)
    • II. Giải pháp phòng tránh rủi ro trong giao kết hợp đồng điện tử ở Việt (63)
      • 1. Nhóm giải pháp vĩ mô (63)
        • 1.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử (63)
        • 1.2. Nhóm giải pháp về đào tạo đội ngũ, đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền về Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và khuyến khích việc (67)
      • 2. Nhóm biện pháp vi mô (69)
        • 2.1. Đối với doanh nghiệp (69)
        • 2.2. Giải pháp từ phía người tiêu dùng (75)
      • 3. Các giải pháp khác (82)
  • KẾT LUẬN (83)

Nội dung

Tổng quan về hợp đồng điện tử và rủi ro trong

Thương mại điện tử và hợp đồng điện tử

1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử

1.1 Khái niệm thương mại điện tử

C ó nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại điện tử

Theo luật mẫu về thương mại điện tử (TMĐT) của UNCITRAL, TMĐT được định nghĩa là tất cả các hoạt động thương mại thông thường được thực hiện qua các phương tiện điện tử, đặc biệt là mạng Internet Điều này cho thấy TMĐT không phải là một lĩnh vực kinh doanh tách biệt, mà là sự phát triển nâng cao của thương mại truyền thống trong bối cảnh thế giới số.

Theo định nghĩa của WTO, thương mại điện tử (TMĐT) bao gồm các hoạt động sản xuất, bán hàng, quảng cáo và phân phối sản phẩm được thực hiện qua Internet Các sản phẩm này được mua bán và thanh toán trực tuyến, nhưng được giao nhận một cách hữu hình Tất cả sản phẩm được giao nhận đều được xem như thông tin số hóa thông qua mạng Internet.

Theo ỦY BAN CHÂU ÂU, thương mại điện tử (TMĐT) là hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử, dựa trên việc xử lý và truyền tải dữ liệu dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh TMĐT bao gồm nhiều hành vi như mua bán hàng hóa, giao nhận nội dung kỹ thuật số, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng Hoạt động TMĐT áp dụng cho cả thương mại hàng hóa, như hàng tiêu dùng và thiết bị y tế, lẫn thương mại dịch vụ, bao gồm dịch vụ cung cấp thông tin và tư vấn pháp lý.

1 tài chính), các hoạt động truyền thông (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới như siêu thị ảo” 2

TMĐT, theo cách hiểu quốc tế, được xem là sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại.

Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005 không định nghĩa thương mại điện tử mà chỉ quy định giao dịch điện tử là giao dịch thực hiện bằng phương tiện điện tử Luật này xác định phương tiện điện tử là các công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự Phạm vi điều chỉnh của Luật rất rộng, bao gồm các giao dịch điện tử trong nhiều lĩnh vực, không chỉ trong kinh doanh mà còn trong lĩnh vực dân sự và quản lý nhà nước Dựa trên luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử, Luật Giao dịch điện tử Việt Nam có cách tiếp cận rộng rãi, phù hợp với sự phát triển tương lai của TMĐT Việc hiểu TMĐT theo nghĩa rộng sẽ giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng giảm bớt lúng túng, đồng thời coi các phương tiện như fax, telex, điện thoại là những công cụ thực hiện TMĐT, cho thấy sự phát triển tất yếu của hình thức kinh doanh qua Internet trong cuộc cách mạng thông tin.

1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử

TMĐT không sử dụng giấy tờ để ghi nhận giao dịch Tất cả các tài liệu đều được lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử, băng ghi âm hoặc các phương tiện điện tử khác.

2

3

Đặc điểm này đã làm thay đổi cơ bản văn hóa giao dịch, khi độ tin cậy không còn phụ thuộc vào cam kết bằng giấy mà dựa vào niềm tin lẫn nhau giữa các đối tác Giao dịch không dùng giấy tờ giúp giảm đáng kể chi phí và nhân lực cho việc chu chuyển, lưu trữ và tìm kiếm văn bản Tuy nhiên, điều này cũng tiềm ẩn rủi ro, vì việc không lưu trữ hợp đồng có thể dẫn đến thiếu bằng chứng trong các tranh chấp kiện tụng.

TMĐT phụ thuộc vào công nghệ thông tin và trình độ người sử dụng, dẫn đến sự khác biệt trong cách nhìn nhận về TMĐT giữa các quốc gia có trình độ khoa học công nghệ khác nhau Do đó, nguồn nhân lực trong lĩnh vực TMĐT cần được đào tạo liên tục để theo kịp sự phát triển của khoa học.

- TMĐT phụ thuộc vào mức độ số hóa

TMĐT phát triển nhanh chóng nhờ vào việc áp dụng công nghệ số, cho phép tất cả các bước trong quá trình giao dịch được thực hiện qua mạng máy tính.

2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng điện tử

2.1 Khái niệm về hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử (e-contracts hay online contracts) là một hình thức giao dịch điện tử cơ bản Theo điều 11 của Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL năm 1986, hợp đồng điện tử được định nghĩa là “hợp đồng được ký kết thông qua các phương tiện điện tử, trong đó hợp đồng hoặc một phần của hợp đồng được lập dưới dạng dữ liệu điện tử.” Điều này cho thấy hợp đồng điện tử vẫn giữ nội dung như hợp đồng thông thường nhưng được ký kết qua các phương tiện điện tử Phương tiện điện tử được hiểu là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.” Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam năm 2005 cũng quy định về vấn đề này.

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được hình thành dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật Thông điệp dữ liệu, theo Luật này, được định nghĩa rõ ràng.

“Thông tin được tạo ra, gửi đi, được nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử”,

6 < Điều 4 khoản 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005>

Phương tiện điện tử, được định nghĩa là các công cụ hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số và các công nghệ tương tự, đóng vai trò quan trọng trong thương mại điện tử (TMĐT) Sự khác biệt trong cách hiểu về TMĐT sẽ ảnh hưởng đến quan niệm về hợp đồng điện tử, đặc biệt là về phương thức và mức độ tham gia của các phương tiện điện tử trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng Do đó, việc xác định các đặc điểm cơ bản của hợp đồng điện tử là cần thiết để đạt được sự thống nhất trong nhận thức.

2.2 Đặc điểm của hợp đồng điện tử Được giao kết bằng các phương tiện điện tử, hợp đồng điện tử có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Trong giao kết hợp đồng điện tử quốc tế, việc truyền thông tin qua mạng toàn cầu đã xóa nhòa khái niệm biên giới Thương nhân có thể thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi mà không gặp trở ngại Tuy nhiên, việc xác định vị trí và địa điểm giao dịch trở nên phức tạp hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí có thể không khả thi Điều này tạo ra nhiều vấn đề khi xác định địa điểm giao kết hợp đồng điện tử, đặc biệt là với các thương nhân nước ngoài.

Môi trường điện tử là một không gian số hóa và ảo, khiến cho các hợp đồng điện tử mang tính vô hình và phi vật chất Điều này có nghĩa là hợp đồng điện tử chỉ tồn tại và được chứng minh qua dữ liệu điện tử, không thể chạm vào hay cầm nắm như hợp đồng truyền thống Tính chất này làm cho việc xác định các yếu tố của hợp đồng trở nên khác biệt so với hợp đồng giấy, như vấn đề bản gốc, chữ ký của các bên, và bằng chứng hợp đồng để làm cơ sở pháp lý trong trường hợp tranh tụng.

Hợp đồng điện tử thể hiện tính hiện đại và chính xác thông qua việc sử dụng các công nghệ tiên tiến như điện tử, kỹ thuật số, và truyền dẫn không dây Những công nghệ này không chỉ nâng cao độ chính xác cho các giao dịch mà còn cho phép tự động hóa toàn bộ quy trình, như trong trường hợp mua hàng Với những ưu điểm này, hợp đồng điện tử trở thành phương thức giao dịch hiệu quả cho các chủ thể pháp luật và doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Giao kết hợp đồng điện tử và những rủi ro phát sinh

1.Giao kết hợp đồng điện tử

1.1 Khái niệm giao kết hợp đồng điện tử

Giao kết hợp đồng, theo Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, đề cập đến việc ký kết hợp đồng Giao kết hợp đồng điện tử là quá trình thương thảo và ký kết hợp đồng thông qua việc trao đổi dữ liệu điện tử, với các hợp đồng được lưu trữ hoàn toàn dưới dạng dữ liệu điện tử.

Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005 định nghĩa giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để thực hiện một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng Quá trình này có thể bao gồm nhiều giao dịch, từ quảng cáo hàng hóa, chào bán, chào mua đến việc chấp nhận mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ Khi các giao dịch này được thực hiện thông qua việc trao đổi dữ liệu như điện tín, điện báo, fax, hay thư điện tử, chúng được gọi là giao kết hợp đồng điện tử.

Hợp đồng điện tử có thể được hình thành qua các giao dịch đơn giản như đặt vé máy bay, vé tàu, hoặc mua sắm trực tuyến thông qua điện thoại và Internet Người tiêu dùng có thể thực hiện thanh toán bằng thẻ ngân hàng khi mua hàng hóa tiêu dùng hoặc sách Ngoài ra, hợp đồng điện tử cũng có thể được ký kết giữa các công ty để thực hiện giao dịch thương mại, mua bán hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến giá trị hợp đồng lớn.

8 chất phức tạp, trong thực tiễn TMĐT, phương thức này được gọi là B2B (BUSINESS TO BUSINESS).

1.2 Chủ thể của hợp đồng điện tử

Chủ thể tham gia hợp đồng điện tử bao gồm người bán và người mua hàng hóa hoặc dịch vụ qua mạng Để hợp đồng có hiệu lực, các bên phải có năng lực pháp lý và năng lực hành vi Tuy nhiên, việc xác định năng lực của các chủ thể trong hợp đồng điện tử phức tạp hơn so với hợp đồng truyền thống, dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình giao kết.

Người bán hàng trực tuyến không thể bán sản phẩm và dịch vụ cho mọi đối tượng trên Internet do bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý của quốc gia mình và quốc gia của người mua Ví dụ, lệnh cấm vận của Mỹ đối với Iraq, Libya và Cuba có thể làm cho các hợp đồng điện tử giữa các bên ở những quốc gia này trở nên vô hiệu Hơn nữa, một mặt hàng có thể hợp pháp ở một quốc gia nhưng lại bị cấm ở quốc gia khác, dẫn đến việc các hợp đồng mua bán không thể thực hiện được Do đó, việc xác định đúng năng lực của các bên tham gia là rất quan trọng, vì một sai sót nhỏ có thể khiến hợp đồng điện tử trở nên vô hiệu và gây thiệt hại cho người bán.

Khó khăn trong việc xác định năng lực chủ thể của khách hàng khi mua sắm trực tuyến chủ yếu đến từ việc xác định độ tuổi hành vi của họ, đặc biệt là với khách hàng vị thành niên Nhiều quốc gia có quy định cấm bán một số loại hàng hóa như thuốc lá, rượu và sách báo khiêu dâm cho đối tượng này Nếu người bán không xác định được độ tuổi của khách hàng, họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc dân sự Hơn nữa, các hợp đồng ký kết với vị thành niên không phục vụ nhu cầu thiết yếu sẽ bị vô hiệu, dẫn đến việc người bán có thể gặp phải nhiều hậu quả pháp lý.

Sự xuất hiện của người thứ ba trong giao kết hợp đồng điện tử, như nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo giá trị pháp lý và tính hiệu lực của hợp đồng Họ chịu trách nhiệm chuyển, lưu giữ thông tin điện tử và cung cấp chứng thực về độ chính xác của các thông điệp số Để hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) phát huy hiệu quả, cần có quy định pháp luật rõ ràng về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ mạng đối với thông tin mà họ xử lý Đồng thời, cần ban hành các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của các cơ quan chứng thực trên mạng Những quy định này sẽ là cơ sở pháp lý hướng dẫn cho các chủ thể giao kết hợp đồng điện tử, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến, nhằm đảm bảo tuân thủ và thành công trong lĩnh vực kinh doanh này.

Việc xác định năng lực của chủ thể trong giao kết hợp đồng điện tử là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh kinh doanh phi biên giới Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý mà các nhà kinh doanh cần lưu ý Sự thiếu cẩn trọng trong việc xác định năng lực của chủ thể có thể dẫn đến tổn thất và hậu quả pháp lý nghiêm trọng cho các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ.

1.3 Hình thức hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử là hình thức hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, không sử dụng các hình thức truyền thống như hợp đồng bằng lời nói, hành vi hay văn bản Nó có thể được gửi qua email hoặc được xác nhận qua nút đồng ý trên các trang web bán hàng Khi người mua nhấn vào nút “tôi đồng ý” trên trang web, hợp đồng được coi là đã được giao kết và các bên có trách nhiệm thực hiện cam kết của mình.

Một trong những thách thức lớn của hợp đồng điện tử là việc thực hiện các thoả thuận trong môi trường hoàn toàn trực tuyến Điều này đặt ra câu hỏi về tính ràng buộc pháp lý của các hợp đồng này.

Hình thức hợp đồng điện tử hiện nay có nhiều dạng và biểu hiện khác nhau, giúp giải thích rõ hơn về những khó khăn trong việc giao kết hợp đồng điện tử Việc điểm qua các dạng này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức sử dụng hợp đồng điện tử phổ biến.

 Hình thức trao đổi dữ liệu điện tử

Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là quá trình chuyển giao thông tin có cấu trúc giữa các máy tính điện tử, được thực hiện giữa các đối tác đã thỏa thuận EDI cho phép tự động hóa quy trình mà không cần sự can thiệp của con người Theo quy định của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc Tế (UNCITRAL), EDI được định nghĩa là việc chuyển giao thông tin từ máy tính này sang máy tính khác thông qua phương tiện điện tử, sử dụng tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin.

 Hình thức thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử là một hình thức hợp đồng điện tử, cho phép thực hiện giao dịch tài chính thông qua bản tin điện tử thay vì tiền mặt Ví dụ, việc trả lương qua chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản hoặc thanh toán mua hàng bằng thẻ tín dụng Với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã trở nên đa dạng và phổ biến hơn với nhiều hình thức khác nhau.

- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data

Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.

Tiền mặt Internet (Internet Cash) là loại tiền mặt được mua từ các tổ chức phát hành như ngân hàng, sau đó có thể chuyển đổi sang các đồng tiền khác qua Internet Loại tiền này có thể được sử dụng trong nước cũng như giữa các quốc gia, và tất cả các giao dịch đều được thực hiện dưới dạng kỹ thuật số, do đó còn được gọi là “tiền mặt số hoá” (digital cash).

Túi tiền điện tử, hay còn gọi là ví điện tử, là một phương tiện lưu trữ tiền mặt trên Internet, chủ yếu thông qua thẻ thông minh, còn được biết đến là thẻ giữ tiền Tiền trong ví điện tử có thể được sử dụng để thanh toán cho bất kỳ ai có khả năng đọc thẻ.

 Hình thức thư điện tử

Thực trạng khung pháp lý về giao kết hợp đồngt ở Việt Nam

1.1 Đã ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005-đạo luật cơ bản đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh giao kết hợp đồng điện tử nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho giao kết hợp đồng điện tử.

Vào ngày 29/11/2005, Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/3/2006, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam điều chỉnh toàn diện các giao dịch điện tử trong mọi lĩnh vực xã hội Luật này, dựa trên mẫu luật UNCITRAL về thương mại điện tử, đã mở ra một giai đoạn mới cho thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, chính thức được pháp luật thừa nhận và phát triển mạnh mẽ Sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử đã tác động lớn đến nhận thức xã hội, dẫn đến việc thành lập Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam vào ngày 25/6/2007 và phát triển các hoạt động tuyên truyền, đào tạo về TMĐT Đặc biệt, TMĐT đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phương thức kinh doanh, với nhiều doanh nghiệp áp dụng TMĐT trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao kết hợp đồng điện tử Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng quy định rõ về hợp đồng điện tử, khẳng định giá trị pháp lý và nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử.

Giải pháp phòng tránh rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam

Ngày đăng: 14/09/2023, 12:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Nguyễn Thị Mơ (chủ biên): Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, NXB lao động xã hội, Hà Nội năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị Mơ
Nhà XB: NXB lao động xã hội
Năm: 2006
2. TS. Trần Văn Hoè: Giáo trình Thương mại điện tử, NXB thống kê, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thương mại điện tử
Tác giả: TS. Trần Văn Hoè
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2006
3. PGS.TS. Vũ Ngọc Cừ. ThS.Trịnh Thanh Lâm, Thương mại điện tử, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử
Tác giả: PGS.TS. Vũ Ngọc Cừ, ThS.Trịnh Thanh Lâm
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2001
4. Nguyễn Dương và Ngọc Quyên: Hạn chế rủi ro trong kinh doanh, NXB giao thông vận tải năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế rủi ro trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Dương, Ngọc Quyên
Nhà XB: NXB giao thông vận tải
Năm: 2005
5. Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giao dịch điện tử Việt Nam năm 2005
Năm: 2005
9. Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996
Năm: 1996
10. Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của chính phủ ngày 9/6/2006 về Thương mại điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của chính phủ ngày 9/6/2006 về Thương mại điện tử
Năm: 2006
11. Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về chữ ký số và chứng thực chữ ký số được ban hành ngày 15/2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về chữ ký số và chứng thực chữ ký số
Năm: 2007
12. Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 trong hoạt động tài chính ban hành ngày 23/2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 trong hoạt động tài chính
Năm: 2007
13. Bộ Công Thương, Báo cáo thương mại điện tử năm 2007, Hà Nội tháng 2/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thương mại điện tử năm 2007
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
16. VDC, khám phá Internet, số 58, tháng 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khám phá Internet
Tác giả: VDC
Năm: 2005
4. www.thuongmaidientu.com 5. www.Worltrade.B2B.com 6. www.Eurotechnology.com 7. www.ebusiness.vnn.vn 8. www.emarket.com Link
14. Nguyễn Văn Thoan, hợp đồng và chữ ký điện tử theo Luật Thương mại Quốc gia và Quốc tế của Hoa Kỳ, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 12/2005 Khác
15. Nguyễn Văn Thoan, Quy trình vận tải và giao nhận điện tử trong hệ thống Bolero, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 13/2005 Khác
17. Quốc Vinh, Giải pháp cho hố ngăn cách số, tạp chí Tia sáng, số 17 (5/12/2005).II. Các website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w