ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ THỰC TẬP
Trang trại LinkFarm Bắc Kạn, thuộc tập đoàn GreenFeed, được thành lập vào đầu năm 2022 tại thôn Pác Nghiên, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chuyên sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp.
Vị trí địa lý của trại chăn nuôi lợn LinkFarm Bắc Kạn tiếp giáp với các vùng như sau:
- Phía Bắc tiếp giáp với xã Nghĩa Tá và xã Yên Phong
- Phía Đông tiếp giáp với xã Yên Phong và tỉnh Thái Nguyên
- Phía Nam tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang
- Phía Tây tiếp giáp với xã Nghĩa Tá và tỉnh Tuyên Quang
Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, giáp ranh với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, tạo điều kiện cho giao lưu, trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Địa bàn huyện sở hữu nguồn đất đai phong phú và đa dạng, với nhiều loại đất phù hợp cho canh tác, từ đó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái nông - lâm nghiệp Đặc biệt, cơ cấu đất đai đa dạng còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các hình thức kinh tế khác nhau, trong đó nổi bật là việc xây dựng trang trại chăn nuôi lợn LinkFarm tại xã Bình Trung.
Trại chăn nuôi lợn nái Bắc Kạn, thuộc Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam do ông Lý Anh Dũng làm Giám đốc, có quy mô 2500 nái và tọa lạc tại thôn Pác Nghiên, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Với diện tích 9 ha, trong đó 5 ha là chuồng trại, trang trại được xây dựng ở địa hình lý tưởng cho chăn nuôi, xa khu dân cư và có hệ thống giao thông thuận lợi, giúp hạn chế mầm bệnh lây lan Khu vực còn bao gồm 15 phòng cho nhân viên, văn phòng, nhà bếp, kho bảo trì, kho thuốc và khu vực xuất heo, được quản lý bởi anh Ma Đình Cương.
Trang trại rộng 9 ha được xây dựng hiện đại, bắt đầu từ cổng với hố sát trùng cho xe và phương tiện ra vào Nhà sát trùng được trang bị hệ thống phun thuốc tự động và cảm biến, đảm bảo an toàn vệ sinh.
Khi qua hố sát trùng, chúng ta đến nhà bảo vệ, nơi tiếp nhận thông tin và giấy tờ ra vào Tiếp theo là nhà tắm công ty, nơi yêu cầu cách ly 2 ngày trước khi vào vòng trong Sau khi tắm sát trùng, cần bỏ lại quần áo, giày dép và đồ dùng cá nhân không được phép Khu vực bên trong bao gồm nhà ăn, nơi ở cho nhân viên, phòng kế toán, sân thể dục thể thao và vườn trồng rau củ phục vụ cho trại.
Khu chuồng nuôi heo được xây dựng theo mô hình chuồng kín với công nghệ cao, mái che lợp tôn cách nhiệt Bên trong, chuồng được chia thành 4 luồng, mỗi luồng chứa 80 con heo nái Để đảm bảo thông thoáng, khu vực cuối chuồng được trang bị 8-10 quạt công suất lớn và giàn mát có cảm biến nhiệt độ Ngoài ra, hệ thống bể nước ở mỗi đầu chuồng giúp tưới giàn mát vào mùa hè, tạo ra không khí mát và ẩm, góp phần điều hòa nhiệt độ bên trong chuồng nuôi.
Quạt hút gió và hệ thống xử lý chất thải trong chuồng nuôi giúp giảm thiểu khí độc như CO, NH3, H2S, đồng thời đẩy chất thải xuống hầm bioga Việc lắp đặt kính chắn gió, có thể mở trong tình huống mất điện khẩn cấp, giúp duy trì thông thoáng cho chuồng nuôi, ngăn chặn sự xâm nhập của côn trùng và loài gặm nhấm Hệ thống này cũng cho phép ánh sáng tự nhiên vào, giúp vật nuôi hấp thụ vitamin D, cung cấp dưỡng chất thiết yếu để phát triển khỏe mạnh.
Ngoài chuồng, các đường luồng được phân chia bằng những bức tường bê tông vững chắc, mỗi khu vực đều có lối đi riêng Trên các lối đi này được lắp đặt lưới thép nhằm ngăn chặn côn trùng và sinh vật xâm nhập, đảm bảo tuân thủ các quy định của 5S.
Toàn bộ khu có riêng một đường điện lưới, máy phát điện cung cấp đủ năng lượng và nhiên liệu cho trại trong suốt quá trình chăn nuôi
Bên trong chuồng đều được chia thành các ô, dãy chuồng được lắp đặt đầy đủ hệ thống điện, nước, trang thiết bị dụng cụ chăn nuôi
Hệ thống các chuồng nuôi được sắp xếp theo thứ tự: Từ cổng vào: chuồng cách ly riêng hẳn 1 khu, vào trong là chuồng mang thai, chuồng đẻ
Khu chuồng đẻ gồm 10 chuồng với 52 ô mỗi chuồng, được thiết kế với 2 dãy, hệ thống giàn mát và 2 quạt hút gió Dưới nền chuồng có hầm chứa phân và nước tiểu, trong khi mỗi ô chuồng được trang bị máng ăn và núm uống nước tự động cho heo mẹ và heo con Sàn chuồng cho heo mẹ là tấm đan bê tông có lỗ, còn sàn cho heo con là 2 tấm đan nhựa cách nhiệt, cách nền khoảng 50-60cm Trên các thanh sắt có giá đỡ để treo bảng tên, thẻ theo dõi và thẻ điều trị cho heo Ngoài ra, chuồng đẻ còn được trang bị máy xịt áp lực để rửa chuồng, dụng cụ chăn nuôi và khay đựng thuốc, cùng với dụng cụ thú y di động để thực hiện các thủ tục như mài nanh, bấm đuôi và thiến heo con.
Khu chuồng lợn nái chửa bao gồm 2 chuồng với hệ thống giàn mát và 16 quạt hút gió, được chia thành 8 dãy chuồng, mỗi dãy có khoảng 125 ô để nhốt heo mang thai, sắp xếp theo tuần phối để dễ quản lý Hệ thống máng ăn bằng sắt với cám tự động và đường ống nước lớn dẫn đến từng máng nhỏ, mỗi 15 ô chung 1 máng Sàn chuồng được làm từ các tấm đan bê tông có lỗ dài khoảng 1m, cùng với các đường luồng giúp di chuyển phương tiện như xe đẩy và thiết bị chăn nuôi Trong chuồng còn có tủ thuốc, máy xịt áp lực để rửa chuồng và xe đẩy phân Chất thải từ chuồng mang thai được dẫn ra 2 bể tách phân xây dựng bên ngoài quạt gió.
Phòng pha chế và bảo quản tinh dịch được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại như máy đếm tinh, kính hiển vi điện tử, máy đóng bao tinh, que phối, gel bôi trơn, máy lọc nước, máy lọc không khí, và nồi hấp cách thủy, cùng nhiều trang thiết bị khác để đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong quá trình pha chế.
Chuồng cách ly là nơi nuôi heo giống mới nhập nhằm đảm bảo an toàn sinh học và kiểm tra sức khỏe trước khi gia nhập đàn Chuồng được thiết kế với hệ thống giàn mát, hai quạt hút gió và chia thành ba ô, mỗi ô có máng ăn tự động và bể nước sâu 25-30cm cho heo tắm và vệ sinh Tường bể nước có núm uống nước tự động, bên trong chuồng còn có tủ đựng thuốc và hệ thống đèn điện chiếu sáng.
Chuồng cai sữa là một giải pháp hiệu quả cho trang trại khi không xây dựng chuồng cai sữa riêng Thay vào đó, các ô trên chuồng đẻ sẽ được tận dụng làm ô cai sữa cho heo con sau khi đã đuổi heo mẹ.
Giữa chuồng mang thai và chuồng đẻ có bể nước vôi, cùng với đường đuổi heo dài khoảng 100-120m ở phía đầu giàn mát Các chuồng được thông nhau qua các cửa phía cuối quạt hút gió, tạo thuận lợi cho việc di chuyển heo từ chuồng mang thai lên chuồng đẻ và ngược lại.
2.1.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh
Tổ chức nhân sự trại gồm:
- 1 trưởng trại: Ma Đình Cương
+ 1 nhân viên kế toán bán hàng
+1 nhân viên kế toán thống kê
- Khu nhà bếp : 2 nhân viên nấu ăn
- Nhân viên hậu cần: 2 nhân viên (phụ trách rửa xe, kiểm soát phương tiện ra vào trại, kiểm tra cám và đổ cám vào silo)
- Kỹ thuật khu mang thai: 10 người
- Kỹ thuật khu đẻ: 15 người
- Nhân viên bảo trì: 3 người, phụ trách bảo trì, sửa chữa các thiết bị máy móc vận hành trong trại
+ Từ tháng 03/2022 - tháng 07/2022: gồm 3 sinh viên Nông Nghiệp + Từ tháng 10/6/2022 - 10/12/2022: nhận thêm 5 sinh viên Nông Lâm Thái Nguyên
Bố trí và vị trí làm việc của các kỹ thuật viên trong trại được tổ chức khoa học, với hai khu sản xuất chính được chia hợp lý và đủ số lượng Số lượng sinh viên thực tập cũng được phân bổ theo mong muốn nghiên cứu đề tài, nhằm đảm bảo sự phát triển khả năng cá nhân.
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cơ quan sinh dục của lợn nái được phân chia thành hai bộ phận chính: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2016).
Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung
(sừng tử cung, thân tử cung, cổ tử cung), âm đạo, tiền đình âm đạo và âm hộ
Buồng trứng (Ovarium) là một đôi tuyến nằm trong xoang chậu, được treo ở cạnh trước dây chằng rộng Chúng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi chắc và chia thành hai miền: miền vỏ và miền tủy Miền vỏ có vai trò quan trọng trong sinh dục, nơi diễn ra quá trình trứng chín và rụng trứng, trong khi miền tủy chứa nhiều mạch máu và tổ chức xốp dày hơn Ống dẫn trứng (Oviductus) được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, là nếp gấp của màng bụng từ lớp bên của dây chằng rộng, và có thể chia thành bốn đoạn dựa trên chức năng.
- Tua diềm: Có hình giống như tua diềm
- Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: Đoạn ống giãn rộng xa tâm
Ống dẫn trứng, với đoạn ống hẹp gần tâm nối với xoang tử cung, có chức năng chính là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, thường diễn ra đồng thời.
Tử cung (Uterus) của lợn bao gồm cổ tử cung kết nối với âm đạo, thân tử cung và hai sừng tử cung thông với ống dẫn trứng Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trực tràng và phía dưới là bàng quang Đặc điểm nổi bật của tử cung lợn là hình dạng sừng kép, với các sừng dài từ 40 đến 65 cm và thân tử cung ngắn khoảng 5 cm, cho phép mang nhiều thai Cả hai mặt tử cung được gắn vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng, tạo nên một cấu trúc vững chắc trong xoang chậu.
Cổ tử cung dài 10cm, có thành dày và hình trụ, với các cột thịt xếp theo chiều dài như răng lược thông với âm đạo Âm đạo được cấu tạo từ ba lớp khác nhau.
+ Lớp cơ trơn: cơ dọc ở ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung
+ Lớp niêm mạc: có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên nhiều hơn ở giữa
Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: tiền đình, âm môn, âm vật
Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis) là khu vực nằm giữa âm môn và âm đạo, nơi có màng trinh Màng trinh chứa các sợi đàn hồi và được tạo thành từ hai lá niêm mạc Phía trước màng trinh là âm môn (Vulva), hay âm hộ, nằm dưới hậu môn và có hai môi (Labia vulvae) nối với nhau bằng mép (Bima vulvae) Bề mặt trên của hai môi có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết chất nhờn cùng tuyến mồ hôi Âm vật (Clitoris) là phần tương tự như dương vật nhưng nhỏ hơn, bên trong có các thể hổng và được che phủ bởi nếp da tạo thành mu âm vật (Praepatium clitoridis) Sau màng trinh có lỗ niệu đạo, hoàn thiện cấu trúc của vùng sinh dục nữ.
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục ở lợn nái
Khi bộ máy sinh dục của gia súc cái phát triển hoàn thiện, buồng trứng có noãn chín và trứng có khả năng thụ thai, tử cung sẽ biến đổi để đủ điều kiện cho thai phát triển Sự thành thục về tính của lợn cái phụ thuộc vào mức độ sinh trưởng và phát triển, cũng như nhiều yếu tố khác Tuổi thành thục có sự khác nhau giữa các loài và ngay trong cùng một loài, sự thành thục có thể xuất hiện sớm hơn so với thể vóc Do đó, trong công tác phối giống, cần đảm bảo vật nuôi đã hoàn toàn thành thục cả về tính lẫn thể vóc để tối ưu hóa khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng tinh dịch.
Sự thành thục của gia súc được xác định bởi những biến đổi nội và ngoại tại cơ thể, đặc biệt là ở cơ quan sinh dục Thời gian thành thục về tính khác nhau tùy thuộc vào từng loài gia súc, với tuổi thành thục của lợn khoảng 6 tháng, dao động trong khoảng từ 4 tháng.
8 tháng Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[5], ở lợn tuổi thành thục tính là 6 -
Gia súc cái đạt độ tuổi thành thục về tính vào khoảng 8 tháng, nhưng cơ thể vẫn tiếp tục phát triển về thể vóc Nếu cho giao phối quá sớm khi gia súc mới thành thục mà cơ thể chưa đủ phát triển, con đẻ ra sẽ nhỏ và dễ gặp khó khăn trong quá trình sinh nở do cơ quan sinh dục và khung xương chậu còn hẹp Do đó, không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên và cũng không nên để gia súc giao phối quá muộn, vì điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sinh lý sinh dục và kinh tế của người chăn nuôi Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỳ (1995), thời điểm phối giống lý tưởng cho lợn cái là khi 8 tháng tuổi với khối lượng ≥ 70 kg, hoặc 9 tháng tuổi với khối lượng 80 - 90 kg.
2.2.3 BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN LỢN NÁI
Viêm là phản ứng tự nhiên của cơ thể nhằm chống lại sự xâm nhập của các yếu tố bên ngoài, và hiện tượng này thường xảy ra tại các mô tế bào cụ thể.
Viêm tử cung là quá trình loại bỏ các tế bào và mô tổn thương, giúp ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn trong khu vực này.
2.2.3.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Viêm tử cung, theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), là một bệnh lý phổ biến ở gia súc cái sau khi sinh Quá trình viêm này gây tổn thương cho các tế bào và tổ chức của tử cung, dẫn đến rối loạn sinh sản và có thể làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cs, (2000)[6], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Phối giống không đúng kỹ thuật, đặc biệt là qua phương pháp thụ tinh nhân tạo, có thể gây tổn thương niêm mạc tử cung Việc sử dụng dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có nguy cơ đưa vi khuẩn từ bên ngoài vào tử cung lợn nái, dẫn đến viêm nhiễm.
Lợn nái phối giống trực tiếp có nguy cơ lây nhiễm bệnh từ lợn đực mắc viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn khỏe mạnh.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao…
Vệ sinh chuồng đẻ và bộ phận sinh dục của lợn nái trước và sau khi đẻ là rất quan trọng Nếu không được thực hiện sạch sẽ, vi khuẩn có thể xâm nhập vào cổ tử cung khi mở, dẫn đến nguy cơ viêm nhiễm.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC Ở LỢN NÁI
Hiện nay, nhiều quốc gia đang đầu tư vào việc cải tạo và phát triển đàn giống cũng như áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất chăn nuôi Để nâng cao chất lượng đàn giống, việc hạn chế bệnh sinh sản, đặc biệt là bệnh viêm tử cung, là một vấn đề cần giải quyết Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đưa ra các kết luận giúp người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế bệnh này Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn còn cao.
Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung, theo nghiên cứu của Goel G và Makkar H.P (2012), chủ yếu là do tổn thương tử cung và hiện tượng sát nhau Bệnh này phát triển do sự nuôi dưỡng không đầy đủ và việc đưa vào đường sinh dục các chất kích thích sinh sản, dẫn đến việc phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhầy trong bộ máy sinh dục.
Theo nghiên cứu của Theo Madec.F và Neva.C (1995), viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ và năng suất sinh sản Trong một nghiên cứu năm 1991 trên đàn lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp), họ phát hiện rằng 15% số lợn nái mắc viêm tử cung Bệnh thường bắt đầu bằng sốt vài giờ sau khi đẻ, tiếp theo là chảy mủ vào ngày hôm sau và kéo dài từ 48-72 giờ.
Tại Việt Nam, nhiều tổ chức và chuyên gia hàng đầu đang tích cực nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở gia súc Sự quan tâm đến vấn đề này đã gia tăng trong những năm gần đây, dẫn đến nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm phát triển các giải pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.
Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng vaccine, tinh chất tỏi, tỏi đen và các sản phẩm sinh học như vi sinh vật có lợi có thể giảm nguy cơ viêm tử cung ở lợn Do đó, cần nỗ lực hơn nữa trong việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp này, với sự hỗ trợ từ các bác sĩ thú y tương lai để đánh giá hiệu quả và tính khả thi.
Các công trình nghiên cứu bệnh sinh sản, đặc biệt bệnh viêm tử cung còn rất ít, do đó tỷ lệ lợn nái mắc bệnh ngày càng gia tăng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2000), lợn nái chậm sinh sản chủ yếu do tổn thương bệnh lý sinh dục, trong đó viêm tử cung là một vấn đề phổ biến, đặc biệt ở những lợn nái gặp khó khăn trong quá trình sinh Việc áp dụng các thủ thuật ngoại khoa cho lợn nái đẻ khó có thể làm tăng nguy cơ viêm niêm mạc đường sinh dục, dẫn đến tình trạng viêm tử cung.
Bệnh viêm tử cung ở đại gia súc, theo Nguyễn Văn Thanh (2002), là một quá trình bệnh lý phức tạp với nhiều biểu hiện khác nhau Đây là nguyên nhân chính gây rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái.
Theo nghiên cứu của Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại cao nhất vào giai đoạn sau đẻ (57,14%) và giai đoạn chờ phối (42,86%) Việc điều trị bằng cách tiêm dưới da Amoxyl Retart với liều 1ml/10kg thể trọng trước và ngay sau khi sinh, kết hợp tiêm bắp Oxytocin 2ml/con, đã cho thấy hiệu quả cao.
Phần III ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Lợn nái sinh sản tại trại Bắc Kạn, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, thuộc Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện dự án là từ ngày 10 tháng 6 năm 2022 đến ngày 10 tháng 12 năm 2022, tại Trại lợn nái Bắc Kạn, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, thuộc Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam.
* Tình hình công tác chăn nuôi, thú y tại trại lợn Bắc Kạn
* Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại trang trại:
- Khảo sát tình hình mắc viêm tử cung trong 6 tháng thực tập
Tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quan trọng Thời gian mang thai và thời gian đẻ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung Ngoài ra, các can thiệp tay trong quá trình sinh nở cũng góp phần làm gia tăng tỷ lệ viêm Sự xuất hiện của con chết lưu và cân nặng của lợn con sinh ra cũng ảnh hưởng đến tình trạng viêm tử cung Số lượng lợn con sinh ra trên mỗi nái và việc sử dụng kháng sinh tại trại cũng là những yếu tố cần xem xét Cuối cùng, nhiệt độ sau đẻ có thể tác động đến tỷ lệ viêm tử cung, làm cho việc quản lý các yếu tố này trở nên cần thiết để giảm thiểu rủi ro.
Tình hình chăn nuôi của trại được điều tra thông qua sổ sách của trại và theo dõi trực tiếp
Lập bảng theo dõi, ghi chép đầy đủ các thông tin về lợn nái gồm:
- Số hiệu tai lợn: ghi theo số ở trên tai lợn
- Lứa đẻ: ghi lại số lứa trên thẻ nái
Lợn cần được theo dõi và ghi chép kỹ lưỡng về ngày phối và ngày dự kiến đẻ Điều này giúp người nuôi có mặt kịp thời để theo dõi quá trình sinh sản, đảm bảo nắm bắt được thời điểm lợn đã đẻ hay chưa.
- Theo dõi ngày thích nghi của lợn nái với chuồng đẻ
- Biện pháp can thiệp (bằng thuốc hoặc bằng tay)
- Theo dõi quy trình sử dụng thuốc sau đẻ của lợn nái
Để đo chỉ tiêu nhiệt độ của lợn nái, sử dụng nhiệt kế thủy ngân để đo trực tràng trong thời gian 3 phút Việc đo nhiệt độ này nên được thực hiện hai lần mỗi ngày, vào buổi sáng và chiều, trước khi tiến hành vệ sinh.
- Số lợn sinh ra, số lợn chết lưu, cân nặng trung bình của lợn sơ sinh
Theo dõi màu sắc và thời gian chảy dịch của từng lợn nái sau khi đẻ là rất quan trọng Chúng tôi tiến hành kiểm tra quá trình chảy sản dịch vào hai thời điểm trong ngày: sáng và chiều, trước khi vệ sinh chuồng Nếu trong hai lần kiểm tra liên tiếp không có dịch chảy ra ngoài âm môn, nền chuồng khô ráo và không có dấu hiệu viêm, thì được coi là đã hết dịch tại thời điểm kiểm tra đầu tiên.
Tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng tới viêm tử cung lợn nái thông qua chia lô so sánh và theo dõi trực tiếp lợn nái các lô
3.3.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Theo dõi lợn nái trực tiếp để xác định biến đổi lâm sàng là rất quan trọng Cần kiểm tra các chỉ tiêu lâm sàng của lợn bị bệnh và so sánh với lợn khỏe mạnh Các chỉ tiêu cần theo dõi bao gồm thân nhiệt, dịch viêm, phản ứng đau và tình trạng ăn uống.
- Theo dõi thân nhiệt: Dùng nhiệt kế thủy ngân đo ở trực tràng của lợn nái để xác định thân nhiệt, đo 2 lần (sáng: 7h-9h, chiều: 16h-17h30)