Khái niệm về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng cam kết thanh toán một số tiền nhất định cho người hưởng lợi khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định trong thư tín dụng.
Thuật ngữ “tín dụng- credit” mang nghĩa “tín nhiệm” chứ không phải để chỉ
Theo Điều 2 của UCP 600, "tín dụng" được định nghĩa là một thỏa thuận không thể hủy bỏ, thể hiện cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành trong việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp.
Thư tín dụng là một công cụ tài chính do Ngân hàng phát hành theo yêu cầu của khách hàng, cam kết thanh toán cho người hưởng lợi khi họ cung cấp đầy đủ chứng từ thanh toán Nó không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người hưởng lợi mà còn giúp làm rõ các điều khoản chưa được đề cập trong hợp đồng, khắc phục những sai sót và điều khoản bất lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong giao dịch.
Thư tín dụng đóng vai trò quan trọng trong giao dịch thương mại, được hình thành dựa trên hợp đồng mua bán, nhưng lại hoàn toàn độc lập sau khi được thiết lập Thư tín dụng có thể bao gồm nhiều điều khoản khác nhau.
Số hiệu, địa điểm, và ngày mở L/C.
Tên và địa chỉ của những người có liên quan tới phương thức tín dụng chứng từ.
Số tiền trong L/C cần được ghi bằng cả chữ và số, đảm bảo sự thống nhất giữa hai hình thức này Ngoài ra, tên đơn vị tiền tệ cũng phải được thể hiện một cách rõ ràng.
Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C.
Thời hạn hiệu lực của L/C là khoảng thời gian mà ngân hàng cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ trình bộ chứng từ hợp lệ Thời gian này bắt đầu từ ngày L/C được mở cho đến ngày hết hiệu lực, và các điều kiện trong L/C phải được tuân thủ trong suốt thời gian này.
Thời hạn trả tiền của L/C có thể là ngay lập tức hoặc sau một khoảng thời gian, tùy thuộc vào quy định trong hợp đồng Thời gian này có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.
Thời hạn giao hàng được quy định trong L/C và hợp đồng mua bán, có mối liên hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
Những nội dung về hàng hoá như: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi trong L/C.
Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng (FOB, CIF, CFR ), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng.
Chứng từ mà người xuất khẩu cần xuất trình là yếu tố quan trọng trong thư tín dụng (L/C), vì bộ chứng từ này chứng minh rằng người xuất khẩu đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo quy định Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu khi bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản trong L/C.
Ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền, đây là nội dung quan trọng nhất của L/C, ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người xuất khẩu cung cấp đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ.
Những điều khoản đặc biệt khác.
Chữ ký của ngân hàng trong việc mở L/C là rất quan trọng, vì L/C thực chất là một khế ước dân sự Do đó, người ký phải có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để tham gia vào và thực hiện các quan hệ dân luật.
Các đặc điểm của thư tín dụng
L/C không bị ràng buộc bởi hợp đồng cơ sở, tức là ngân hàng không liên quan đến các hợp đồng này, ngay cả khi L/C có đề cập đến chúng (theo điều 4 UCP 600).
Các ngân hàng thực hiện giao dịch dựa trên chứng từ mà không quan tâm đến chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ Dù người bán có thể giao hàng thiếu, hàng kém chất lượng hoặc giao hàng sai, nếu chứng từ phù hợp với các tiêu chuẩn như L/C, UCP và ISBP, ngân hàng phát hành vẫn phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng Theo Điều 5 UCP 600, các bên liên quan trong thư tín dụng không được lợi dụng tình trạng hàng hóa hoặc dịch vụ để trì hoãn việc thanh toán.
- L/C là không thể hủy ngang (Theo UCP 600)
- Theo UCP 600 quy định, thì các bên muốn áp dụng phiên bản UCP nào thì phải quy định rõ trong thư tín dụng.
Mặc dù người đề nghị mở L/C tham gia với vai trò là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ, nhưng ngân hàng phát hành mới là bên thực hiện việc thanh toán Do đó, khi người thụ hưởng ký phát hối phiếu để đòi tiền, họ phải yêu cầu thanh toán từ ngân hàng phát hành L/C.
Cơ sở pháp lý và các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Cơ sở pháp lý của phương thức tín dụng chứng từ
a Quy tắc và tập quán quốc tế
- UCP-600/2007/ICC- Các quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tuân theo “Qui tắc thực hành thống nhất cho phương thức thanh toán tín dụng chứng từ” (UCP – DC) do phòng thương mại quốc tế (ICC) ban hành UCP lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1933 và đã trải qua nhiều lần kiểm tra, tổng kết và sửa đổi Phiên bản mới nhất, UCP 600, được sửa đổi vào năm 2007 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007.
UCP đã được áp dụng tại hơn 175 quốc gia, bao gồm cả Việt Nam Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP không tự động điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ mà mang tính chất pháp lý tùy ý Các bên tham gia có quyền quyết định có sử dụng UCP hay không trong việc điều chỉnh thanh toán tín dụng chứng từ Tuy nhiên, khi các bên đã thống nhất áp dụng UCP, các điều khoản của nó sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.
UCP mới không bác bỏ các nội dung của UCP cũ, cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn UCP phù hợp, nhưng bắt buộc phải chỉ rõ trong L/C Chỉ bản UCP gốc bằng tiếng Anh mới có giá trị pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp, trong khi các bản dịch khác chỉ mang tính chất tham khảo.
UCP 600, bản sửa đổi năm 2007, hiện được công nhận là phiên bản hoàn chỉnh nhất và ngày càng được nhiều ngân hàng quốc tế áp dụng trong thanh toán Đây được xem như một cẩm nang quan trọng cho nghiệp vụ tín dụng chứng từ.
ISBP-681/2007/ICC là tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng, tuân thủ UCP 600 Tiêu chuẩn này thể hiện sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và quyết định của ủy ban ngân hàng của UCP Văn bản ISBP không sửa đổi UCP mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP cho những người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ.
Văn bản này thiết lập tiêu chuẩn quốc tế cho thực hành tín dụng chứng từ, nhấn mạnh rằng quyền lợi và nghĩa vụ của người mở tín dụng phụ thuộc vào cam kết với ngân hàng phát hành và việc thực hiện giao dịch cơ sở Người mở tín dụng không thể dùng các điều khoản này để từ chối nghĩa vụ hoàn trả Hơn nữa, việc kết hợp các văn bản vào các điều khoản tín dụng chứng từ là không nên, vì UCP yêu cầu tuân thủ các tập quán đã thỏa thuận một cách tuyệt đối.
Quy tắc URR-725/2008/ICC quy định về việc hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng, áp dụng cho tất cả các giao dịch hoàn trả Các điều khoản trong quy tắc này là các bộ phận cấu thành của uỷ quyền hoàn trả và ràng buộc các bên tham gia, trừ khi có quy định khác trong uỷ quyền Ngân hàng phát hành phải chỉ rõ trong Tín dụng chứng từ rằng yêu cầu hoàn trả tuân thủ theo quy tắc này Trong quá trình hoàn trả, ngân hàng hoàn trả thực hiện theo chỉ thị hoặc uỷ quyền của ngân hàng phát hành.
Các quy tắc này không nhằm mục đích thay đổi hoặc loại bỏ các điều khoản trong Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, mà vẫn tuân thủ theo cơ sở pháp lý của Việt Nam.
- Thông tư hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng nhà nước số 46/2014/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2014
- Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012
- Pháp lệnh Ngoại hối nước CHXHCN Việt Nam 2005.
Các chủ thể tham gia
Người xin mở L/C, hay còn gọi là người yêu cầu ngân hàng phát hành thư tín dụng, có trách nhiệm pháp lý trong việc thanh toán cho người bán theo điều khoản của L/C Đối tượng này có thể là người mua, nhà nhập khẩu, người mở L/C hoặc người trả tiền.
Người thụ hưởng L/C (Beneficiary) là cá nhân hoặc tổ chức nhận tiền thanh toán hoặc sở hữu hối phiếu được chấp nhận thanh toán Họ có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, bao gồm người bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter) và người ký phát hối phiếu (drawer).
Ngân hàng phát hành L/C, hay còn gọi là ngân hàng mở L/C, là tổ chức tài chính chịu trách nhiệm phát hành thư tín dụng cho người bán theo yêu cầu của người mua Thông thường, ngân hàng phát hành được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán.
Ngân hàng thông báo (Advising Bank) là ngân hàng nhận yêu cầu từ ngân hàng phát hành để thông báo thư tín dụng (L/C) cho người thụ hưởng Thông thường, ngân hàng thông báo là một ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng phát hành, hoạt động tại quốc gia của nhà xuất khẩu.
Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank) là ngân hàng đứng ra xác nhận thư tín dụng (L/C) theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, nhằm đảm bảo cho nhà xuất khẩu (XK) có sự chắc chắn trong giao dịch Thường thì ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn, uy tín, và trong nhiều trường hợp, ngân hàng thông báo cũng được đề nghị làm ngân hàng xác nhận L/C.
Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank) là ngân hàng mà ngân hàng phát hành ủy nhiệm để xử lý các chứng từ khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với các quy định trong thư tín dụng (L/C).
Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng
Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn
Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ
Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.
Phân loại và quy trình thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Phân loại
L/C có thể huỷ ngang là loại cam kết không ràng buộc trách nhiệm pháp lý, cho phép người yêu cầu mở có quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo trước cho người hưởng lợi Tuy nhiên, loại thư tín dụng này không bảo vệ quyền lợi của người bán, vì người mua có thể đơn phương huỷ bỏ L/C Do đó, L/C này ngày càng ít được sử dụng trong thương mại quốc tế.
L/C không thể huỷ ngang là loại L/C mà việc sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của các bên liên quan, đảm bảo quyền lợi cho người bán Tuy nhiên, L/C này vẫn có thể bị huỷ bỏ nếu các bên đồng ý, và khi đó nó sẽ không còn giá trị thực hiện Đây là loại L/C phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay.
*Theo phương thức sử dụng:
L/C không huỷ ngang là loại thư tín dụng mà chứng từ cần được xuất trình trực tiếp tại Ngân hàng phát hành để thực hiện thanh toán Thời hạn hiệu lực của loại L/C này sẽ kết thúc tại Ngân hàng phát hành.
Trong thư tín dụng, không có điều khoản chiết khấu và ngân hàng chiết khấu được chỉ định Mặc dù thư tín dụng không có giá trị chiết khấu và cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ có hiệu lực đối với người hưởng, ngân hàng chuyển chứng từ vẫn có thể ứng tiền cho khách hàng nếu chứng từ hợp lệ Sau khi nhận chứng từ hợp lệ, ngân hàng phát hành sẽ thanh toán cho người hưởng theo hướng dẫn của ngân hàng chuyển chứng từ Ngân hàng chuyển chứng từ đóng vai trò bảo vệ quyền lợi của người hưởng và cũng bảo vệ quyền lợi của chính mình nếu đã chiết khấu chứng từ.
L/C không huỷ ngang, miễn truy hồi.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang cho phép người thụ hưởng nhận lại tiền, đồng nghĩa với việc ngân hàng mở không có quyền yêu cầu hoàn lại số tiền trong mọi tình huống.
Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu
“Miễn truy hồi người ký phát” đồng thời thư tín dụng cũng phải ghi như vậy.
L/C không huỷ ngang và có xác nhận.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mà một ngân hàng khác đảm bảo thanh toán cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành.
Thư tín dụng được coi là an toàn cho bên bán nhờ vào sự cam kết thanh toán từ hai ngân hàng Để sử dụng loại thư tín dụng này, bên bán cần trả một khoản phí cho ngân hàng xác nhận Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng thư tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng.
L/C tuần hoàn là loại thư tín dụng mà sau khi sử dụng hoặc hết thời hạn hiệu lực, nó sẽ trở lại giá trị ban đầu và có thể được sử dụng lại sau một khoảng thời gian nhất định.
Thư tín dụng tuần hoàn xác định rõ ngày hết hạn, số lần tuần hoàn và giá trị cho mỗi lần Ngoài ra, cần quy định liệu số dư của hạn ngạch L/C chưa sử dụng có được cộng dồn vào hạn ngạch L/C cho lần sử dụng tiếp theo hay không.
L/C với điều kiện "Đỏ" là loại thư tín dụng mà người mở cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay khi L/C được mở Để áp dụng hình thức này, hai bên cần có mối quan hệ làm ăn lâu dài và uy tín Công ty nhập khẩu phải đảm bảo đủ vốn, trong khi đó, nhà xuất khẩu có nguồn hàng hóa và khả năng sản xuất nhưng lại thiếu vốn.
Dưới điều kiện Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng trước một khoản tiền nhất định, thường là 30% hoặc 50% giá trị của L/C, khi nhận được các chứng từ cần thiết như hối phiếu, hóa đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng, cùng với các tài liệu khác theo thỏa thuận.
Thư tín dụng dự phòng là công cụ tài chính được phát hành để bảo vệ quyền lợi của bên mua trong giao dịch thương mại Khi bên mua yêu cầu bên bán mở thư tín dụng dự phòng thông qua ngân hàng, điều này đảm bảo rằng nếu bên bán vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ bồi thường cho bên mua những thiệt hại phát sinh.
L/C không thể huỷ ngang cho phép Ngân hàng trả tiền hoàn trả toàn bộ hoặc một phần số tiền của thư tín dụng theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Thư tín dụng có thể chuyển nhượng chỉ khi có lệnh đặc biệt từ ngân hàng phát hành và phải được ghi rõ là "có thể chuyển nhượng được" Lưu ý rằng việc chuyển nhượng này chỉ được thực hiện một lần cho mỗi thư tín dụng.
L/C giáp lưng là loại thư tín dụng được mở dựa trên số tiền của một thư tín dụng đã có trước đó, thường được sử dụng trong giao dịch mua bán qua trung gian và chuyển khẩu Hình thức này có quy trình vận hành phức tạp, đặc biệt liên quan đến các điều kiện về thời hạn và bộ chứng từ.
Quy trình thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Sau khi ký hợp đồng ngoại thương, nhà nhập khẩu cần chủ động soạn thảo đơn và gửi các giấy tờ cần thiết để xin mở L/C tại ngân hàng phát hành Đơn này phải yêu cầu ngân hàng mở một L/C với số tiền xác định và tuân theo các điều kiện đã nêu, nhằm đảm bảo việc thanh toán cho nhà xuất khẩu.
Bước 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH phục vụ nhà
Sau khi nhà nhập khẩu (NK) đồng ý và thực hiện ký quỹ, họ sẽ mở một thư tín dụng (L/C) với số tiền nhất định để thanh toán cho nhà xuất khẩu (XK) Bản chính của L/C sẽ được gửi cho ngân hàng phục vụ nhà XK để thông báo cho họ.
Bước 3: Nhận được bản chính L/C từ NH phát hành, NH thông báo phải xác thực L/C đã nhận được và gửi bản chính L/C cho nhà XK.
Bước 4: Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký trong hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.
Bước 5: Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu cần hoàn thiện bộ chứng từ hàng hóa theo chỉ thị trong L/C, phát hành hối phiếu và gửi toàn bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng thanh toán để yêu cầu thanh toán.
Khi nhận được bộ chứng từ từ nhà xuất khẩu, NH cần kiểm tra kỹ lưỡng Nếu các chứng từ không có sự mâu thuẫn nào, ngân hàng sẽ tiến hành thanh toán cho các chứng từ đó.
Bước 7: NH thông báo L/C chuyển bộ chứng từ cho NH phát hành L/C và yêu cầu NH này trả tiền cho bộ chứng từ đó.
Bước 8: Sau khi nhận bộ chứng từ, ngân hàng phát hành cần kiểm tra kỹ lưỡng Nếu các chứng từ khớp đúng và không có nghi ngờ, ngân hàng sẽ trích tiền từ tài khoản ký quỹ mở L/C của nhà nhập khẩu để chuyển trả cho ngân hàng thông báo hoặc thanh toán L/C.
Bước 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng thời
NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để người đó có căn cứ đi nhận hàng.
Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Vai trò
Phương thức thanh toán L/C giúp nhà nhập khẩu mở rộng nguồn cung cấp hàng hóa mà không cần tốn thời gian tìm kiếm đối tác uy tín, vì ngân hàng đối tác sẽ kiểm tra và chịu trách nhiệm về các chứng từ Nhà nhập khẩu được đảm bảo tài chính, chỉ phải thanh toán khi bên bán giao hàng Thêm vào đó, các khoản ký quỹ khi mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.
Sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C giúp nhà xuất khẩu (XK) hoàn toàn yên tâm về việc nhận thanh toán, miễn là họ cung cấp bộ chứng từ hợp lệ Việc thanh toán không phụ thuộc vào khả năng tài chính của nhà nhập khẩu (NK) Sau khi giao hàng, nếu nhà XK lập bộ chứng từ đúng theo các điều khoản của L/C, họ sẽ được thanh toán ngay cả khi nhà NK không có khả năng chi trả Điều này giúp nhà XK thu hồi vốn nhanh chóng và tránh tình trạng ứ đọng vốn trong quá trình thanh toán.
- Đối với ngân hàng thương mại
Khi tham gia thanh toán theo L/C, Ngân hàng không chỉ thu được phí thủ tục mà còn có khoản tiền lớn từ doanh nghiệp nhập khẩu ký quỹ Ngoài nghiệp vụ thanh toán L/C, Ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận và mua bán ngoại tệ Thông qua những nghiệp vụ này, uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế được mở rộng và củng cố.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán L/C giúp nhà nhập khẩu mở rộng nguồn cung cấp hàng hóa mà không cần tốn thời gian tìm kiếm đối tác uy tín, vì ngân hàng đối tác sẽ kiểm tra và chịu trách nhiệm về các giấy tờ chứng từ Nhà nhập khẩu được đảm bảo tài chính, chỉ phải thanh toán khi bên bán giao hàng Thêm vào đó, các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.
Sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C giúp nhà xuất khẩu đảm bảo thanh toán khi cung cấp bộ chứng từ hợp lệ, không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu chỉ cần lập bộ chứng từ theo đúng điều khoản của L/C để nhận thanh toán, ngay cả khi nhà nhập khẩu không có khả năng chi trả Nhờ vậy, nhà xuất khẩu có thể thu hồi vốn nhanh chóng, tránh tình trạng ứ đọng vốn trong quá trình thanh toán.
- Đối với ngân hàng thương mại
Khi tham gia thanh toán theo L/C, ngân hàng không chỉ thu phí thủ tục mà còn thu hút một khoản tiền lớn từ việc doanh nghiệp nhập khẩu ký quỹ Ngoài nghiệp vụ thanh toán L/C, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận và mua bán ngoại tệ Thông qua các hoạt động này, ngân hàng củng cố uy tín và vai trò của mình trên thị trường tài chính quốc tế.
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
- Nhân tố khách quan bên ngoài
Chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân và các lĩnh vực như tiền tệ, tín dụng, thanh toán xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Bao gồm các chính sách về kinh tế, tài chính và kinh tế đối ngoại, sự thay đổi trong các chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các doanh nghiệp Tùy thuộc vào thời điểm và mục tiêu phát triển, các chính sách có thể tác động tích cực, khuyến khích sự phát triển hoặc kìm hãm hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu Chính sách xuất nhập khẩu được xem xét kỹ lưỡng dựa trên quan hệ cung cầu và giá cả thị trường, nhằm quy định khối lượng, thời gian, mặt hàng xuất nhập khẩu, và doanh nghiệp tham gia, từ đó tạo sự ổn định cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và khuyến khích đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu.
Môi trường kinh doanh thông thoáng và công bằng là yếu tố then chốt giúp phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp và khu chế xuất, đồng thời thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Tỷ giá hối đoái cần được quy định phù hợp với thị trường dựa trên quan hệ cung cầu để đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế Nếu tỷ giá quá thấp, nó có thể kìm hãm xuất khẩu và giảm sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước trên thị trường quốc tế Ngược lại, sự biến động liên tục và không ổn định của tỷ giá hối đoái sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, làm mất ổn định thị trường và tạo ra sự bất an trong hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến quá trình thanh toán xuất nhập khẩu.
- Nhân tố bên trong ngân hàng
Định hướng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng
Hoạt động marketing của ngân hàng
Trình độ cán bộ ngân hàng và công nghệ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong chất lượng hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu Sự am hiểu của cán bộ thanh toán về lĩnh vực và thị trường sẽ giúp hạn chế rủi ro và tư vấn hiệu quả cho khách hàng Công nghệ, đặc biệt là phần mềm thanh toán và mạng SWIFT, cải thiện đáng kể tốc độ và độ chính xác của quy trình mở L/C và thanh toán Các ứng dụng tin học trong thanh toán liên ngân hàng và quốc tế đã nâng cao hiệu quả kinh doanh, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, đồng thời giảm thiểu lao động thủ công.
Mạng lưới ngân hàng đại lý
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại
Nhóm chỉ tiêu về mức độ tăng trưởng quy mô hoạt động bao gồm các yếu tố như trị giá thanh toán L/C, số lượng món thanh toán, số lượng khách hàng, số lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp, cũng như thị phần hoạt động tại địa bàn Đặc biệt, sự tăng trưởng của các chỉ tiêu này qua các năm là một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động.
- Nhóm chỉ tiêu về rủi ro trong hoạt động TTQT theo L/C
- Nhóm chỉ tiêu về mức độ sinh lời
- Nhóm chỉ tiêu về doanh thu được tính giữa tổng doanh thu từ L/C so với tổng doanh thu tử hoạt động xuất nhập khẩu của ngân hàng.
- Chỉ tiêu về danh tiếng và uy tín của ngân hàng.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM 16 2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP PVcom bank
Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) được thành lập theo Quyết định số 279/GP-NHNN ngày 16/09/2013, từ sự hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank) PVcomBank chính thức hoạt động từ ngày 01/10/2013, với Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0101057919 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp.
Giá trị Thương hiệu của PVcom Bank được thể hiện qua 3 nội dung chính:
PVcom Bank tự hào là nền tảng tài chính đáng tin cậy, vững chắc, luôn đồng hành và hỗ trợ khách hàng bằng dịch vụ tận tâm trong mọi giai đoạn phát triển.
PVcom Bank cam kết xây dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng, lấy chữ "tình" làm gốc, thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng phù hợp, cùng sự tận tụy trong mọi khía cạnh phục vụ.
Linh hoạt trong việc kết hợp và tạo ra các gói sản phẩm hài hòa là yếu tố quan trọng, giúp đáp ứng tối đa nhu cầu đa dạng của từng thành viên trong nhóm khách hàng, bao gồm gia đình, doanh nghiệp, tập đoàn và chuỗi cung ứng.
Sau hơn 3 năm hoạt động, PVcomBank đã đạt tổng tài sản gần 100.000 tỷ đồng, với đội ngũ 2.750 cán bộ nhân viên chuyên môn cao Lợi nhuận vượt 105% kế hoạch cổ đông, trong khi tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát theo lộ trình của NHNN Ngân hàng cũng đáp ứng tốt hoặc vượt chuẩn các tỷ lệ an toàn theo quy định của ngân hàng nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP PVcom Bank
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP PVcom Bank
Khối đầu tư Khối vận hành
Khối quản lý và thu hồi nợ Trung tâm thẻ Khối quản trị rủi ro Khối quản trị nguồn nhân lực
Khối khách hàng doanh nghiệp
Khối khách hàng doanh nghiệp lớn
Khối nguồn vốn và tài chính
Khối khách hàng cá nhân Ủy ban nhân sự
Ban kiểm soát Ủy ban tín dụng Ủy ban quản lý rủi ro Ủy ban tái cấu trúc và xử lý rủi ro
Khối công nghệ thông tinKhối pháp chếKhối tài chính kế toánBan Marketing & truyền thông
Cơ cấu tổ chức của PVcom Bank được phân chia rõ ràng, giúp tránh chồng chéo công việc và đảm bảo an toàn trước các rủi ro Mỗi phòng ban đảm nhận chức vụ riêng, hỗ trợ lẫn nhau và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách ngân hàng theo từng khối.
Khối khách hàng cá nhân tập trung vào việc chăm sóc và tìm kiếm đối tác tiềm năng, trong khi khối khách hàng doanh nghiệp chú trọng vào các doanh nghiệp cần thu hút vốn hoặc vay tài trợ Việc phân chia cơ cấu tổ chức này, kết hợp với mạng lưới rộng lớn, giúp quản lý chặt chẽ từ hội sở đến các chi nhánh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Tình hình hoạt động kinh doanh tại PVcom Bank
Tính đến tháng 9 năm 2016, tổng tài sản của PVcom Bank gần đạt 100.000 tỷ đồng, với vốn điều lệ là 9.000 tỷ đồng Trong cơ cấu cổ đông, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là cổ đông lớn nhất, nắm giữ 52% cổ phần, trong khi Morgan Stanley là cổ đông chiến lược với tỷ lệ 6,7%.
Kể từ khi thành lập vào năm 2013, doanh thu của ngân hàng đã tăng trưởng liên tục Mặc dù lợi nhuận ròng năm 2013 chỉ đạt gần 29 tỷ, nhưng đến năm 2014, tổng doanh thu đã tăng gấp 4 lần so với năm trước, với lợi nhuận ròng vượt 150 tỷ, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong hoạt động của ngân hàng Từ năm 2014, ngân hàng đã tập trung vào việc huy động tiền gửi, hạn chế cho vay và đầu tư dài hạn để tăng cường nguồn lực cho đầu tư vào chứng khoán Sự gia tăng lượng tiền gửi qua các năm chứng tỏ ngân hàng đang dần xây dựng được niềm tin và thu hút khách hàng hiệu quả hơn.
Sau 2 năm hợp nhất PVcom bank đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận cả về mục tiêu tái cấu trúc và hoạt động kinh doanh Tính đến quý 2 năm 2015, tổng tài sản của ngân hàng là 96.624 tỷ Dư nợ cho vay 42.776 tỷ Huy động vốn 64.331 tỷ Vốn điều lệ 9.000 tỷ Thu nhập lãi ròng 12 tỷ Lợi nhuận sau thuế là 44 tỷ
PVcom Bank tập trung vào hai đối tượng khách hàng chính: cá nhân và doanh nghiệp Đối với khách hàng cá nhân, ngân hàng cung cấp các sản phẩm tiền gửi an toàn và các khoản vay tiêu dùng linh hoạt, bao gồm vay mua nhà, vay sản xuất kinh doanh, vay mua xe và vay du học, cùng với các dịch vụ ngân hàng hiện đại như Online Banking, SMS Banking và Mobile Banking Đối với khách hàng doanh nghiệp, PVcom Bank phát triển gói sản phẩm toàn diện, bao gồm các dịch vụ ngân hàng từ vay, bảo lãnh, tiền gửi đến thanh toán quốc tế và quản lý tiền tệ Ngân hàng đang khẳng định uy tín và thương hiệu trên thị trường tài chính, cung cấp dịch vụ chất lượng cao, tạo sự khác biệt trong phong cách phục vụ, đồng thời thực hiện trách nhiệm xã hội và mang lại lợi ích cho cộng đồng cũng như gia tăng giá trị cho cổ đông.
Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại PVcom Bank
2.2.1 Quy trình nghiệp vụ về L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu
2.2.1.1 L/C xuất khẩu a Thông báo LC, tu chỉnh L/C
Bước 1: Tiếp nhận thông báo L/C, tu chỉnh L/C
Chuyên viên TTQT tiếp nhận L/C, tu chỉnh L/C hoặc yêu cầu kiểm tra L/C, tu chỉnh L/C từ chi nhánh sau đó kiểm tra nội dung, tính chân thực của L/C, tu chỉnh L/
Bước 2: Thực hiện thông báo L/C, tu chỉnh L/C
Chuyên viên TTQT thực hiện các thủ tục thông báo L/C, tu chỉnh L/C và thu phí Các cấp quản lý như KSV, Trưởng bộ phận, Phó phòng và Trưởng phòng có trách nhiệm kiểm soát và duyệt các giao dịch này Sau khi được phê duyệt, chuyên viên TTQT sẽ thông báo cho khách hàng và ghi chép vào sổ theo dõi.
Bước 3: Lưu hồ sơ tại chi nhánh và TT TTQT b Kiểm tra, gửi, theo dõi thanh toán/chấp nhận thanh toán BCT xuất khẩu theo L/C
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng
Chuyên viên PTKD tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ nhờ thu BCT L/C xuất khẩu từ khách hàng, sau đó gửi yêu cầu kiểm tra BCT cùng hình ảnh hồ sơ đến phòng TTQT.
Phòng TTQT kiểm tra BCT nhằm đảm bảo tính chân thực của L/C, thực hiện tu chỉnh L/C khi cần thiết, đặc biệt là khi L/C được thông báo bởi ngân hàng khác Ngoài ra, phòng còn kiểm tra sự phù hợp của BCT với các điều kiện và điều khoản trong L/C, cũng như kiểm tra tính nhất quán giữa các chứng từ Cuối cùng, BCT sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn UCP và ISBP mà L/C tuân thủ.
Tiếp nhận kết quả kiểm tra và gửi hồ sơ, chứng từ gốc về phòng TTQT
Bước 2: Gửi BCT đi nước ngoài và đòi tiền
Chuyên viên TTQT tiếp nhận hồ sơ chứng từ xuất khẩu và bản gốc BCT, tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của chúng, sau đó đăng ký số tham chiếu và nhập dữ liệu vào hệ thống TF.
Thực hiện thủ tục đòi tiền: Lập chỉ dẫn thanh toán và điện đòi tiền Ngân hàng phát hành/ ngân hàng hoàn trả
Kiểm soát BCT gửi đi nước ngoài:
Hồ sơ đủ điều kiện: Kiểm soát viên/ trưởng bộ phận ký nháy trên Chỉ dẫn thanh toán, hối phiếu, duyệt hồ sơ, bút toán
Hồ sơ không đủ điều kiện: Trưởng bộ phận trả về cho chuyên viên TTQT chỉnh sửa
Bước 3: Xử lý tình trạng nhờ thu
Chuyên viên TTQT theo dõi tình trạng nhờ thu BCT xuất khẩu
- Theo dõi, tra soát, xử lý tình trạng BCT L/C xuất khẩu:
Nếu nhận được phản hồi từ ngân hàng nước ngoài:
Ngân hàng nước ngoài thực hiện thanh toán BCT L/C xuất khẩu dưới hình thức trả ngay hoặc trả chậm, trong đó sẽ ghi có vào tài khoản khách hàng nếu BCT không có chiết khấu Ngược lại, nếu BCT được chiết khấu bởi PVcom Bank, tài khoản sẽ tạm treo cho đến khi hoàn tất các thủ tục liên quan.
Ngân hàng nước ngoài chấp nhận thanh toán BCT L/C trả chậm: lập thư thông báo Ngân hàng nước ngoài chấp nhận thanh toán BCT L/C xuất khẩu
Ngân hàng nước ngoài có thể từ chối thanh toán BCT L/C trả ngay hoặc không chấp nhận thanh toán L/C trả chậm nếu phát hiện các bất hợp lệ so với quy định của UCP, ISBP và L/C Trong trường hợp này, cần lập điện phản bác viện dẫn các quy định này Đồng thời, cũng cần soạn thư thông báo tình trạng NHPH từ chối thanh toán hoặc không chấp nhận BCT L/C xuất khẩu.
Nếu không nhận được thông báo từ ngân hàng nước ngoài: gửi điện tra soát
KSV, trưởng bộ phận phòng TTQT, chịu trách nhiệm kiểm soát giao dịch bằng cách kiểm tra chứng từ và duyệt các bút toán báo có tài khoản khách hàng Công việc này bao gồm việc thông báo tình trạng báo cáo tín dụng xuất khẩu (BCT L/C), thực hiện điện tra soát với ngân hàng nước ngoài, và thông báo từ chối thanh toán đối với các BCT L/C xuất khẩu đã được chiết khấu.
Chuyển chi nhánh kết quả xử lý giao dịch
CN thông báo khách hàng tình trạng nhờ thu BCT xuất khẩu
CN/ phòng TTQT theo dõi chỉ thị từ Ngân hàng nước ngoài hoặc khách hàng và xử lý
2.2.1.2 L/C nhập khẩu. a Phát hành/ tu chỉnh LC nhập khẩu:
- Hồ sơ đề nghị mở LC bao gồm:
Để mở thư tín dụng (LC), khách hàng cần nộp một bản chính giấy đề nghị mở LC, trong đó phải ghi rõ tên, chức danh và dấu của người đề nghị Mọi sửa đổi trên giấy này phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của khách hàng Nội dung trên giấy đề nghị và các chứng từ liên quan phải đồng nhất, không mâu thuẫn và không chứa điều khoản bất lợi cho khách hàng cũng như PVcom Bank, đồng thời tuân thủ quy định và thông lệ quốc tế Ngoài ra, mô tả hàng hóa cần nêu rõ tên, số lượng và đơn giá của hàng hóa.
Hợp đồng ngoại thương và hợp đồng ủy thác cần có một bản chính hoặc bản sao y có chữ ký xác thực của người đại diện theo pháp luật của khách hàng, cùng với dấu pháp nhân Hợp đồng này phải ghi rõ tên và địa chỉ của người mua, người bán, tên hàng hóa, số lượng, đơn giá, phương thức thanh toán là LC, điều kiện thương mại, và giá trị hợp đồng phải lớn hơn hoặc bằng giá trị LC, đồng thời có chữ ký của cả hai bên.
Chứng thư bảo hiểm cần phải có đầy đủ các thông tin như ngày phát hành, chữ ký và dấu của công ty bảo hiểm, tên hàng, cảng đi, cảng đến, thông tin chuyển tải, đơn vị hưởng và điều kiện bảo hiểm, tất cả phải khớp với hợp đồng tín dụng (LC) và quy định hiện hành của PVcom Bank Giá trị bảo hiểm phải tuân thủ theo quy định nghiệp vụ cấp tín dụng của PVcom Bank trong hoạt động thanh toán quốc tế, với người thụ hưởng bảo hiểm là PVcom Bank.
Giấy đề nghị mua ngoại tệ (nếu khách hàng dùng VND mua ngoại tệ để ký quỹ) (bản chính)
- Cán bộ phòng phát triển kinh doanh tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ phát hành (tu chỉnh) L/C: kiểm tra hạn mức phát hành/ tu chỉnh L/C:
Nếu khách hàng ký quỹ 100% thì trình bán ngoại tệ và hạch toán bán ngoại tệ
Nếu khách hàng ký quỹ bé hơn 100%:
Khách hàng cần có hạn mức phát hành L/C khả dụng lớn hơn hoặc bằng giá trị của L/C để lập tờ trình phát hành Sau đó, cần trình bán ngoại tệ và thực hiện hạch toán bán ngoại tệ.
Khách hàng chưa có hạn mức phát hành L/C hoặc hạn mức khả dụng không đủ thì lập tờ trình cấp hoặc gia tăng hạn mức phát hành L/C
Chuyên viên phòng phát triển kinh doanh cần gửi hồ sơ yêu cầu phát hành hoặc điều chỉnh L/C, bao gồm phiếu yêu cầu phát hành L/C, hồ sơ đề nghị mở L/C, tờ trình phát hành L/C trong hạn mức đã được phê duyệt, cùng với hồ sơ mở L/C đến trung tâm TTQT.
Chuyên viên phòng TTQT tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra điều kiện phát hành L/C
Phát hành L/C: soạn điện L/C, hạch toán số tiền ký quỹ, nhập ngoại bảng trị giá L/C, thu phí
Kiểm soát viên/trưởng phòng TTQT kiểm tra hồ sơ L/C, kiểm soát/duyệt giao dịch phát hành LC
Chuyên viên phòng TTQT trả kết quả phát hành L/C về chi nhánh
Chi nhánh tiếp nhận kết quả, in, ký tên lên chứng từ
Giám đốc chi nhánh ký, đóng dấu phát hành L/C
Giao L/C gốc cho khách hàng
Lưu hồ sơ: lưu hồ sơ tại chi nhánh và tại trung tâm thanh toán quốc tế b Xử lý bộ chứng từ L/C nhập khẩu
Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra điện đòi tiền
Chuyên viên TTQT tiếp nhận và kiểm tra điện đòi tiền, sau đó lập thông báo yêu cầu khách hàng thanh toán Kiểm soát viên, TP, PP, và Giám đốc Trung tâm TTQT sẽ kiểm soát thông báo này Cuối cùng, chuyên viên TTQT gửi thông báo yêu cầu thanh toán đến chi nhánh, và chuyên viên PTKD sẽ gửi thông báo đến khách hàng.
- Chuyên viên PTKD kiểm tra nguồn tiền thanh toán và thu phí:
Vốn tự có: KH nộp tiền vào tài khoản
Trung tâm quản lý tín dụng thực hiện kiểm soát và xác nhận điều kiện cấp tín dụng cũng như bảo lãnh hạn mức khả dụng và giải ngân Nếu các điều kiện được đáp ứng, giao dịch viên sẽ tiến hành hạch toán và bán ngoại tệ, trong khi chuyên viên phát triển kinh doanh gửi hồ sơ thanh toán đến Trung tâm Quốc tế.
- Chuyên viên TTQT thực hiện thanh toán dưới sự kiểm soát của Kiểm soát viên.
- Chuyên viên TTQT trả kết quả thanh toán về chi nhánh để giao KH
Bước 3: Tiếp nhận, kiểm tra xử lý bộ chứng từ
- Chuyên viên TTQT tiếp nhận bộ chứng từ và kiểm tra BCT gốc
- Lập thông báo tình trạng BCT
- Kiểm soát Thông báo tình trạng BCT
- Gửi khách hàng Thông báo tình trạng BCT
- Chuyên viên TTQT xử lý BCT gốc:
Nếu BCT hợp lệ, chuyên viên TTQT sẽ trình giám đốc Trung tâm TTQT hoặc người được ủy quyền để ký hậu vận đơn hoặc phát hành ủy quyền nhận hàng Sau khi được phê duyệt, chuyên viên sẽ photo 01 BCT để lưu trữ và chuyển BCT gốc về chi nhánh.
Doanh thu và đóng góp từ hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
thức tín dụng chứng từ
2.3.1 Tỷ trọng của hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ đang ngày càng chiếm ưu thế trong thanh toán quốc tế tại PVcom Bank, với tỷ trọng thanh toán qua L/C tăng lên, cho thấy sự vượt trội so với các phương thức khác Do thiếu thông tin thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam dễ gặp rủi ro khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, dẫn đến việc bị từ chối thanh toán Vì vậy, tín dụng chứng từ trở thành biện pháp an toàn trong xuất nhập khẩu hàng hóa, góp phần nâng cao doanh số và tỷ trọng sử dụng phương thức này.
Trong bối cảnh ngoại thương ngày càng phát triển, phương thức chuyển tiền truyền thống không còn đáp ứng được nhu cầu và đảm bảo an toàn cho các bên tham gia Tại PVcom Bank, tỷ trọng và doanh số thanh toán qua chuyển tiền chỉ còn chiếm 1% tổng doanh số thanh toán quốc tế Ngược lại, tín dụng chứng từ với những ưu điểm vượt trội và tính an toàn cao đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến nhất tại ngân hàng này.
Tỷ trọng của các phương thức thanh toán quốc tế tại ngân hàng PVcom Bank được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 2.7: Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế Đơn vị: Nghìn USD và %
Chuyển tiền Nhờ thu Tín dụng chứng từ
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh phòng Thanh toán quốc tế
Trong hoạt động thanh toán quốc tế của PVcom Bank, tín dụng chứng từ chiếm ưu thế lớn với tỷ trọng lên đến 96,7% vào năm 2016, cho thấy đây là phương thức an toàn nhất so với chuyển tiền và nhờ thu Mặc dù tỷ trọng của chuyển tiền và nhờ thu có xu hướng giảm, nhưng mức giảm này không đáng kể, khẳng định tín dụng chứng từ vẫn là hoạt động chính mang lại doanh thu cho phòng thanh toán quốc tế.
2.3.2 Doanh số thanh toán XNK theo phương thức tín dụng chứng từ
Đến tháng 9/2016, phương thức thanh toán xuất nhập khẩu qua tín dụng chứng từ đã trở nên phổ biến trong các hợp đồng ngoại thương, điều này được minh chứng qua doanh số thanh toán xuất nhập khẩu tại PVcom Bank như bảng dưới đây.
Bảng 2.8: Doanh số thanh toán XNK theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng PVcom Bank Đơn vị: Nghìn USD
Năm 2014 Năm 2015 9 tháng đầu năm
Số món Doanh số Số món
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh phòng Thanh toán quốc tế
Số liệu cho thấy cả doanh số thanh toán xuất nhập khẩu đều tăng qua các năm, với thanh toán hàng nhập khẩu chiếm ưu thế hơn Do các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhập khẩu linh kiện, thiết bị điện tử và máy móc phục vụ sản xuất, nhu cầu nhập khẩu luôn cao Ngược lại, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt tại các thị trường khó tính như Hoa Kỳ và EU, nơi yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật cao mà doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được Do đó, kim ngạch xuất khẩu vẫn chưa cao, mặc dù doanh số thanh toán hàng xuất khẩu có tăng nhưng với tốc độ chậm.
Hoạt động thanh toán quốc tế qua phương thức L/C mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng nhờ vào việc thu phí dịch vụ Mức phí của ngân hàng rất linh hoạt, dao động từ 10$ đến 100$ tùy theo loại nghiệp vụ và khách hàng Để cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng khác và duy trì doanh thu, PVcom Bank đã áp dụng mức phí hợp lý cho dịch vụ của mình.
Dưới đây là bảng kết quả thu phí dịch vụ TTQT theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại PVcom Bank:
Bảng 2.9: Tổng doanh thu từ hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại PVcom Bank Đơn vị: Triệu đồng
Tỷ trọng trong tổng doanh thu XNK 73% 75.7% 73.8%
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh phòng Thanh toán quốc tế
Doanh thu từ hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của PVcom Bank đã tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm, đạt 1.702 triệu đồng vào năm 2014 và trên 2 tỷ đồng vào năm 2015, chiếm 75,7% tổng doanh thu từ hoạt động này Thành công này nhờ vào các chương trình ưu đãi khách hàng, như chương trình “Tháng vàng thanh toán” dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, với nhiều lợi ích vượt trội như giảm đến 70% phí chuyển tiền và miễn phí điện phí cho khách hàng xuất nhập khẩu Khách hàng đạt doanh số thanh toán từ 300 nghìn USD trở lên sẽ tiếp tục được áp dụng mức phí ưu đãi trong các tháng tiếp theo Các chương trình này không chỉ thúc đẩy doanh số thanh toán quốc tế mà còn giúp PVcom Bank xây dựng được lượng khách hàng trung thành, đảm bảo doanh thu ổn định từ hoạt động thanh toán quốc tế.
Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế tại PVcom bank
2.4.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại PVcom Bank
Kể từ khi ra mắt vào năm 2013, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam đã đạt được nhiều thành công nổi bật, khẳng định vị thế trong và ngoài nước Đặc biệt, hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng đã mang lại kết quả khả quan, không chỉ tạo ra nguồn lợi lớn mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngoại thương tại Việt Nam Doanh số thanh toán liên tục gia tăng qua các năm, cho thấy ngân hàng đã xây dựng được sự tín nhiệm vững chắc từ các doanh nghiệp và khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế theo L/C được phát hành bởi PVcom Bank khi ký kết hợp đồng ngoại thương.
Hoạt động thanh toán quốc tế qua tín dụng chứng từ được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên chuyên môn cao, thành thạo mạng Swift và quy trình chuẩn hóa từ phát hành đến thanh toán L/C Quá trình này diễn ra nhanh chóng và chính xác, với sự kiểm soát chặt chẽ từ Kiểm soát viên/Trưởng Bộ phận, đảm bảo tính chính xác của hồ sơ và giảm thiểu rủi ro Điều này không chỉ làm hài lòng khách hàng mà còn tạo sự yên tâm cho các doanh nghiệp trong hoạt động ngoại thương.
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Thương mại cổ phần PVcom Bank a Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Thương mại cổ phần PVcom bank
Mặc dù ngân hàng đã đạt doanh số ấn tượng trong hoạt động thanh toán quốc tế, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và hạn chế trong việc thực hiện phương thức tín dụng chứng từ.
Công tác chăm sóc khách hàng hiện tại chưa được thực hiện một cách chặt chẽ, dẫn đến việc thông tin cung cấp cho khách hàng còn hạn chế Số lượng khách hàng thực hiện giao dịch thanh toán qua L/C vẫn còn thấp, chủ yếu tập trung ở những khách hàng quen thuộc tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh.
Việc mở rộng quan hệ đại lý đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường quốc tế và thuận lợi hóa quy trình thanh toán toàn cầu PVcom Bank đã tích cực thiết lập quan hệ đại lý với 108 ngân hàng và chi nhánh trên 40 quốc gia Tuy nhiên, con số này vẫn còn khiêm tốn so với ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam với 1.500 đại lý và ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có hơn 1.600 đại lý tại 125 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Mặc dù quy trình thanh toán L/C trong xuất nhập khẩu đã được hoàn thiện, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn Thông báo từ chi nhánh về Hội sở thường chậm trễ, gây thiệt hại cho cả khách hàng và ngân hàng.
Mặc dù thanh toán bằng tín dụng chứng từ được xem là phương thức an toàn nhất, nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro như thất lạc L/C và chứng từ gốc, chuyển bộ chứng từ sai địa chỉ, thanh toán muộn dẫn đến phạt lãi, và hạch toán sai tiền.
Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng đã được ban hành và áp dụng từ tháng 10/1998, nhưng việc thực hiện gặp khó khăn do các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành chưa rõ ràng và đồng bộ.
Sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong quản lý xuất nhập khẩu còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý Việc quy định chức năng của ngân hàng trong kiểm soát thanh toán quốc tế chưa được làm rõ, gây cản trở cho quá trình này.
Các cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Việt Nam đang trong giai đoạn điều chỉnh và chưa ổn định, chịu tác động từ biến động thị trường toàn cầu Một ví dụ rõ ràng là việc Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ vào tháng 9/2015, dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá VND/USD tăng 1% và nới biên độ giao dịch tỷ giá từ +/- 1% lên +/- 3%, gây ra những biến động trong hoạt động thanh toán quốc tế.
Thị trường ngoại hối Việt Nam còn nhiều hạn chế, dẫn đến thông tin không đầy đủ và phần lớn giao dịch ngoại tệ diễn ra trên thị trường chợ đen Ngân hàng gặp khó khăn trong thanh toán do doanh số thanh toán nhập khẩu vượt quá xuất khẩu, gây thiếu hụt ngoại tệ cần thiết cho các giao dịch.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu rõ bản chất của L/C, dẫn đến việc yếu kém trong nghiệp vụ ngoại thương và hạn chế kiến thức về quy trình thanh toán quốc tế Điều này gây ra tranh cãi khi xảy ra sự cố, khi mà một số doanh nghiệp cho rằng ngân hàng đảm bảo 100% khi thanh toán qua L/C Tuy nhiên, họ không nhận ra rằng nếu bộ chứng từ không phù hợp, ngân hàng có quyền từ chối thanh toán Ngay cả khi hàng hóa có vấn đề nhưng chứng từ vẫn đáp ứng yêu cầu của L/C, doanh nghiệp chỉ có thể kiện đối tác theo hợp đồng thương mại, không thể yêu cầu ngân hàng thanh toán.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Ngân hàng mới hoạt động gần 4 năm, còn non trẻ và quy mô nhỏ, dẫn đến uy tín quốc tế chưa cao Điều này hạn chế khả năng thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng toàn cầu và làm giảm khả năng cạnh tranh với các ngân hàng quốc doanh lớn như Vietcom Bank và BIDV.
Đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao chủ yếu tập trung tại Hội sở, trong khi trình độ nhân viên tại các chi nhánh không đồng đều Số lượng nhân sự chưa đủ, dẫn đến khối lượng công việc lớn, gây áp lực và dễ dẫn đến sai sót trong quá trình kiểm tra và xử lý bộ chứng từ.