Mặc dù vẫn còn có những hạn chế:Thông tin phản hồi từ phía khách hàng đến nhà sản xuất đôi khi không đượcphản ánh đúng, nhà sản xuất phải bỏ ra một khoản chi phí cho các nhà bán lẻ.Tuy n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã đạtđược những bước tiến quan trọng, ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tếthế giới và đỉnh cao là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150của tổ chức thương mại thế giới WTO vào Ngày 17/11/2006
Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, trở thành thành viên của WTO cũng đồngnghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và các ngànhkinh tế nội địa nói chung, ngành bán lẻ nói riêng phải chịu sự cạnh tranh khốcliệt mà trước đây chưa từng có
Ngành bán lẻ Việt Nam đang phải đối diện với những người khổng lồ mangtầm vóc quốc tế Đó là BigC với đại siêu thị của những núi hàng hóa chất đống,
đó là Parkson của những vị trí đắc địa và phong cách bài trí quyến rũ, hiện đại,
đó là những Unilever, Lotter, Louis Vuiton… và một Wallmart đang ngấp nghétấn công thị trường bán lẻ Việt Nam
Trước tình hình đó, để bảo vệ và phát triển ngành bán lẻ Việt Nam, vấn đềnâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam chưa bao giờ trở nêncấp thiết hơn lúc này
Vì vậy, em quyết định chọn đề tài:
“Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO ”
làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu của em gồm 3 phần:
Chương I: Tổng quan về khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Trang 2Chương I: Tổng quan về khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam
trong điều kiện gia nhập WTO
1 Ngành bán lẻ và tầm quan trọng của ngành bán lẻ đối với nền kinh tế Việt Nam
1.1 Khái niệm bán lẻ và thị trường bán lẻ
a, Khái niệm và các hình thức bán lẻ
Về khái niệm hàng hóa, chúng ta cần phân biệt khái niệm hàng hóa tiêudùng và hàng hóa tư liệu sản xuất Hàng tiêu dùng là những hàng hóa phục vụcho nhu cầu sống của cá nhân, gia đình Hàng tư liệu sản xuất là những hàng hóaphục vụ cho nhu cầu sản xuất, là yếu tố đầu vào của quá trình tái sản xuất
Về khái niệm bán lẻ, có nhiều khái niệm về bán lẻ hàng hóa Theo từ điểnAmerican Heritage định nghĩa: “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng, thường
là bán với khối lượng nhỏ và không bán lại” Bán lẻ là hình thức bán hàng trựctiếp cho người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân và gia đình Bán lẻhàng hóa là khâu kết thúc quá trình lưu thông, hàng hóa đi vào lĩnh vực tiêudùng và giá trị hàng hóa được thực hiện
Theo NAICS, US năm 2002, lĩnh vực thương mại bán lẻ bao gồm những cơ
sở kinh doanh bán lẻ hàng hóa và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng.Quá trình bán lẻ là khâu cuối cùng trong phân phối hàng hóa Các nhà bán lẻ tổchức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng
Theo cuốn sách quản trị Marketing, Phillip Kotler đã định nghĩa: Bán lẻbao gồm tất cả cá hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trựctiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sẻ dụng vào mục đích cá nhân, khôngkinh doanh
Như vậy, qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể rút ra những điểmchung của khái niệm về bán lẻ là: hoạt động bán hàng với lượng nhỏ, bán trựctiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra, đây còn là công đoạn đoạn cuốicùng trong khâu lưu thông, hàng hóa đến trực tiếp với người mua để tiêu dùngchứ không phải kinh doanh
Trang 3Các nhà bán lẻ thuộc đủ loại quy mô, hình thức và luôn xuất hiện thêmnhững kiểu bán lẻ đa dạng Các chức năng phân phối do các nhà bán lẻ thựchiện có sự phối hợp theo nhiều cách khác nhau để tạo ra các dạng mới của địnhchế bán lẻ Có thể phân loại những nhà bán lẻ theo một số các tiêu thức sau:
Theo những mặt hàng mà nhà bán lẻ bán người ta chia ra thành: cửa hàng
chuyên doanh, cửa hàng bách hoá, siêu thị, cửa hàng tiện dụng, và cửa hàng caocấp
- Cửa hàng chuyên doanh: bán các dòng sản phẩm hẹp và chuyên sâu
- Cửa hàng bách hoá: bày bán những mặt hàng khác nhau, mỗi mặt hàng
là một quầy riêng
- Siêu thị: là những trung tâm bán lẻ lớn, chi phí thấp, tự phục vụ, giáthấp, doanh số bán cao
- Cửa hàng tiện dụng: là cửa hàng bán lẻ nhỏ, bán một số mặt hàng phục
vụ nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng
Theo phương pháp hoạt động của nhà bán lẻ chia thành: Bán lẻ qua cửa
hàng và bán lẻ không qua cửa hàng Bán hàng không qua cửa hàng có nhiềuhình thức như: đặt hàng qua thư, máy bán hàng, mua hàng qua máy tính, quađiện thoại và bán lẻ tại nhà
Theo hình thức sở hữu chia ra thành: Bán lẻ độc lập, chuỗi tập đoàn, hợp
tác xã bán lẻ, hợp tác xã tiêu thụ và các đại lí độc quyền kinh tiêu,
- Của hàng độc lập do một cá nhân làm chủ và tự quản lí
- Chuỗi tập đoàn thường gồm nhiều cửa hàng bán lẻ thuộc cùng một chủ
sở hữu, bán những mặt hàng tương tự như nhau và việc mua bán có sự điều hànhtập trung
- Hợp tác xã bán lẻ gồm một số các nhà bán lẻ độc lập liên kết lại vàthành lập một tổ chức thu mua và có tổ chức tập trung và điều hành các côngviệc bán hàng và quảng cáo thống nhất
- Hợp tác xã tiêu thụ là tổ chức bán lẻ do chính khách hàng lập ra
- Các đại lí độc quyền kinh tiêu là những liên kết theo hợp đồng giữa cácbên chủ quyền (nhà sản xuất, nhà bán bán buôn hay tổ chức dịch vụ) và bên
Trang 4nhận quyền (các nhà bán lẻ) muốn mua quyền sở hữu và quyền kinh doanh sảnphẩm.
Xét theo lĩnh vực phân phối ta có thể phân chia bán lẻ thành hai hình thức
kênh chính đó là: kênh phân phối truyền thồng và kênh phân phối hiện đại.Trong đó kênh phân phối truyền thống bao gồm: Các chợ, cửa hàng thực phẩm,người bán dạo… Đây là kênh phân phối của các cá nhân, tư nhân với hình thứckinh doanh nhỏ lẻ Còn kênh phân phối hiện đại thì bao gồm: Các trung tâmthương mại, các siêu thị, mạng lưới cửa hàng tiện lợi, khu thương mại-dịch vụ,trung tâm hội chợ- triển lãm… Đây là hình thức bán lẻ hàng hoá theo loại hìnhthương mại hiện đại
Cầu bán lẻ ở đây là những người tiêu dùng, họ có rất nhiều các nhu cầu vềhàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn những mong muốn của mình
Trên thị trường bán lẻ, các nhà bán lẻ đóng vai trò là người bán Khi lựachọn mua hàng hoá từ nhà sản xuất, họ phải xem những sản phẩm ấy có thu hútđược khách hàng của họ hay không Và từ đó họ quyết định nên kinh doanhnhững mặt hàng nào nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêudùng Chính vị thế trên thị trường bán lẻ, người tiêu dùng là người chấp nhận giácòn các nhà bán lẻ là ngưòi quyết định giá bán Mức giá mà họ đưa ra là dựatrên cơ sở: Mức giá mua vào, chi phí lưu thông và khả năng thanh toán củakhách hàng
1.2 Vai trò của hoạt động bán lẻ
Bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong kênh phân phối, nó là cầu nối giữa nhàsản xuất và người tiêu dùng Nói đến vai trò của bán lẻ cũng chính là ta đang nói
Trang 5tới vai trò của các nhà bán lẻ, những chủ thể của tác động, nhờ có các nhà bán lẻ
mà bánh xe lưu thông hàng hoá trở lên nhanh nhạy hơn
Trước hết ta nhận thấy bán lẻ có vai trò rất quan trọng đối với các nhà sảnxuất, có thể thấy qua các sơ đồ lưu chuyển hàng hoá sau :
Sơ đồ 1: lưu chuyển hàng hóa
Hàng hóa được sản xuất ra để đến được tay người tiêu dùng thì nhà sảnxuất phải thực hiện đến chín lần tiếp xúc Số lần tiếp xúc lớn sẽ gây rất nhiềunhững khó khăn như: Vấn đề tập trung được nguồn lực để mở rộng quy mô,những khó khăn trong quản lý kênh, trong hoạt động xúc tiến bán hàng Nhữngvấn đề này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của họ
Sơ đồ 2: Lưu chuyển hàng hóa
Nhà sản xuất
Nhà sản xuất
Nhà sản xuất
Khách hàng Khách hàng Khách hàng
Nhà sản xuất
Khách hàng
Nhà sản xuất
Nhà sản xuất
Nhà sản xuất
Khách hàng
Khách hàng
Khách hàng Nhà bán lẻ
Trang 6Nhờ tối thiểu hóa số lần tiếp xúc thoả mãn thị trường lên các nhà bán lẻ đãgiúp cho việc lưu thông hàng hoá trở nên dễ dàng hơn Bên cạnh đó, các nhà bán
lẻ còn có những lợi thế về quan hệ tiếp xúc thị trường, kinh nghiệm, sự chuyênmôn hoá và quy mô hoạt động Chính vì thế trong rất nhiều lĩnh vực để các nhàbán lẻ phân phối sản phẩm đến tay khách hàng sẽ đem lại cho nhà sản xuất lợiích nhiều hơn so với khi tự nó làm lấy Vì vậy mặc dù lợi nhuận của mình sẽ bịchia sẻ nhưng các nhà sản xuất vẫn sử dụng các nhà bán lẻ trong kênh phân phốicủa mình
Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng đóng một vai trò quan trọng đối vớikhách hàng Khi có các nhà bán lẻ tham gia phân phối hàng hoá thì khách hàngđược hưởng rất nhiều lợi ích như: Họ có thể mua được hàng hoá một cách nhanhchóng, chủng loại hàng hoá đa dạng, được hưởng các dịch vụ hậu mãi phongphú…Như vậy sẽ không còn khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữugiữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Mặc dù vẫn còn có những hạn chế:Thông tin phản hồi từ phía khách hàng đến nhà sản xuất đôi khi không đượcphản ánh đúng, nhà sản xuất phải bỏ ra một khoản chi phí cho các nhà bán lẻ.Tuy nhiên sự có mặt của các nhà bán lẻ như là một nhu cầu tất yếu, làm chocung và cầu thị trường thị trường phù hợp nhau một cách trật tự và có hiệu quả.Giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng với đùng mức giá mà họ
có thể mua, đúng chủng loại mà họ cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêucầu
1.3 Chức năng của hoạt động bán lẻ
Chức năng của hoạt động bán lẻ có thể phân định trong phạm vi 4 chứcnăng chính là khai thác một số nhóm mặt hàng, dịch vụ nhất định; chia những lôhàng lớn thành những đơn vị nhỏ; lưu trữ sẵn hàng hóa; cuối cùng là trưng bàyhàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm
Thứ nhất là chức năng khai thác một số nhóm hàng, dịch vụ nhất định Cửa
hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởinhiều công ty khác nhau Điều nầy là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự
Trang 7thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, qui cáchbao bì đóng gói và cả các mức giá khác nhau Chính vì vậy cho nên các cửahàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việc chọn lưa những nhóm hàng hóa vàdịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêudùng ở khu vực mà cửa hàng tọa lạc.
Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thìcửa hàng bán lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm nầy đến người tiêu dùng Chẳnghạn như Vinamilk sản xuất các sản phẩm sữa, Daso sản xuất xà phòng, Mỹ Hảosản xuất ra nước rửa chén, Nam Dương sản xuất nước chấm và Bibica sản xuấtbánh kẹo Cho dù các nhà sản xuất trên có tự đứng ra tổ chức cửa hàng bán lẻ đểphân phối sản phẩm của mình thì cũng khó lòng để người tiêu dùng có thể chấpnhận bỏ thời gian đi đến hàng chục cửa hàng khác nhau để mua cho đủ nhữngthứ mà mình cần dùng trong ngày Đó là lý do vì sao cửa hàng bán lẻ là trởthành một điểm mua sắm được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng
Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thươnghiệu khác nhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng thiên về một nhómsản phẩm làm nòng cốt
Thứ hai là chức năng chia nhỏ lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ Từ
retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ Chúng ta đềubiết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giảnđối với đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ Do vậy các nhà sản xuất và cácnhà bán sỉ ưa thường thích bán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp
để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách phù hợp với thóiquen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy
Chẳng hạn như nhà sản xuất nước bia cho nhà phân phối từng xe tải, nhàphân phối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻcuối cùng bán lại cho người tiêu dùng một vài chai
Thứ ba là chức năng lưu trữ hàng hóa Một trong những chức năng chính
của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn
Trang 8mỗi khi người tiêu dùng cần đến Người bán lẻ thông thường không thích trữ chỉmột vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ thích trữ nhiều mặt hàng vớikhối lượng càng nhỏ càng tốt Vì như thế khách hàng luôn luôn có nhiều sựchọn lựa hơn Hưởng lợi từ chức năng nầy của người bán lẻ, khách hàng khôngphải mua trử nhiều sản phẩm không nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúcnào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ.
Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khilên kế hoạch dự trữ hàng Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho kháchhàng, khi nhu cầu phát sinh khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần
Cuối cùng là chức năng trưng bầy hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng bày
hàng hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú,giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua
Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến,nhiều nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho kháchhàng có được một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau
1.4 Tầm quan trọng của ngành bán lẻ đối với nền kinh tế Việt Nam
Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế đã mang đến cho ngành bán lẻ môi trường thuận lợi cho sự phát triển Cụ thể
là trong giai đoạn từ năm 2006-2010, tổng mức bán lẻ tăng trung bình khoảng24% hàng năm và rất nhiều các trung tâm thương mại ra đời với những bước độtphá trong dịch vụ thương mại và cách thức cung cấp hàng hóa đến tay ngườitiêu dùng
Sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ đã tạo tiền đề quan trọng đểthúc đẩy sản xuất, tái sản xuất phát triển trên quy mô lớn hơn Trong một thịtrường đầy tiềm năng như Việt Nam, khi mà nhu cầu về hàng tiêu dùng củangười dân rất lớn và không ngừng gia tăng, các nhà bán lẻ giúp cho người mua
có thể tiếp cận hàng hóa một cách dễ dàng, thuận tiện hơn, làm cho quá trình táisản xuất diễn ra thông suốt, doanh nghiệp có thêm động lực sản xuất
Trang 9Bên cạnh đó, ngành bán lẻ cũng giúp giải quyết công ăn việc làm cho mộtlượng lớn lao động phổ thông, góp phần giảm gánh nặng do thất nghiệp gây racho nền kinh tế Do đặc điểm bán hàng với lượng nhỏ và cung cấp cho ngườitiêu dùng cuối cùng, hoạt động bán lẻ đòi hỏi một mạng lưới bán lẻ rộng khắp
để có sự hiểu biết hơn và dễ tiếp cận hơn với người tiêu dùng Bởi vây, ngànhbán lẻ đòi hỏi phải có một lượng lao động lớn với những kĩ năng đơn giản Điềunày giúp giải quyết tốt hơn tình trạng thất nghiệp trong một quốc gia có nền giáodục chưa được phổ cập rộng rãi và nhận thức một cách đầy đủ như nước ta.Thực hiện chức năng đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng,ngành bán lẻ làm cho người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận và lựa chọn hàng hóacho mình, góp phần nâng cao đời sống và mức sinh hoạt cho người dân Tiêudùng nhiều hơn sẽ làm cho sản xuất phát triển, quay ngược trở lại nâng cao thunhập cho người dân
Cuối cùng, hoạt động bán lẻ mang hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam,điều này không chỉ giúp nâng cao mức sống cho người dân, mà đó còn là cơ hội
để chúng ta có sự hiểu biết về văn hóa, đời sống, công nghệ của các nước tiêntiến trên thế giới, từ đó tạo ra động lực cho nền kinh tế đất nước hội nhập sâuhơn và tự ý thức để nâng cao tính cạnh tranh của chính mình Khi mà hàng hóatrong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh đến từ những quốc gia có nền sảnxuất mạnh hơn, để tồn tại, các nhà sản xuất trong nước buộc phải tự làm mới,tìm kiếm, phát triển năng lực cạnh tranh của mình Có thể nói, cùng với việcmang hàng hóa từ nước ngoài sang để thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phúcủa người tiêu dùng, các nhà bán lẻ đã đem đến cơ hội cạnh tranh và phát triểncho các doanh nghiệp sản xuất trong nước
Với những điểm đã phân tích ở trên, chúng ta có thể khảng định rằng hoạtđộng bán lẻ đóng góp một vai trò quan trọng không thể thiếu cho sự phát triểncủa nền kinh tế Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai
Tuy nhiên, trong điều kiện gia nhập WTO, Việt Nam theo lộ trình phải mởcửa thị trường bán lẻ Điều này đồng nghĩa với việc các nhà bán lẻ trong nước
Trang 10phải đối mặt với những đối thủ vốn lớn, có nguồn hàng ổn định và đầy kinhnghiệm đến từ các quốc gia khác.
Và đặc biệt với một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng như Việt Nam, sự cạnhtranh mà WTO đem lại hứa hẹn sẽ đầy thử thách
2 Sự cần thiết của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam
2.1 Cam kết về mở cửa thị trường bán lẻ khi gia nhập WTO của Việt Nam
Theo cam kết, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ mở cửa tất cả các phânngành dịch vụ phân phối theo phân loại của WTO bao gồm: dịch vụ đại lý hoahồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ(bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp)
và dịch vụ nhượng quyền thương mại
Trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện hoạt động phân phối tại Việt Nam dưới hai hình thức:
Thứ nhất là thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam với điều kiện phần vốn nước ngoài trong liên doanh không quá 49%(từ ngày 1/1/2008 sẽ không hạnchế phần vốn nước ngoài trong liên doanh)
Thứ hai là thành lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài sau 1/1/2009
Theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam trong WTO, nhà phân phối cóvốn đầu tư nước ngoài được phép phân phối các sản phẩm theo lộ trình thờigian sau đây:
1 Từ ngày 11/1/2007: được quyền phân phối tất cả các sản phẩm sản
xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoạitrừ:
o Xi măng và clinke;
o Lốp (trừ lốp máy bay);
Trang 11o Giấy;
o Máy kéo; phương tiện cơ giới;
o Ô tô con và xe máy;
o Sắt thép;
o Thiết bị nghe nhìn;
o Rượu và phân bón
2 Từ ngày 1/1/2009: Bổ sung thêm quyền phân phối thông qua dịch
vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ đối với các sản phẩm máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy;
3 Từ ngày 11/1/2010: Không có bất kỳ hạn chế nào về sản phẩm
được phép phân phối (miễn là các sản phẩm đó được sản xuất tại Việt Nam hoặcđược nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam)
Ví dụ đối với quyền phân phối ô tô nhập khẩu tại Việt Nam của doanhnghiệp FDI sản xuất, lắp ráp ô tô Chiếu theo cam kết trên của Việt Nam, doanhnghiệp chỉ được quyền phân phối ô tô nhập khẩu khi hội tụ hai điều kiện làdoanh nghiệp đó được cấp phép thực hiện hoạt động phân phối và việc phânphối ô tô nhập khẩu của họ được thực hiện sau ngày 1/1/2009
Tuy nhiên, cũng có hạn chế chung trong hoạt động của các doanh nghiệpnước ngoài khi muốn đầu tư vào thị trường phân phối bán lẻ Việt Nam là họ chỉđược phép cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua việc lập cơ sở bán lẻ(cửa hàng,siêu thị… ) và các doanh nghiệp này chỉ được tự động mở một địa điểm bán lẻ.Việc thành lập các cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải được sự cho phép của
cơ quan có thẩm quyền Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam có quyền xem
xét nhu cầu kinh tế để cho phép hay từ chối yêu cầu lập cơ sở bán lẻ thứ hai trở
đi của các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài
Chính quy định này là lý do các doanh nghiệp nước ngoài chưa thể đầu tư
ồ ạt vào thị trường bán lẻ Việt Nam, tạo cơ hội cho các nhà bán lẻ trong nước có
Trang 12cơ hội tự hoàn thiện và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong bối cảnhmới.
Đối với hình thức phân phối qua mạng hoặc dưới các hình thức thương mạiđiện tử khác, theo cam kết WTO, đối với các doanh nghiệp phân phối nướcngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam (không thiết lập liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), Việt Nam chỉ cho phép họ phân phối
qua biên giới các sản phẩm sau:
Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân;
Các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mục đích thương mại
Ngoài ra, các hình thức bán hàng qua mạng khác chưa được chính phủ Việt Nam cam kết
Những cam kết mở cửa thị trường đem đến cho ngành bán lẻ Việt Namnhững tác động trái chiều Một mặt, kênh bán lẻ truyền thống cũng như hiện đạicủa chúng ta đứng trước nguy cơ sụp đổ bởi sự cạnh tranh đến từ các đối thủquốc tế Mặt khác, gia nhập WTO cũng đem đến một luồng gió mới cho thịtrường bán lẻ còn đang sơ khai của Việt Nam Sự có mặt của các tập đoàn phânphối đa quốc gia với thế mạnh về tài chính, công nghệ và mạng lưới sẽ đẩy hoạtđộng kinh doanh bán lẻ trên cả nước đi vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh
2.2 Mối đe dọa đến từ các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia
Tính đến cuối năm 2006, thị trường phân phối ở Việt Nam đã có nhiềudoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của các tập đoàn phân phối lớn trên thếgiới
Đó là các tên tuổi như Metro Cash & Carry(Đức), BigC, Parkson, Lottervới các siêu thị tại TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và đangtiếp tục triển khai kế hoạch mở rộng thêm các siêu thị vừa và nhỏ tiếp theo trêncác tỉnh thành phố khác
Trang 13Với những ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, phương pháp quản lý vàkinh nghiệm kinh doanh trong ngành phân phối ở các nước trên thế giới, các tậpđoàn phân phối đa quốc gia đã thực sự trở thành mối đe dọa cho các nhà bán lẻtrong nước.
Đầu tiên, các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia với quy mô lớn và sức mạnh củavốn đầu tư đã tạo sức ép cho các nhà sản suất để hạ giá thành sản phẩm của họkhi đến tay người tiêu dùng Thực tế cho thấy, với cùng một mặt hàng, cùng mộtthời điểm nhưng được bán trong siêu thị của hệ thống siêu thị của chúng ta là đắtnhất so với Metro, BigC và các cơ sở đường phố Điều này là do khi ký hợpđồng với nhà sản xuất, các siêu thị Việt Nam thường quy định sau một thời gianbán được hàng, siêu thị mới thanh toán cho nhà sản xuất phần hàng bán đượccòn lượng hàng không bán được hoặc kém phẩm chất sẽ trả lại cho nhà sản xuất.Như vậy, các siêu thị trong nước đã đẩy toàn bộ rủi ro trong lĩnh vực lưu thônglên nhà sản xuất cho nên nhà sản xuất sẽ nâng giá lên cộng với phần trăm siêuthị được hưởng đã đội giá sản phẩm lên cao
Khác với các siêu thị trong nước, các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia lại làmtheo một cách khác Lấy ví dụ cho trường hợp của Metro, Khi ký hợp đồng , nhàsản xuất được hưởng 4 ưu đãi, thứ nhất là dán lên nhãn hiệu của nhà sản xuấtbiểu tượng của Metro để nâng cấp sản phẩm đó lên; thứ hai là họ mua với khốilượng lớn để chi phí sản xuất giảm xuống; thứ ba là mua ổn định trong thời giandài để nhà sản xuất hoạch định kế hoạch sản xuất cho phù hợp; thứ tư là thanhtoán dứt điểm lượng hàng đã mua cho nhà sản xuất Vì được hưởng 4 ưu đãi đónên nhà sản xuất phải chấp nhận điều khoản thứ năm là bán cho Metro tối thiểuthấp hơn 15% so với giá bán ngoài thị trường Như vậy là Metro có được mặthàng rẻ, khối lượng lớn và ổn định để cung cấp cho người tiêu dùng Do đó,khách hàng của Metro là những nhà bán lẻ, những hộ tiêu dùng lớn như kháchsạn, nhà hàng… Khi bán được càng nhiều hàng có nghĩa là nhà sản xuất cũngtiêu thụ được nhiều hàng nên chi phí sản xuất sẽ giảm đi, giá thành sẽ lại cànggiảm, lãi càng nhiều
Trang 14Hơn nữa, với kinh nghiệm và ứng dụng các phương pháp quả lý hiệu quả.Các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia tỏ ra nhậy bén hơn trong việc nắm bắt nhu cầucủa người tiêu dùng và phản ứng kịp thời đối với những thay đổi về thị hiếu.Cách bài trí trong cửa hàng cũng được nghiên cứu kĩ lưỡng nhằm tạo cảm giácthoải mái và hứng thú mua hàng cho người tiêu dùng, khác hẳn với sự đơn điệucủa các siêu thị nội địa.
Bên cạnh đó, những chiến dịch khuyến mại, quảng cáo, quan hệ kháchhàng… mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia tiến hành cũng đã bước đầu tạonên văn hóa mua sắm mới cho người tiêu dùng Việt Nam Ngày nay, người Việtsống ở đô thị ngày càng quen thuộc hơn với hình thức mua sắm trong các siêuthị lớn, háo hức trước những đợt khuyến mại được quảng cáo rầm rộ và giữ mốiliên hệ ngày càng được cải thiện với các trung tâm mua sắm lớn
Chính những giá trị nổi trội mà các nhà bán lẻ quốc tế cung cấp đã làm cho họngày càng trở nên quen thuộc hơn trong mắt người tiêu dùng và làm giảm thịphần kinh doanh của các nhà bán lẻ nội địa
2.3 Sự non trẻ của ngành bán lẻ Việt Nam
Hệ thống phân phối tại Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phốitruyền thống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp cácđịa phương Điều này đối chọi với hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và chủyếu là siêu thị như Co.opMart, MaxiMark và các trung tâm bán sỉ lẻ lớn nhưMetro, BigC Tại các đô thị lớn - nơi có sức mua lớn nhất, nhịp sống dần dầnđược thay đổi trong các gia đình trẻ bởi thói quen cuối tuần đi siêu thị mua đồdùng cho cả gia đình trong một tuần Thêm nữa, sự chênh lệch về phương thứckinh doanh, sự đa dạng hàng hóa, giá cả, nhãn hiệu, an toàn thực phẩm đãnghiêng cán cân lợi thế về phía hệ thống phân phối hiện đại Với sự phát triểnnhãn tiền thì hệ thống phân phối hiện đại tất nhiên sẽ làm suy yếu kênh phânphối truyền thống trong thời gian tới
Đối với các nhà bán lẻ nội địa, việc thu hẹp hệ thống phân phối truyềnthống thay bằng phân phối hiện đại sẽ làm ưu thế cạnh tranh của họ yếu đi do
Trang 15trong hàng chục năm qua họ đã phát triển các lợi thế cạnh tranh của mình dựavào hệ thống chợ và các cửa hàng bán lẻ nhỏ, phân bố rải rác.
Bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ hiện đại nước ta còn chưa nhiều, lại thiếu tínhchuyên nghiệp và ít vốn, hệ thống hậu cần, nguồn hàng còn rời rạc, thiếu đồng
bộ Khó khăn với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực cạnhtranh yếu vì đại bọ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ quản lý lạchậu, cơ sở kinh doanh chưa hiện đại, chiến lược kinh doanh chưa được quan tâmđúng mức
Thêm vào đó, tuy chiếm giữ thị trường bán lẻ Việt Nam từ trước nhưng cácnhà bán lẻ trong nước không chiếm được các vị trí đắc địa trong kinh doanh.Thực tế cho thấy, hầu hết các siêu thị, trung tâm thương mại nước ngoài đều có
vị trí đẹp nhất, gần khu trung tâm, nơi tập trung dân cư, giao thông thuận tiện vàmặt bằng rộng
Trong phân phối bán lẻ, mối quan hệ tin tưởng giữa khách hàng và nhàkinh doanh là vô cùng quan trọng Đặc biệt, theo xu hướng của thế giới, ngườitiêu dùng ngày càng quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm và sự thoải máitrong quá trình mua sắm của mình Tuy nhiên, an toàn thực phẩm và sự minhbạch về giá cả, xuất xứ hàng hóa lại đang là một khâu yếu còn đang tồn tại trong
hệ thống phân phối bán lẻ của chúng ta
Đối mặt với hoàn cảnh mới, cụ thể là 1/1/2009, nhà nước chính thức cấpphép kinh doanh cho các doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài được hoạtđộng trong thị trường Việt Nam, điều quan trọng nhất đối với các nhà bán lẻ nộiđịa là phải cải thiện năng lực cạnh tranh của mình để có thể thích ứng với điềukiện mới mà không phải gánh chịu những cú sốc ngoài ý muốn Trong khoảngthời gian gần đây, do nền kinh tế thế giới suy thoái mà sự thiếu ổn định của thịtrường Việt Nam, các công ty phân phối đa quốc gia cũng giảm dần tốc độ thâmnhập thị trường Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một thị trường đầy tiềm năng( xếpthứ 14 về thị trường bán lẻ tiềm năng trên thế giới vào năm 2010) và các nhà
Trang 16bán lẻ cần phải thấy được rằng đây là cơ hội để cải thiện sức cạnh tranh củamình chứ không phải là dịp để trì hoãn.
3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M Porter
3.1 Nhà cung cấp
Các nhà cung ứng trong nước: Các nhà sản xuất nước ta có số lượng khá lớn
đặc biệt là các nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng Tuy nhiên, quy mô sản xuấtnhỏ và chất lượng hàng hóa chưa cao, chỉ có rất ít các sản phẩm đạt tiêu chuẩnquốc tế Do vậy, hiện nay xảy ra hiện tượng các sản phẩm nhãn hiệu Việt Namrất khó tìm được chỗ đứng của mình trong các siêu thị lớn, các trung tâm thươngmại nước ngoài như BigC, Metro, Parkson…Sau khi Việt Nam thực hiện AFTA,tình hình lại càng trở nên khó khăn hơn với doanh nghiệp sản xuất nếu muốnbước chân vào hệ thống trung tâm thương mại nước ngoài do mức thuế giảmmạnh, các siêu thị lớn có xu hướng nhập hàng từ các nước ASEAN nhiều hơn.Tuy nhiên, các nhà sản xuất nội địa cũng có điểm mạnh là mặt hàng mà họ cungcấp thường có giá bán rẻ hơn giá của các mặt hàng ngoại nhập và do thườngxuyên tiếp cận thị trường nên họ cũng nhậy bén hơn với những thay đổi trong thịhiếu người tiêu dùng để điều chỉnh sản xuất của mình Nhưng trên thị trường, ailàm chủ hoạt động phân phối hàng hóa thì người đó nắm quyền chủ động Dovậy, hướng đi cho các nhà sản xuất nội địa là tạo dựng mối quan hệ hợp tác tốthơn với nhà bán lẻ trong nước vì các doanh nghiệp phân phối nước ngoài khithâm nhập thị trường Việt Nam thường kéo theo các nhà sản xuất của họ
Các nhà cung ứng nước ngoài: Với 85 triệu dân, khả năng và mức độ
tiêu dùng ngày càng cao, Việt Nam là thị trường có sức hút lớn với hàng hóanước ngoài Các hàng hóa này muốn thâm nhập thị trường Việt Nam cần phảithông qua kênh phân phối hiện có hoặc tạo dựng kênh phân phối cho mình Tuynhiên, các nhà sản xuất thường chọn cách phân phối sản phẩn của mình qua cácnhà bán lẻ hiện có hơn bởi lẽ sự thông hiểu thị trường và mạng lưới phân phốisẵn không phải là lợi thế dễ dàng có được Tuy nhiên với một thị trường bán lẻ
Trang 17mới hình thành còn đang manh mún và sơ khai như thị trường Việt Nam, cácnhà cung ứng nước ngoài hoàn toàn có thể sử dụng ưu thế về thương hiệu cũngnhư tâm lý tin tưởng hàng ngoại của người dân Việt Nam để nâng cao sức cạnhtranh cảu mình
Về nhà cung ứng chúng ta đánh giá thêm áp lực đến từ các nhà cung ứng
cơ sở vật chất hạ tầng Giá cho thuê các cơ sở kinh doanh của Việt Nam được
đánh giá là khá rẻ và linh động, Hiện giá cho thuê tại Việt Nam ở mức trungbình 30 USD/m2/tháng ( có thể dao động từ 9-140 USD/m2/tháng), thấp hơnnhiều so với các trung tâm kinh tế khác trong khu vực như Bắc Kinh, ThượngHải, Singapore, Đài Loan hay Thái Lan và chỉ cao hơn Philippines , Ấn Độ vàIndonesia…Tuy nhiên, nhu cầu thuê thì quá lớn, cung không đáp ứng nổi cầu(nhiều trung tâm thương mại đang được xây dựng để cho thuê lại nhưng vẫnkhông đủ) Điều này gây áp lực lớn đến các nhà phân phối bởi nếu tự xây dựngmới địa điểm kinh doanh đòi hỏi chi phí rất lớn, không tạo ra được lợi thế cạnhtranh Để tránh áp lực này, một số nhà bán lẻ như G7 mart đã chọn giải phápliên kết cải tạo các cửa hàng bán lẻ đủ tiêu chuẩn để tạo nên một chuỗi các cửahàng khổng lồ
Như vậy đánh giá chung áp lực từ phía nhà cung cấp là trung bình và
không thực sự đáng lo ngại với các nhà bán lẻ Việt Nam hiện tại
3.2 Khách hàng
Với hệ thống siêu thị và các trung tâm thương mại, khách hàng họ hướngtới là những người tiêu dùng cuối cùng Cùng với sự phát triển của xã hội, thìthói quen tiêu dùng của người dân cũng thay đổi, đặc biệt ở các thành phố lớnnhư Hà Nội, TP Hồ Chí Minh nên việc đi mua sắm ở các trung tâm thương mại
và siêu thị trở thành thói quen Đối với những người có thu nhập cao thì việcmua sắm ở các siêu thị trở nên tiện dụng hơn vì ở các siêu thị hàng hoá rất nhiềuchủng loại đựơc bày bán đẹp mắt, mua hàng tự chọn theo sở thích mà không bị
ai làm phiền, một cái tiện lợi đặc biệt là mua hàng ở đây không phải trả giá…Nhưng với những người có thu nhập thấp thì việc mua hàng ở các siêu thị hay
Trang 18trung tâm thương mại vẫn còn một vấn đề rất xa lạ với họ, nếu có vào thì cũngchỉ là đi xem cho biết mà thôi Bởi vì giá hàng hoá ở các siêu thị trung tâmthương mại được đánh giá là cao hơn bên ngoài từ 10 đến 40% Có thể nóikhách hàng của hệ thống phân phối hiện đại chủ yếu vẫn là người co thu nhậptương đối cao.
Với hệ thống các siêu thị và trung tâm thương mại mọc lên ngày càngnhiều bên cạnh đó hệ thống phân phối truyền thống đã được dự báo là sẽ bị lấn
át nhưng nó vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo nên việc lựa chọn các địa điểm mua hàngcủa người tiêu dùng là rất nhiều Tuy xu hướng tiêu dùng đã có sự thay đổi theohướng hiện đại nhưng người dân vẫn còn thói quen mua hàng ở chợ, hàng rong
và rất nhiều người còn thấy thích thú khi mua hàng được trả giá mặc dù không
rẻ hơn so với trong siêu thị Cùng với đà phát triển của đất nước, đời sông nhândân ngày càng nâng cao khiến người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chấtlượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, yếu tố dinh dưỡng…Vì vậy đây làđiều mà các doanh nghiệp bán lẻ cần quan tâm
Khách hàng chủ yếu là những cá nhân, mua hàng với số lượng nhỏ, đến các siêuthị họ là người chấp nhận giá và so với quy mô tương đối của các siêu thị là rấtnhỏ Người tiêu dùng hiện nay đã có nhưng sự hiểu biết nhất định, và cũng đã cóhội bảo vệ người tiêu dùng nhưng họ không thể liên kết lại với nhau để tạo rasức ép đối với các doanh nghiệp Vì khách hàng là người mua đơn lẻ nên chi phíchuyển đổi khách hàng gần như là không có
Như vậy ta có thể thấy rằng khách hàng hay người tiêu dùng cuối cùnggây sức ép không đáng kể tới các doanh nghiệp trong hệ thống phân phối hiệnđại Tuy vậy trong thời gian tới khi đời sống được nâng cao hơn cùng với xu thếhội nhập cần chú ý tới khách hàng bởi vì lúc đó khách hàng sẽ quyết định tới sựthành công của từng doanh nghiệp
3.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưngtrong tương lai có thể tham gia trong ngành Càng nhiều hãng mới gia nhập
Trang 19ngành, các doanh nghiệp sẽ càng gặp khó khăn trong việc nắm giữ thị phần vàtạo lợi nhuận Do đó mức độ nguy hiểm từ sự gia nhập của đối thủ tiềm ẩn càngcao, mối đe doạ tới lợi ích của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại Chính vìvậy, thông tin về các đối thủ tiềm ẩn đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp hoạchđịnh chiến lược.
Hiện trong ngành xuất hiện những đối thủ tiềm ẩn đó là các tập đoàn bán lẻ
lớn của nước ngoài như: Wal-mart, carrefour, Tesco….Bên cạnh đó có những đối thủ tiềm ẩn ở trong nước như FPT…
Có thể đánh giá chung về các đối thủ tiềm ẩn đến từ nước ngoài như sau: Đây
là các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia Họ có tiềm lực mạnh về tài chính, thươnghiệu, phương pháp quản lý và bán hàng tốt, có kinh nghiệm trong việc đầu tư ranước ngoài
Trong 4 yếu tố : kỹ thuật và bí quyết công nghệ, thương mại, tài chính, nguồn lực khan hiếm thì tài chính là yếu tố có tính chất quyết định một doanh
nghiệp có thể tham gia vào thị trường này hay không Ngành bán lẻ hiện đại làmột ngành đặc trưng, không phải ai cũng có thể tham gia vào thị trường này Nóđòi hỏi một lượng vốn đầu tư khá lớn Nói như vậy nhưng theo chúng tôi với cáctập đoàn bán lẻ đa quốc gia thì đó không phải là một trở ngại lớn Bên cạnh đóyếu tố thương mại cũng lại là một điểm mạnh của họ Với thương hiệu nổi tiếng,
uy tín lâu năm và thị phần lớn trên trường quốc tế, họ có đủ tự tin để đầu tư tạibất kỳ đâu Như vậy, rào cản gia nhập ngành là không cao lắm
3.4 Sản phẩm thay thế
Các doanh nghiệp bán lẻ việt Nam tổ chức phân phối hàng hoá theo hình thứckênh phân phối hiện đại với các hệ thồng: Siêu thị, trung tâm thương mại, cửahàng tiện lợi, khu thương mại- dịch vụ…Do đó sản phẩm thay thế của các doanhnghiệp bán lẻ ở đây chính là kênh phân phối truyền thống với hình thức là :Cácchợ, cửa hàng thực phẩm, mgười bán dạo… Ở việt Nam hiện nay kênh phânphối truyền thống chiếm một tỉ lệ rất lớn là 90% trong tổng sản lượng bán lẻ cả
Trang 20nước, trong khi đó kênh phân phối hiện đại mới chỉ chiếm có 10% Do đó hànghoá được phân phối chủ yếu là qua kênh phân phối truyền thống.
Theo khảo sát mới đây của vụ chính sách thị trường trong nước của BộThương Mại cho thấy: Tỉ lệ các chợ truyền thống đang hoạt động có hiệu quảvẫn chiếm tới 97,7% Tuy phải cạnh tranh với nhiều loại hình phân phối hiện đạinhưng trong thời gian qua số lượng chợ truyền thống được xây dựng hoặc cảitạo tiếp tục tăng nhanh với sự đa dạng về loại hình và cấp độ Hàng bán qua siêuthị mới chỉ chiếm 10% so với 40% qua các chợ và 44% qua các cửa hàng truyềnthống Bên cạnh đó theo số liệu điều tra thăm dò ý kiến người tiêu dùng thì cótới 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua đồ ở các chợ truyền thống Như vậy tathấy kênh phân phối truyền thống vẫn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thốngbán lẻ Do tác động của những yếu tố: Thói quen mua sắm, điều kiện về thunhập của người dân còn thấp, sự chênh lệch về mức giá giữa hàng hoá đượccung cấp bởi kênh phân phối hiện đại và kênh truyền thống, chình vì thế mà nógây ra áp lực khá lớn đối với các doanh nghiệp bán lẻ
Tuy nhiên trong xu hướng phát triển hiện nay thì áp lực này có xu hướnggiảm dần Cơ sở để ta có đánh giá trên là do xu hướng phát triển của hệ thốngbán lẻ khi các điều kiến sống ngày càng được nâng cao và trong môi trườngcạnh tranh toàn cầu Cùng với mức thu nhập tăng cao của người dân thì nhu cầutiêu dùng hàng hoá cũng không ngừng biến đổi Người ta nhu cầu hàng hoá chấtluợng cao hơn với các dịch vụ khác đi kèm, vì thế nên kênh phân phối hiện đạiđược đông đảo người tiêu dùng đón nhận Bên cạnh đó để có thể cạnh tranh vớicác doanh nghiệp nước ngoài thì việc cải tạo và phát triển của các doanh nghiệpViệt Nam là tất yếu, hình thức phân phối truyền thống sẽ được hiện đại dần, điều
đó được thể hiện: Trong thời gian qua tốc độ đầu tư của các tập đoàn bán lẻ vàkinh doanh siêu thị không ngừng gia tăng (Điển hình như: sự đột phá củaG7mart với hơn 500 cửa hàng tiện ích, 70 trung tâm phân phối và 9.500 cửahàng thành viên chính thức đi vào hoạt động; Sài gon Co.op “lên đời “ 20 cửahàng tiên nghi hiện đại ; Citimart của Đông Hưng cũng gấp rút ra mắt 10 cửahàng tiện nghi len lỏi tại các khu chung cư cao cấp…) bên cạnh đó tốc độ tăng
Trang 21trưởng ngành 30%/năm cho thấy một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực này Trênthực tế số lượng các cửa hàng ở TPHCM và Hà Nội ở kênh phân phối truyềnthống đang giảm từ 45.346 cửa hàng xuống còn 44.638 cửa hàng là một minhchứng cho xu hướng biến đổi mới Như vậy con số chênh lệch theo ti lệ 9:1 sẽnhanh chóng bị thay đổi theo hướng tăng tỉ trọng của kênh phân phối hiện đại vàgiảm tỉ trọng của kênh phân phối truỳên thống.
3.5 Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Trên thị trường bán lẻ Việt Nam các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tưtrong nước như: Coopmart (Liên hiệp HTX thương mại TP.HCM) với hệ thônggần 20 siêu thị, là nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam Tập đoàn Phú Thái; Hệ thốngcửa hàng G7mart (của Trung Nguyên); Hệ thống của hàng tiện lợi V-mart (củavinamilk); Hapro mart (Tổng công ty thương mại Hà Nội); Satra( Tổng công tythương mại Sài Gòn) Và các tập đoàn bán lẻ của nước ngoài như: MetroCash&Carry, Big C…
Trước hết: trên thị trường bán lẻ hiện nay và nội bộ các nhà bán lẻ trongnước nói riêng thì áp lực cạnh tranh đang ngày càng cao, khi các doanh nghiệpkhông ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Theo Trung Nguyên thì yếu tố quan trọng trong việc nâng cao khả năngcạnh tranh là yếu tố con người Vì vậy hệ thống G7mart với 500 điểm bán lẻ tiệnlợi và 5000 cửa hiệu thành viên mang tên G7 trên cả nước Tất cả chủ nhân cáccửa hiệu đều được chuyển giao công nghệ quản lý, tiếp thị quảng cáo và đào tạo.Tiếp theo trong giai đoạn 2 sẽ xây dựng các trung tâm thương mại tổng hợp, cácsiêu thị và đại siêu thị cuối cùng sẽ xây dựng các khu trung tâm thương mại ViệtNam tai nước ngoài – Viettown nhằm quảng bá sản phẩm và hình ảnh đất nướcViệt Nam ra thế giới
Với Coopmart họ thực hiện nhiều chiến lược để thu hút khách hàng, khẳngđịnh thương hiệu, đánh giá cao vai trò của nhà cung cấp, đặc biệt quan tâm dịch
vụ hậu mãi Theo thông tin từ Coopmart thì công ty đang đầu tư để mở rộng hệ
Trang 22thống ra các tỉnh đặc biệt đầu tư 1.5 triệu USD cho hệ thống quản lý bằng côngnghệ thông tin.
Về phía Satra, công ty đầu tư 1200 tỷ đồng cho hệ thống phân phối, liên kếtvới các tỉnh để mở rộng hệ thống một cách vững chắc
Còn tập đoàn Phú Thái đang thực hiện tăng tốc đầu tư để tăng sức mạnhphân phối của mình và một trong những chương trình hành động đó là việc đầu
tư cho hệ thống phần mềm quản lý phân phối
4 Cơ hội và thách thức với ngành bán lẻ Việt Nam khi gia nhập WTO
Hội nhập và mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu trong điều kiệnhiện nay Mở cửa thị trường sẽ có những tác động tích cực và tác động tiêu cựcđến hoạt động thương mại Mức độ tác động phụ thuộc vào mức độ mở cửa thịtrường Theo nguyên tắc hoạt động của WTO thì các nước phát triển có mức
độ mở cửa thị trường cao hơn và tốc độ nhanh hơn, còn các nước đang và chậm phát triển có mức độ mở cửa thị trường thấp hơn và tốc độ chậm hơn
Trong thực tế các nước phát triển có lợi thế cạnh tranh về lĩnh vực dịch vụ,còn các nước đang và chậm phát triển như Việt nam thì khả năng cạnh tranh về thương mại dịch vụ còn rất hạn chế Nhưng một số lĩnh vực dich vụ như ngânhàng, bảo hiểm, viễn thông, phân phối…lại giữ vai trò quan trong trong nềnkinh tế quốc dân, cho nên các nước đều muốn kiểm soát và bảo hộ các lĩnh vựcnày
Một nước mở cửa thị trường sẽ mang lại lợi ích cho các nước thành viên cònlại, vì vậy các nước thành viên thường yêu cầu các nước gia nhập mở cửa thịtrường hơn nữa, do đó các nước thành viên mới như Việt nam thường có mức
mở cửa thị trường cao hơn các thành viên cũ của WTO Mức độ mở cửa thịtrường phải xem xét trong mối quan hệ về độ mở cửa thị trường với trình độ phát triển kinh tế và quy mô thị trường Về mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ ởViệt nam được đánh giá là phù hợp Mở cửa thị trường có các tác động tích cực
và tiêu cực đến hệ thống bán lẻ của Việt nam
4.1 Cơ hội
Trang 23- Tạo ra một phong cách phục vụ văn minh hiện đại trong hệ thống bán lẻViệt nam.
Khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào hệ thống bán lẻ Việt nam, cácdoanh nghiệp chỉ được phép mở một điển bán lẻ, còn từ điểm thứ 2 sẽ được xemxét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế Vì thế hầu hết các doanh nghiệp có xuhướng đầu tư các siêu thị lớn, đáp ứng cho nhu cầu mua sắm có chất lượng caocủa người tiêu dùng Đây là các siêu có quy mô lớn, mặt hàng đa dạng phongphú, áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong cung cấp dịch vụ bán lẻ,phong cách phục vụ mới lạ, tạo nên sự văn minh hiện đại trong phục vụ, đápứng nhu cầu đa dạng phong phú và ngày càng nâng cao của người tiêu dùng.Qua khảo sát siêu thị Big C ở Hải phòng, Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh,Đồng nai, trong các ngày nghỉ, ngày tết, ngày lễ đã thu hút một lượng kháchhàng lớn đến tham quan và mua sắm
- Học tập được kinh nghiệm quản lý trong hệ thống bán lẻ hiện đại
Các siêu thị bán buôn, bán lẻ của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt namnhư Metro, Big C, Parkson, Lotte là những siêu thị áp dụng các công nghệ quản
lý và kinh doanh hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác và cung cấp nguồnhàng, chương trình quảng cáo khuyến mại, hệ thống logicstics, quản trị nhân sự,
kỹ thuật bán hàng…đây là các vấn đề có tính then chốt trong hoạt động của siêuthị mà các doanh nghiệp Việt nam còn nhiều hạn chế Giám đốc Big C Hảiphòng cho rằng hệ thống Big C có phương pháp khai thác nguồn hàng và cungcấp hàng hóa cũng như các chương trình khuyến mại, bán hàng rất linh hoạt,hiệu quả, tạo ra các mặt hàng, các dịch vụ khách hàng rất độc đáo với chi phíthấp và cạnh tranh có tác dụng thu hút khách hàng, tăng doanh số bán hàng vàrất đáng để các siêu thị khác học tập
- Tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh cho các nhà bán lẻ Việt nam Trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong dịch vụ bán lẻ nói riêng
để phát triển phải tạo động lực cạnh tranh và cạnh tranh công bằng Các siêu thịnước ngoài với các ưu điểm có tính nổi trội là đối thủ cạnh tranh trực tiếp củacác siêu thị, các chuỗi cửa hàng tiện ích của các doanh nghiệp Việt nam Để tồn
Trang 24tại, các doanh nghiệp buộc phải tự hoàn thiện mình, nâng cao khả năng cạnhtranh , đây là động lực để các doanh nghiệp phát triển
- Làm đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ trên thị trường
Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài thường cung cấp dịch vụ có chấtlượng cao, đáp ứng nhu cầu bậc cao của thị trường Các doanh nghiệp Việt namchủ yếu cung cấp các hình thức bán lẻ truyền thống, các chuỗi cửa hàng tiện ích,các siêu thị có chất lượng dịch vụ bậc trung Sự có mặt của các doanh nghiệpbán lẻ nước ngoài đã làm đa dạng hoá, tạo nên một chuỗi các sản phẩm dịch vụphủ đầy các phân khúc thị trường bán lẻ của Việt nam
- Tăng cơ hội hợp tác kinh doanh
Chỉ tính riêng phương thức 3, để tiếp cận thị trường bán lẻ Việt nam doanhnghiệp nước ngoài có thể thành lập chi nhánh, thành lập công ty 100% vốn nướcngoài, có thể góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp Việt nam, có thể mua cổphần của các doanh nghiệp bán lẻ Việt nam, đồng thời các doanh nghiệp nướcngoài còn có nhu cầu thuê mặt bằng, nhu cầu về dịch vụ nghiên cứu thị trường,cung cấp hàng hóa, dịch vụ hỗ trợ….đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt namhợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài
- Nâng cao chất lượng giảm giá thành dịch vụ
Mở cửa thị trường phân phối sẽ tạo nên một sự cạnh tranh rất gay gắt, cácdoanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều phải thường xuyên nâng cao khảnăng cạnh tranh của mình Một trong các giải pháp tạo nên khả năng cạnh tranhvượt trội là nâng cao chất lượng giảm giá thành dịch vụ, làm chất lượng dịch vụkhách hàng thường xuyên được cải thiện, giá hàng hóa có tính cạnh tranh Khảosát thực tế tại siêu thị Intimex Hải phòng, Coop Mart Thành phố Hồ Chí Minhđều cho rằng để cạnh tranh với các siêu thị nước ngoài như Big C, các siêu thịnày đều phải áp dụng các biện pháp nhằm nâng chất lượng dịch vụ tạo nên sựvăn minh, sang trọng trong phong cách phục vụ, giảm các chi phí nhằm giảm giáhàng hóa nhằm thu hút khách hàng, điều này kích thích tiêu dùng và tác độngtích cực đển dòng vận động của hàng hóa để phát triển sản xuất
- Góp phần xuất khẩu hàng hóa cho Việt nam
Trang 25Các doanh nghiệp nước ngoài thường có hệ thống, bán buôn, bán lẻ toàncầu, một số hàng hóa Việt nam được xuất khẩu để cung cấp cho hệ thống ở nướcngoài Ở Việt nam, Metro đã tham gia xuất khẩu các sản phẩm của Việt nam cho
hệ thống Metro toàn cầu, các doanh nghiệp khác hoạt động xuất khẩu cũng cònhạn chế
4.2 Thách thức
- Tạo nên sự cạnh tranh gay gắt đối với các doanh nghiệp bản lẻ trong nướcTạo nên sự cạnh tranh vừa tác động tích cực, nhưng vừa là tác động tiêucực đến các doanh nghiệp bán lẻ trong nước Mở cửa thị trường áp lực cạnhtranh nên các doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng cao, yêu cầu các doanhnghiệp trong nước phải thường xuyên đổi mới, tự hoàn thiện để phát triển trongmôi trường có tính cạnh tranh quốc tế, những doanh nghiệp không đủ khả năngcạnh tranh sẽ bị loại ra khỏi hệ thống hoặc chuyển sang các lĩnh vực kinh doanhkhác phù hợp hơn
- Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước bị mất dần thị phần
Khi mở cửa thị trường, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài thường chọncác phân khúc thị trường hấp dẫn để chiếm lĩnh, thường là các phân khúc thịtrường mà các doanh nghiệp Việt nam chưa có lợi thế Sự xuất hiện của cácdoanh nghiệp nước ngoài làm cho thị trường của các doanh nghiệp Việt nam bịthu hẹp, gây khó khăn cho sự phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước
- Có một sự chuyển dịch nguồn nhân lực chất lượng cao từ các doanhnghiệp bán lẻ trong nước sang các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài
Các doanh nghiệp nước ngoài thường có các điều kiện làm việc tốt và trảmức lương hấp dẫn hơn Khi các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào hệthống bán lẻ trong nước sẽ cần nguồn nhân lực trong nước, theo kinh nghiệmcủa Trung quốc sẽ có một số cán bộ quản lý, bán hàng, phục vụ có chất lượngcao được chuyển dịch từ các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanhnghiệp Nhà nước sang các doanh nghiệp nước ngoài Qua khảo sát tại Coop.Mart, Maximark nhiều cán bộ quản lý và nhân viên bán hàng đã sang làm việctại các siêu thị nước ngoài Sự chuyển dich nguồn nhân lực, nhất là các nhà quản
lý cấp cao có chất lượng sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước
Trang 26Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ
Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1 Thực trạng ngành bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1.1 Tổng quan về thị trường bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong giai đoạn 2006-2010
Giai đoạn 2006- 2010 là một khoảng thời gian có đầy biến động đối với thịtrường bán lẻ Việt Nam Tuy rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009phần nào ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn nhà đầu tư của thị trường bán lẻ ViệtNam và bằng chứng là chúng ta từ hạng nhất năm 2008 về mức độ hấp dẫn nhàđầu tư năm 2008 đã rớt xuống hạng 14 năm 2010 Mặc dù vậy, thị trường bán lẻViệt Nam vẫn là một thị trường đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Trong khoảng thời gian gần đây, bất chấp sự suy thoái của nền kinh tế thế giới,Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cảu mình và là một trong các nước cómức tăng trưởng cao nhất thế giới
T c ốc độ tăng trưởng nền kinh tế độ tăng trưởng nền kinh tế ăng trưởng nền kinh tế t ng tr ưởng nền kinh tế ng n n kinh t ền kinh tế ế
2.3%
Các nước đang phát triển
6.3%
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Jan 2010
Trang 27Trong khoảng thời gian 2006- 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của ViệtNam đạt khoảng 6%, tuy thấp hơn một chút so với mặt bằng các nước đang pháttriển nhưng con số này cũng cho thấy sự hấp dẫn và tiềm năng của thị trườngViệt Nam.
Quy mô thị trường bán lẻ VN năm 2007 khoảng 20 tỉ USD và đạt tốc độtăng trưởng bình quân 8%/năm.Kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng 13%, tuy nhiêntốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm rất cao - khoảng 30%.Riêng tại TPHCM
và Hà Nội, kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng khoảng 28% (năm 2008) và dự kiếnlên đến 37% vào năm 2010
Với một thị trường tiêu thụ rộng lớn khoảng 86 triệu dân,dân số trẻ vớikhoảng 65% dân số trong độ tuổi lao động, hơn một nửa dân số có độ tuổi dưới
30 và thu nhập của người dân ngày càng cao.Mặt khác sức hấp dẫn của thịtrường bán lẻ VN còn do áp lực cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻ chưa nhiều
và VN có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi tiêu mạnh tay.Tầng lớptrung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh Riêng tầng lớptrung lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở thành thị.Chính vì thế, sức hút của thị trường bán lẻ VN tăng nhanh khi năm 2007, VNxếp hạng 2 trên thế giới sau Ấn Độ, nhưng tháng 6.2008 - theo xếp hạng của Cty
tư vấn Mỹ A.T.Keaney về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu thì ViệtNam đã đứng số 1
Theo Tập đoàn nghiên cứu thị trường RNCOS (Mỹ), tuy ngành bán lẻ ViệtNam được đánh giá có quy mô nhỏ hơn các thị trường tại nhiều nước phát triển
ở châu Á nhưng Việt Nam đang chứng tỏ được những nền tảng vững chắc bằnggiá trị doanh số bán lẻ tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, đạt gần 39 tỷ USDtrong năm 2008
RNCOS dự báo, đến năm 2012, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của cáctập đoàn bán lẻ trên thế giới Các trung tâm bán lẻ hiện hữu như Big C, LotteMart… đang tận dụng thời cơ để nâng cao thị phần của mình rộng khắp cả nước
Từ thực tế này, RNCOS cho rằng, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ vượt qua con
số 85 tỷ USD doanh thu vào năm 2012
Trang 28Mặt khác, Việt Nam có vị trí địa lý gần với một số thị trường quan trọngnhư Ấn Độ và Trung Quốc và các thị trường trung bình khác như Lào vàCampuchia Chính vị trí lý tưởng này hiện nay đã giúp cho Việt Nam thu hút rấtnhiều nhà phân phối và bán lẻ trên thế giới tìm đến mở rộng và phát triển thịtrường.
Tuy nhiên, dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xếphạng thị trường bán lẻ hấp dẫn đầu tư của Việt Nam liên tục tụt giảm Theođánh giá Global Retail Development Index của A.T.Kearney, thị trường bán lẻViệt Nam đứng thứ nhất năm 2008; số 6 năm 2009 và số 14 năm 2010 Đây thực
sự là một sự tụt giảm gây sốc không chỉ với các nhà đầu tư mà còn đối với cácnhà làm chính sách trong nước Điều đó chứng tỏ, bên cạnh những tiềm năng và
cơ hội lớn được phân tích ở trên, thị trường bán lẻ Việt Nam còn có những hạnchế ngày càng trở nên rõ rệt làm cản bước nhà đầu tư Và bằng chứng là trongnhững năm gần đây các nhà phân phối lớn nước ngoài không còn đổ bộ vào thịtrường Việt Nam rầm rộ như trước nữa Thị trường nước ta còn chứa đựngnhững yếu tố khiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước phải quan ngại
Thứ nhất, thị trường Việt Nam vẫn còn ở dạng tiềm năng với đa số dân vẫn
ở nhóm thu nhập thấp và quy mô thị trường dù có tăng trưởng ngoạn mục nhưngvẫn còn ở mức khá khiêm tốn
Thứ hai, tính minh bạch của thị trường còn chưa cao do thị trường bán lẻViệt Nam vẫn còn ở giai đoạn sơ khai mới hình thành và chưa có sự tập trunghóa trong phân phối bán lẻ
Thứ ba, cơ sở hạ tầng nước ta nói chung còn cổ lỗ, yếu kém Các nhà bán lẻgặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng bán lẻ, vấn đề quy hoạch đôthị và dịch vụ logistic…
Về cơ cấu thị trường bán lẻ: siêu thị và đại siêu thị có tốc độ tăng trưởngnhanh, đóng góp của kênh bán lẻ truyền thống trên tổng chi tiêu của người tiêudùng có xu hướng giảm rõ rệt
Trang 29Đóng góp của các kênh mua sắm trên tổng chi tiêu của người mua sắm
Source: Nielsen Shopper trend 2010
Trong giai đoạn 2008- 2009, có thể thấy cơ cấu đóng góp của các kênhphấn phối trên tổng chi tiêu cảu người tiêu dùng có xu hướng dịch chuyển mạnh.Người tiêu dùng có xu hướng ngày càng sử dụng nhiều kênh phân phối hiện đạinhư siêu thị, đại siêu thị, trong khoảng thời gian này, tiêu dùng thông qua đạisiêu thị tăng 150%, siêu thị tăng 100% và cũng chứng kiến sự giảm sút của cácchợ truyền thống trong tổng chi tiêu của người tiêu dùng Điều này là do ảnhhưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi phương pháp làm việc, quanniệm dẫn đến sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng Mặt khác cũng là do sự
ưu việt của mạng lưới phân phối hiện đại so với các chợ truyền thống đã gây nên
sự dịch chuyển này So với các chợ truyền thống, phong cách phục vụ của siêuthị chuyên nghiệp hơn, hàng hóa đa dạng hơn và an toàn hơn cho người tiêudùng do xuất xứ rõ ràng Điều này phần nào cho thấy, bán lẻ thông qua các kênhphân phối hiện đại của Việt Nam là một phân khúc thị trường còn đang sơ khainhưng đầy tiềm năng cho sự phát triển
Trang 30Thị phần của kênh phân phối hiện đại
89 48
46 35 9
90 51
48 36 10
91 51
48 37 10
Singapore
Malaysia Thailan Indonesia
Viet Nam
2008 2007 2006
Source: Nielsen Retail Audit
So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thị phần kênh phân phối hiệnđại của Việt Nam thấp vào khoảng 10% năm 2008, so với các quốc gia kháctrong khu vực, thị trường bán lẻ theo kênh phân phối hiện đại của Việt Nam cònđang ở giai đoạn sơ khai Nhưng, như đã phân tích ở biểu đồ trên, xu hướng dịchchuyển từ mua sắm thông qua kênh truyền thống sang mua sắm qua kênh hiệnđại của người tiêu dùng tăng lên rõ rệt Điều này hứa hẹn sự tăng trưởng nhanhchóng và lợi nhuận cho các nhà đầu tư nước ngoài
Về mô hình kinh doanh bán lẻ, các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư xâydựng những siêu thị tổng hợp, có quy mô trung bình để phát huy khả năng tàichính mục tiêu kinh doanh nhiều mặt hàng tại cùng một địa điểm Nhà đầu tư sẽcân bằng việc bán các loại hàng hóa, không chủ định tạo điểm nhấn hay chuyêndoanh với loại hàng nào Đây là xu hướng kinh doanh phổ thông, được đánh giá
là dễ thực hiện để nhà đầu tư có thể gia nhập thị trường Tiếp theo là kết hợpchức năng tổng hợp để tạo ra trung tâm thương mại kiêm trung tâm vui chơi giải
Trang 31trí Nhà đầu tư sẽ hút khách đến mua sắm kết hợp tham gia những trò chơi, dịch
vụ giải trí - văn hóa và ẩm thực, với trang thiết bị hiện đại nhằm tăng sức hấpdẫn Mô hình "nhiều trong 1" này tỏ ra hiệu quả và thành công tại các đô thị lớn,đang có dấu hiệu lan ra một số đô thị hạt nhân và các khu vực khác Thực tế chothấy, bộ phận dân cư có thu nhập khá trở lên thường đến đây, theo nhiều "gu"khác nhau, tập trung theo giới tính, nghề nghiệp hoặc giao lưu bạn bè, gia đình,đối tác, nên người ta đến đây không chỉ vì mua sắm
Bên cạnh đó, cũng xuất hiện trào lưu xây dựng siêu thị quy mô nhỏ để chuyênbán hàng thiết yếu, "cắm" ở các vùng nông thôn, nhất là tỉnh, thành phố có mứcsống từ trung bình trở lên
Đây cũng là một phân khúc thị trường hứa hẹn sẽ đem đến lợi thế chonhững nhà bán lẻ nội địa do có thể cung cấp hàng chất lượng trung bình với chiphí thấp và sự thông hiểu tập quán mua sắm của nông thôn Kinh doanh theo thịtrường này tuy thu được lợi nhuận tính trên đơn vị sản phẩm cao nhưng các nhàđầu tư rất tin tưởng vì đây là thị trường có số lượng người tiêu dùng lớn chiếm74% dân số Việt Nam
Nói tóm lại, trong điều kiện gia nhập tổ chức thương mại quốc tế(WTO),
thị trường bán lẻ Việt Nam được mở ra với rất nhiều triển vọng mới cho sự pháttriển Tuy trải qua sự sụt giảm về thứ hạng về độ hấp dẫn của thị trường cho cácnhà đầu tư do sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu và một số điểm hạn chế của nềnkinh tế Nhưng nhìn chung, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn là điểm đến đángquan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Sự cạnh tranh mà các tập đoàn phânphối đa quốc gia hứa hẹn sẽ đem lại diện mạo mới cho thị trường bán lẻ ViệtNam và khắc phục phần nào những điểm yếu về thị trường đang còn tồn tại
1.2 Thực trạng mạng lưới bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Do những hạn chế về trình độ phát triển của sản xuất và tiêu dùng nên trình
độ phát triển của mạng lưới phân phối còn thấp Bốn năm sau khi gia nhập
Trang 32WTO, tình trạng đó phần nào được cải thiện nhờ sự xuất hiện của các tổ chứcbán lẻ tiến bộ mang tầm cỡ quốc tế và sự cạnh tranh mà họ mang lại Tuy nhiên,mạng lưới phân phối bán lẻ nước ta vẫn còn kém phát triển, thể hiện là các loạihình phân phối hàng hóa truyền thống như chợ, cửa hàng bán lẻ nhỏ, kiot có xuhướng giảm nhưng vẫn còn tồn tại khá phổ biến; khả năng cung cấp của các dịch
vụ trong và sau bán hàng của người bán lẻ thấp
Các loại hình bán lẻ hàng hóa
1.2.1 Hệ thống các kênh bán lẻ truyền thống
Trên thị trường bán lẻ nước ta, các loại hình bán lẻ hiện đại mới bắt đầuphát triển nhanh trong vòng hơn 10 năm qua, tập trung ở các đô thị lớn Theotổng hợp của vị thị trường trong nước từ báo cáo của sở công thương các tỉnh thìmột số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Cà Mau vẫn chưa có loại hình bán lẻ
là siêu thị Trên thực tế, tại nước ta, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếuvẫn qua hệ thống chợ( khoảng 35%) và hệ thống các cửa hàng bán lẻ độclập(40%), lượng hàng được phân phối qua siêu thị và hệ thống cửa hàng tiện lợichỉ chiếm khoảng 20% còn lại là do nhà sản xuất trực tiếp bán hàng
Hình thức bán lẻ truyền thống phổ biến của nước ta là chợ và cửa hàng tưnhân Thực trạng kết cấu hạ tầng các loại hình bán lẻ truyền thống tại nước tanhư sau:
Loại hình bán lẻ hàng hóa
Bán lẻ truyền thống
Bán lẻ hiện đại
Bán hàng
rong Các chợ
Kiot, cửa hàng bán lẻ
Trung tâm thương mại Siêu thị
Cửa hàng tiện ích
Trang 33a/ Hệ thống chợ:
Trong khoảng thời gian 1993-2002, số lượng chợ trên pham vi cả nướctăng nhanh, bình quân lên đến 178% một năm, đặc biệt là Đông Nam Bộ vàĐồng Bằng Sông Hồng Sau giai đoạn này, tốc độ tăng số lượng chợ cũng giảmdần Theo tổng hợp của Vụ Thị Trường Trong nước từ báo cáo của các Sở CôngThương, tính đến 31/12/2009, trên cả nước có 8.459 chợ các loại, trong đó chợhạng 1 có 219, chiếm 2,58%, chợ hạng 2 có 954 chiếm 11,23%, chợ hạng 3 có7.322 chiếm 86, 19% tổng số chợ trên cả nước Hầu hết các chợ hạng 1 là chợbuôn bán phát luồng ở các tỉnh, thành phố còn chợ hạng 3 là các chợ dân sinh,chợ bán lẻ ở cả đô thị và nông thôn
Số chợ bình quân trên một đơn vị hành chính(xã, phường, thị trấn) bìnhquân chung của cả nước là 0.76 chợ/ 1 đơn vị
Trên cả nước, bình quân khoảng 39km2 lãnh thổ có 1 chợ hay bán kínhphục vụ trung bình của 1 chợ là 3,52 km2
Số lượng, mật độ, bán kính phục vụ của chợ phân theo vùng:
+ Vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 20,54% tổng số chợ với mật độ 0,71chợ/xã, phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 1,96km2 /chợ
+ Vùng Trung du miền núi phía Bắc chiếm 16,4% tổng số chợ với mật độ0,55 chợ/ xã, phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 4,67km2 / chợ + Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ chiếm 29,13% tổng sốchợ với mật độ 0,85 chợ/ xã phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là3,51km2/ chợ
+ Vùng Tây Nguyên chiếm 4,14% tổng số chợ với mật độ 0,49 chợ/ xã,phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 7,03km2/ chợ
+ Vùng Đông Nam Bộ chiếm 8,98% tổng số chợ với mật độ 0,88 chợ/ xã,phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình 3,13km2/ chợ
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 20,8% tổng số chợ với mật độ1,1 chợ/ xã, phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình 2,7km2/ chợ
Trang 34M t s ch tiêu ch y u v m ng l ộ tăng trưởng nền kinh tế ốc độ tăng trưởng nền kinh tế ỉ tiêu chủ yếu về mạng lưới chợ cả nước phân theo vùng ủ yếu về mạng lưới chợ cả nước phân theo vùng ế ền kinh tế ạng lưới chợ cả nước phân theo vùng ưới chợ cả nước phân theo vùng i ch c n ợ cả nước phân theo vùng ả nước phân theo vùng ưới chợ cả nước phân theo vùng c phân theo vùng
ĐBsôngHồng
Trungdu-MNphíaBắc
Bắc TB
và DHmiềnTrung
TâyNguyên
ĐôngNam Bộ
ĐBsôngCửuLong
Tình hình hoạt động của các chợ: Khối lượng hàng hóa lưu thông qua chợ
chiếm 60-70% tổng hàng hóa mua bán Trên chợ, trung bình có khoảng 70-80%
hộ kinh doanh các nhóm hàng chính là nông sản, thực phẩm, may mặc, giầy déptrong đó mặt hàng thực phẩm tươi sống chiếm 35-40 %
Lực lượng kinh doanh chủ yếu trên các chợ chủ yếu là các hộ tư thương vàngười sản xuất trực tiếp bán hàng, trong đó các hộ tư thương đóng vai trò quantrọng Trung bình số lượng các hộ kinh doanh thường xuyên trên chợ ở khu vựcnông thôn đồng bằng có khoảng 40-80 hộ một chợ
Trang 35- Các hộ dân mở cửa hàng bán lẻ thường là những hộ có nhà ven đườnggiao thông Hoạt động thương mại cạnh đường giao thông đã trở thành đặc điểmphổ biến trên khắp các tỉnh thành cả nước
- Các cửa hàng tư nhân chủ yếu bán các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạtcủa dân cư dưới hình thức đại lý hoặc các cửa hàng tự doanh của các hộ tưthương
- Quy mô của cửa hàng thường nhỏ, từ 3-10m2 / cửa hàng với thời gian hoạtđộng không quy định
c/ Các loại hình bán lẻ khác
- Bán hàng rong của các tư thương, chủ yếu là tạp hóa, quần áo, rau củ quả
- Bán hàng lưu động của các doanh nghiệp thương mại, loại hình nàythường mang tính chu kì và gắn liền với các phiên chợ trong vùng
1.2.2 Hệ thống các kênh bán lẻ hiện đại
Dưới tác động của hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, người tiêu dùng Việt
Nam ngày càng giành nhiều thời gian hơn trong hoạt động mua sắm tại cáctrung tâm thương mại và siêu thị 70% thu nhập của người Việt Nam là giànhcho mua sắm, do đó, chính người tiêu dùng với những tập quán của họ sẽ địnhhướng cho ngành công nghiệp bán lẻ và thị trường bán lẻ Việt Nam
Tuy rằng, kênh bán lẻ hiện đại chỉ chiếm khoảng 20% trong tống chi tiêugiành cho mua sắm của người tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng trưởng của kênh bán
lẻ hiện đại tại Việt Nam là rất cao so với các nước trong khu vực