1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài Liệu Tổ Chức Các Trò Chơi Trong Dạy Học Chương Iv – Vectơ (Toán 10 - Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống).Pdf

69 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Các Trò Chơi Trong Dạy Học Chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống)
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trường học Trường THPT Phan Đăng Lưu
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 - 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀ (6)
  • II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (6)
  • III. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (6)
  • IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (7)
  • V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI (7)
    • 1. Tính mới của đề tài (7)
    • 2. Tính khoa học (7)
    • 3. Tính hiệu quả (7)
  • I. CƠ SỞ KHOA HỌC (8)
    • 1. Cơ sở lí luận (8)
      • 1.1. Năng lực và sự phát triển năng lực của học sinh (8)
      • 1.2. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (9)
      • 1.3. Trò chơi và vai trò của trò chơi trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh (10)
      • 1.4. Quy trình thiết kế và tổ chức dạy học theo phương pháp trò chơi (12)
      • 1.5. Tổng quan chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống) (13)
    • 2. Cơ sở thực tiễn (14)
      • 2.1. Thực trạng dạy học Hình học Vectơ cho học sinh lớp 10 (14)
      • 2.2. Thực trạng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trường (14)
      • 2.3. Thực trạng tổ chức trò chơi trong dạy học ở trường THPT (15)
      • 2.4. Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài (16)
  • II. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP THIẾT KẾ, TỔ CHỨC CÁC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG IV – VEC TƠ (TOÁN 10 – KẾT NỐI TRI THỨC VÀ CUỘC SỐNG) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH (18)
    • 1. Định hướng lựa chọn nội dung trong chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống) để tổ chức trò chơi trong dạy học (18)
    • 2. Định hướng xây dựng nguyên tắc tổ chức trò chơi và hình thức đánh giá sau khi tổ chức trò chơi (18)
      • 2.1. Định hướng xây dựng nguyên tắc tổ chức trò chơi (18)
      • 2.2. Định hướng xây dựng hình thức đánh giá sau khi tổ chức trò chơi (19)
    • 3. Một số biện pháp thiết kế và tổ chức các trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh (19)
      • 3.1. Một số biện pháp thiết kế trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh (19)
        • 3.1.2. Biện pháp 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh thiết kế trò chơi nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh (21)
        • 3.1.3. Biện pháp 3: Giáo viên sử dụng các trò chơi trực tuyến có sẵn để thiết kế nội dung ôn tập cho học sinh (23)
      • 3.2. Thực hiện tổ chức các trò chơi trong các hoạt động học khi dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh (25)
        • 3.2.1. Tổ chức các trò chơi trong hoạt động khởi động (26)
          • 3.2.1.1. Trò chơi “Vectơ ghép đôi” (26)
          • 3.2.1.2. Trò chơi “Đường đi của thỏ” (28)
        • 3.2.2. Tổ chức các trò chơi trong hoạt động hình thành kiến thức mới (31)
          • 3.2.2.1. Trò chơi “Giải cứu đại dương” (31)
          • 3.2.2.2. Trò chơi “Chinh phục tháp vectơ” (35)
        • 3.2.3. Tổ chức các trò chơi trong hoạt động củng cố, luyện tập (38)
          • 3.2.3.1 Trò chơi “Bingo” (38)
          • 3.2.3.2 Trò chơi “Mê cung vectơ” (42)
        • 3.2.4. Tổ chức các trò chơi trong hoạt động vận dụng, mở rộng (45)
          • 3.2.4.1. Trò chơi “Giúp tàu vào bờ” (45)
          • 3.2.4.2. Trò chơi “Mảnh ghép” (47)
  • III. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM (49)
    • 1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm (49)
    • 2. Tổ chức thực nghiệm (49)
    • 3. Kết quả thực nghiệm (50)
      • 3.1 Kết quả các bài kiểm tra (50)
      • 3.2. Kết quả qua phiếu điều tra (51)
  • IV. KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐƢỢC ĐỀ XUẤT (53)
    • 1. Mục đích khảo sát (53)
    • 2. Nội dung và phương pháp khảo sát (53)
      • 2.1. Nội dung khảo sát (53)
      • 2.2. Phương pháp khảo sát và thang đánh giá (53)
    • 3. Đối tượng khảo sát (0)
    • 4. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất . 49 1. Sự cấp thiết của các biện pháp đã đề xuất (54)
      • 4.2. Tính khả thi của các biện pháp đề xuất (54)
  • I. KẾT LUẬN CHUNG (55)
  • II. ĐỀ XUẤT (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)
  • PHỤ LỤC (58)

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài “TỔ CHỨC CÁC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG IV – VECTƠ ( TOÁN 10 – KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO H[.]

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀ

Theo chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là hai trong mười năng lực cốt lõi cần được phát triển cho người học, đóng vai trò quan trọng trong giáo dục và đào tạo Việc phát triển những năng lực này đã được xác định là một trong những mục tiêu chính của giáo dục Do đó, làm rõ khái niệm và nghiên cứu khả năng dạy học môn Toán để thúc đẩy năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là điều cần thiết.

Trong chương trình Toán THPT, Vectơ là khái niệm quan trọng, ảnh hưởng đến cả Hình học và Đại số, đồng thời là công cụ thiết yếu trong giảng dạy Vật lí Dạy học Vectơ không chỉ phát triển năng lực giải quyết vấn đề mà còn khơi dậy sự sáng tạo ở học sinh Tuy nhiên, đây là một khái niệm mới và trừu tượng, khiến học sinh lớp 10 gặp khó khăn khi chuyển từ tư duy Hình học Euclid sang tư duy Hình học Vectơ.

Học sinh thường gặp khó khăn trong việc tưởng tượng và bắt đầu giải quyết bài tập do thiếu hình vẽ trực quan Việc giáo viên áp dụng phương pháp dạy học truyền thống để truyền đạt một lượng kiến thức lớn dẫn đến tình trạng thụ động trong việc tiếp thu, khiến các em không có định hướng rõ ràng khi làm bài.

Để đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và phát triển năng lực cho học sinh, tôi tin rằng việc tổ chức trò chơi trong giảng dạy Hình học Vectơ là cần thiết Nghiên cứu cho thấy học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn trong môi trường thoải mái và vui vẻ, và trò chơi là phương pháp lý tưởng để đạt được điều đó Tôi đã áp dụng sáng kiến “Tổ chức các trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống)” nhằm phát triển khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh Hy vọng rằng đề tài này sẽ mang lại những thay đổi tích cực trong việc đổi mới PPDH Toán tại trường THPT.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đối với giáo viên: Khắc phục những tồn tại của các PPDH truyền thống, tiếp cận phương pháp Học thông qua chơi trong dạy học Toán ở trường THPT

Học sinh được hỗ trợ trong việc học chương IV - Vectơ một cách tích cực và hiệu quả, từ đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo.

ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 10 và giáo viên Toán trường THPT Phan Đăng Lưu

Phạm vi nghiên cứu: Chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Tính mới của đề tài

Trò chơi đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh, đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống) Việc áp dụng trò chơi vào giảng dạy không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách sinh động mà còn kích thích tư duy phản biện và khả năng hợp tác Thực tiễn cho thấy rằng, việc tích hợp trò chơi vào quá trình học tập sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục và tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

Xây dựng ngân hàng các trò chơi liên quan đến nội dung chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và khuyến khích sự sáng tạo cho học sinh.

- Xây dựng cách thức thực hiện tổ chức các trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống).

Tính khoa học

Đề tài đảm bảo tính chính xác khoa học với các phương pháp nghiên cứu phù hợp cho giáo viên và học sinh Cấu trúc bài viết logic và tuân thủ quy định Các luận cứ khoa học có cơ sở vững chắc, cùng với số liệu thống kê chính xác, góp phần khẳng định tính xác thực của nội dung đề tài.

Tính hiệu quả

Đề tài được trình bày một cách rõ ràng và dễ áp dụng, và sau thời gian thử nghiệm, tôi cùng đồng nghiệp đã nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt ở học sinh Việc dạy học theo hình thức này mang lại nhiều lợi ích to lớn cho học sinh, giáo viên và nhà trường.

Giúp học sinh giảm căng thẳng và áp lực trong học tập bằng cách chuyển đổi kiến thức mới thành các tình huống vấn đề trong trò chơi, từ đó kích thích tư duy sáng tạo và tạo động lực cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề.

Giúp giáo viên nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục Đề tài này không chỉ thúc đẩy giáo viên tìm thấy niềm vui và đam mê trong công tác dạy học mà còn khuyến khích phong trào tự học, tự sáng tạo trong hội đồng sư phạm của nhà trường.

CƠ SỞ KHOA HỌC

Cơ sở lí luận

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) định nghĩa "năng lực" (NL) là khả năng và điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên mà con người có để thực hiện một hoạt động Nó bao gồm phẩm chất tâm lý và sinh lý, giúp con người hoàn thành một loại hoạt động với chất lượng cao.

Theo tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2015, năng lực được định nghĩa là sự kết hợp linh hoạt và tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng và các yếu tố như thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân để đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh nhất định Năng lực phản ánh sự vận dụng tổng hợp các yếu tố như phẩm chất cá nhân, kiến thức và kỹ năng qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện công việc Nó bao gồm những yếu tố cơ bản cần thiết cho mọi người lao động và công dân, đó là các năng lực chung và cốt lõi.

Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, năng lực (NL) được định nghĩa là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển từ tố chất sẵn có cùng với quá trình học tập và rèn luyện Năng lực cho phép con người huy động kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, và ý chí để thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt được kết quả mong muốn trong các điều kiện cụ thể.

NL là khả năng sử dụng hiệu quả các yếu tố chủ quan, bao gồm những gì đã có sẵn hoặc được hình thành qua quá trình học tập, nhằm giải quyết các vấn đề trong học tập, công việc và cuộc sống hàng ngày.

1.1.2 Sự phát triển năng lực HS

Phát triển, theo từ điển Triết học, là khái niệm mô tả quá trình tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, và từ trạng thái kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Phát triển, theo từ điển Xã hội học, được định nghĩa là sự biến đổi hợp quy luật không thể đảo ngược, thể hiện qua sự chuyển biến chất lượng và tiến tới một trình độ mới Đây là đặc điểm cơ bản của vật chất, đồng thời là nguyên tắc giải thích cho sự tồn tại và hoạt động của các hệ thống bất cân bằng, lưu động và biến đổi.

Phát triển năng lực (NL) của học sinh (HS) là quá trình chuyển biến từ mức độ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, nhằm nâng cao hiệu quả học tập Sự phát triển NL thể hiện qua sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kỹ thuật học tập của HS trong nhóm, tạo ra kết quả học tập tốt hơn Quá trình này diễn ra khi HS thường xuyên học tập, có ý thức về nhiệm vụ cá nhân và nhóm, hỗ trợ, hợp tác và tương tác lẫn nhau, từ đó kích thích sự tích cực và hứng thú trong học tập Mục tiêu của quá trình dạy học là hình thành năng lực hoạt động cho HS, và phát triển NL là một hướng đi tích cực, phù hợp với xu thế dạy học hiện đại.

1.2 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lực giải quyết vấn đề (NL GQVĐ) và năng lực sáng tạo (NLST) là những yếu tố quan trọng trong giáo dục Theo Nguyễn Lộc và Nguyễn Thị Lan Phương (2016), NL GQVĐ được định nghĩa là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả quá trình nhận thức, hành động và cảm xúc để giải quyết những tình huống phức tạp mà không có quy trình sẵn có Trần Việt Dũng (2013) nhấn mạnh rằng NLST là khả năng tạo ra giá trị mới dựa trên các phẩm chất độc đáo của cá nhân Việc tích hợp NL GQVĐ và sáng tạo vào Chương trình Giáo dục phổ thông là một bước tiến quan trọng, nhằm thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới trong giáo dục cấp THPT.

Nhận diện và làm rõ thông tin cùng ý tưởng mới từ nhiều nguồn khác nhau là rất quan trọng Việc phân tích độc lập các nguồn thông tin giúp xác định khuynh hướng và độ tin cậy của những ý tưởng mới, từ đó tạo ra cái nhìn sâu sắc và chính xác hơn về các xu hướng hiện tại.

Phát hiện và làm rõ vấn đề là bước quan trọng trong việc phân tích tình huống trong học tập và cuộc sống Điều này giúp chúng ta nhận diện và nêu rõ các tình huống có vấn đề, từ đó đưa ra giải pháp hiệu quả để cải thiện và phát triển bản thân.

Hình thành và triển khai ý tưởng mới là quá trình nảy sinh nhiều ý tưởng sáng tạo trong học tập và cuộc sống, khuyến khích tư duy linh hoạt và không theo lối mòn Điều này bao gồm việc tạo ra các yếu tố mới từ những ý tưởng khác nhau, kết nối và phát triển chúng một cách hiệu quả Đồng thời, việc nghiên cứu và đánh giá rủi ro là cần thiết để điều chỉnh giải pháp phù hợp với bối cảnh thay đổi, đảm bảo có các phương án dự phòng khi cần thiết.

Đề xuất và lựa chọn giải pháp là quá trình quan trọng, bao gồm việc thu thập và làm rõ thông tin liên quan đến vấn đề Người thực hiện cần biết phân tích các giải pháp khả thi và lựa chọn giải pháp phù hợp nhất để giải quyết vấn đề hiệu quả.

- Thiết kế và tổ chức hoạt động:

+ Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp

+ Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật lực) cần thiết cho hoạt động

Điều chỉnh kế hoạch và thực hiện nó một cách linh hoạt là rất quan trọng để đạt hiệu quả cao trong việc giải quyết vấn đề, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

+ Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động

Tư duy độc lập là khả năng đặt ra nhiều câu hỏi có giá trị và không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều Người có tư duy độc lập không thành kiến khi xem xét và đánh giá vấn đề, đồng thời chú trọng đến các lập luận và minh chứng thuyết phục Họ cũng sẵn sàng xem xét và đánh giá lại các vấn đề một cách khách quan.

Trong sáng kiến này, tôi định nghĩa năng lực giải quyết vấn đề (NL GQVĐ) và sáng tạo trong môn Toán là khả năng kết hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ học tập Sự sáng tạo trong quá trình GQVĐ thể hiện qua những hiểu biết mới về vấn đề, các hướng giải quyết độc đáo, cải tiến trong phương pháp giải quyết, hoặc những cách đánh giá mới mẻ.

1.3 Trò chơi và vai trò của trò chơi trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

1.3.1 Trò chơi – Trò chơi giáo dục

Cơ sở thực tiễn

Trong ba năm qua, tôi đã kết hợp phương pháp phát phiếu điều tra và nghiên cứu tài liệu để khảo sát thực trạng dạy học hình học Vectơ cho học sinh lớp 10 Qua việc tổng kết kinh nghiệm dạy học của bản thân và đồng nghiệp, tôi đã thu được những kết quả đáng chú ý về hiệu quả và phương pháp giảng dạy trong lĩnh vực này.

Trong những năm gần đây, nhiều giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát triển năng lực cho học sinh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong nền giáo dục truyền thống của nước ta, khi mà nhiều giáo viên vẫn giữ quan điểm cũ về giáo dục và PPDH, không sẵn sàng thay đổi và cập nhật kiến thức mới.

Hình học Vectơ là một chủ đề mới mẻ, gây khó khăn cho học sinh lớp 10 do khác biệt so với kiến thức THCS Mặc dù vậy, nhiều giáo viên vẫn áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, bắt đầu bằng việc đặt vấn đề và giảng bài để dẫn dắt học sinh Họ thường kết hợp đàm thoại và gợi mở để sửa lỗi và củng cố kiến thức thông qua bài tập Học sinh thường được yêu cầu chuẩn bị bài ở nhà hoặc làm bài trên lớp, sau đó giáo viên sẽ nhận xét và sửa lỗi Một số bài tập được thiết kế để phát triển khả năng khái quát hóa và tương tự hóa cho học sinh khá giỏi Tuy nhiên, việc tiếp nhận kiến thức thụ động có thể dẫn đến tâm lý chán nản và học tập máy móc, rập khuôn.

2.2 Thực trạng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trường THPT

Kết quả thăm dò 30 GV dạy môn Toán của 3 trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành tôi thấy:

Đối với việc xác định mức độ ưu tiên các năng lực cần phát triển cho học sinh THPT, hầu hết giáo viên đều nhất trí rằng tất cả các năng lực đều quan trọng Đặc biệt, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được đánh giá cao nhất với 30/30 phiếu ủng hộ.

Khó khăn lớn nhất trong việc dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh là thiết kế hoạt động dạy học phù hợp, bên cạnh đó, sự không hợp tác của học sinh cũng là một thách thức đáng kể mà giáo viên thường gặp phải.

2.3 Thực trạng tổ chức trò chơi trong dạy học ở trường THPT

Kết quả thăm dò 30 GV dạy môn Toán của 3 trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành tôi thấy:

- Về mức độ sử dụng trò chơi, đa số GV đều “thỉnh thoảng” hoặc “ rất ít khi” sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT

Trong việc lựa chọn hoạt động tổ chức trò chơi, hầu hết giáo viên ưu tiên sử dụng trò chơi trong giai đoạn khởi động Ngược lại, chỉ một số ít giáo viên áp dụng trò chơi trong các hoạt động hình thành kiến thức, luyện tập hoặc tìm tòi mở rộng.

Song song với kết quả thăm dò GV, tôi đã tiến hành thăm dò về sự hứng thú của

Nghiên cứu tại trường THPT Phan Đăng Lưu cho thấy 85 học sinh lớp 10 đã thể hiện sự hứng thú cao đối với việc sử dụng trò chơi trong dạy học Khi được khảo sát, phần lớn học sinh lựa chọn cảm xúc "Thích" hoặc "Rất thích" đối với phương pháp này, trong khi chỉ có một số ít học sinh cảm thấy "bình thường".

Mặc dù việc áp dụng phương pháp dạy học thông qua trò chơi cho học sinh còn hạn chế và chủ yếu chỉ là các trò chơi đơn giản trong thời gian ngắn, nhưng học sinh vẫn rất hứng thú với việc sử dụng trò chơi trong quá trình học tập.

2.4 Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài 2.3.1 Thuận lợi

Mục tiêu giáo dục phổ thông hiện nay đã thay đổi trong chiến lược đổi mới căn bản và toàn diện, tập trung vào việc phát triển toàn diện năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Sự thay đổi này đã thúc đẩy các tổ chức giáo dục, nhà trường và giáo viên chú trọng hơn đến các hoạt động nhằm phát triển những kỹ năng này cho học sinh.

Trường THPT Phan Đăng Lưu đã có 60 năm thành lập và phát triển với nhiều thành tích nổi bật, nhờ vào sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu và nỗ lực không ngừng của đội ngũ giáo viên Tập thể hội đồng sư phạm đông đảo, đam mê chuyên môn và nhiệt huyết trong sự nghiệp giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc hoàn thành đề tài này.

Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) hiện nay chưa đạt hiệu quả cao, khi mà nhiều giáo viên vẫn áp dụng phương pháp truyền thống, chưa khai thác tối đa khả năng hợp tác của học sinh.

GV cần chủ động và sáng tạo hơn trong việc phối hợp các phương pháp dạy học (PPDH) để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh (HS) Hiện tại, dạy học vẫn chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ kiến thức lý thuyết, trong khi việc rèn luyện kỹ năng sống và kỹ năng giải quyết tình huống thực tiễn cho HS thông qua việc vận dụng tri thức tổng hợp chưa được chú trọng Hơn nữa, việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông và sử dụng các phương tiện dạy học vẫn chưa được triển khai rộng rãi.

Số lượng HS thụ động trong học tập còn rất nhiều, không khí học tập chưa tốt, bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng HS học “đối phó”

Hiện nay, sĩ số học sinh trong lớp đông và không gian hoạt động hạn chế, gây khó khăn trong việc tổ chức trò chơi học tập Điều này dễ dẫn đến sự ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp học khác và làm giảm khả năng quản lý lớp của giáo viên Do đó, số lượng trò chơi được tổ chức trong lớp còn hạn chế.

GV chưa chú trọng vào việc phát triển trò chơi dạy học cho học sinh THPT, vì tài liệu chủ yếu tập trung vào độ tuổi mầm non và tiểu học Số lượng sách tham khảo cho HS THPT rất hạn chế, dẫn đến các trò chơi được thiết kế còn đơn điệu và thiếu hấp dẫn Điều này khiến không phải tất cả học sinh đều hứng thú tham gia.

Việc tổ chức trò chơi dạy học có ảnh hưởng lớn đến sự thu hút và hứng thú của học sinh Sự thành công của các trò chơi này phụ thuộc vào trình độ và năng lực tổ chức của giáo viên.

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP THIẾT KẾ, TỔ CHỨC CÁC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG IV – VEC TƠ (TOÁN 10 – KẾT NỐI TRI THỨC VÀ CUỘC SỐNG) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

Định hướng lựa chọn nội dung trong chương IV – Vectơ (Toán 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống) để tổ chức trò chơi trong dạy học

Chương IV - Vectơ là một chương quan trọng trong môn Toán lớp 10, nó cung cấp cho học sinh kiến thức về các khái niệm cơ bản của vectơ và các tính chất của chúng

Khi giáo viên áp dụng phương pháp truyền thụ kiến thức hoặc giao nhiệm vụ cho học sinh đọc bài trước, dễ dẫn đến tình trạng học đối phó, khi học sinh chỉ học thuộc để trình bày Do đó, trong thiết kế trò chơi, giáo viên cần lồng ghép nội dung bài học và các bài tập để khuyến khích học sinh tích cực học tập, tự nghiên cứu, và thảo luận nhóm, từ đó chủ động kiến tạo tri thức mới và hình thành năng lực cần thiết.

Giáo viên có thể lựa chọn nội dung giảng dạy liên quan đến các khái niệm cơ bản như tổng và hiệu của hai vectơ, cũng như tích của một vectơ với một số Bên cạnh đó, việc chọn các bài tập luyện tập và củng cố kiến thức cũng là một định hướng quan trọng trong quá trình giảng dạy.

Giáo viên có thể lựa chọn nội dung như tính độ dài vectơ, xác định tọa độ và góc giữa hai vectơ, cũng như tính tích vô hướng của chúng Bên cạnh đó, việc lựa chọn bài tập ứng dụng kiến thức vào thực tế cũng là một định hướng quan trọng.

Với định hướng này, giáo viên có thể lựa chọn nội dung các bài tập ứng dụng vectơ trong vật lý, đồng thời khám phá những ứng dụng của vectơ trong thực tế cuộc sống.

Định hướng xây dựng nguyên tắc tổ chức trò chơi và hình thức đánh giá sau khi tổ chức trò chơi

2.1 Định hướng xây dựng nguyên tắc tổ chức trò chơi

Việc tổ chức trò chơi trong lớp học cần phải đáp ứng mục đích và yêu cầu của bài học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả Trò chơi không chỉ tạo hứng thú mà còn khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh, từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức Ngoài ra, việc lựa chọn trò chơi cần phù hợp với dung lượng kiến thức của bài học, đặc điểm lứa tuổi và khả năng của học sinh.

- Việc tổ chức trò chơi phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

+ Đảm bảo tính giáo dục

+ Đảm bảo tính mục tiêu

+ Đảm bảo tính vừa sức

+ Đảm bảo tính khả thi

+ Đảm bảo tính hiệu quả

+ Đảm bảo tính khoa học và sư phạm

2.2 Định hướng xây dựng hình thức đánh giá sau khi tổ chức trò chơi Để tổ chức được trò chơi có tác dụng giáo dục chúng ta cần đánh giá sau khi tổ chức trò chơi Có nhiều hình thức để giúp giáo viên đánh giá hiệu quả mà trò chơi mang lại Chẳng hạn: Đánh giá kết quả đạt được: Giáo viên có thể đánh giá kết quả đạt được trong trò chơi để đánh giá hiệu quả của trò chơi và kiểm tra kiến thức của học sinh Đánh giá bằng hình thức thảo luận nhóm: Hình thức đánh giá này đánh giá khả năng hợp tác, tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh thông qua việc thảo luận nhóm

Tổng kết trò chơi thông qua thuyết trình giúp giáo viên đánh giá khả năng trình bày và thuyết phục của học sinh Bên cạnh đó, việc đánh giá mức độ tham gia của học sinh trong trò chơi sẽ phản ánh khả năng hợp tác và sự tích cực của các em Cuối cùng, hình thức bình chọn giữa các đồng đội cũng là một cách hiệu quả để đánh giá sự đóng góp và tinh thần làm việc nhóm của học sinh.

Tùy vào mục đích và yêu cầu của giáo viên, có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức đánh giá để đảm bảo tính khách quan và toàn diện trong quá trình đánh giá.

Một số biện pháp thiết kế và tổ chức các trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

3.1 Một số biện pháp thiết kế trò chơi trong dạy học chương IV – Vectơ (Toán 10 - Kết nối tri thức với cuộc sống) nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

3.1.1 Biện pháp 1: Giáo viên thiết kế trò chơi nhằm đƣa ra các tình huống có vấn đề trong các tiết học chính khóa

3.1.1.1 Mục đích của biện pháp

Biện pháp này tạo ra môi trường học tập thú vị, giúp học sinh tập trung và nâng cao hiệu quả học tập Qua việc giải quyết các vấn đề trong trò chơi, học sinh phát triển khả năng giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo Phương pháp này cũng khuyến khích sự hợp tác giữa các học sinh, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm và áp dụng kiến thức từ bài học vào thực tiễn Điều này không chỉ giúp học sinh học tập chăm chỉ và nghiêm túc hơn mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và hình thành thói quen học tập tích cực.

3.1.1.2 Căn cứ để thực hiện biện pháp

Giáo viên có thể căn cứ vào các yếu tố sau đây để tổ chức trò chơi trong tiết học chính khóa:

Mục tiêu giảng dạy là yếu tố quan trọng trước khi tổ chức trò chơi, giáo viên cần xác định rõ để lựa chọn trò chơi phù hợp Đồng thời, việc đánh giá kiến thức và năng lực của học sinh cũng là cần thiết để đảm bảo trò chơi đáp ứng đúng trình độ của các em.

Giáo viên cần quản lý thời gian hiệu quả để đảm bảo trò chơi được thực hiện trong giờ học chính khóa mà không ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.

Giáo viên cần xác định các thiết bị học tập sẵn có để triển khai trò chơi, bao gồm vật liệu, phần mềm và trang thiết bị, đồng thời lập kế hoạch chi tiết cho việc sử dụng chúng.

Các hoạt động trước và sau trò chơi rất quan trọng, giúp giáo viên xác định rõ mục đích của trò chơi và hỗ trợ học sinh trong việc tổng hợp kết quả học tập.

Các yếu tố trên sẽ hỗ trợ giáo viên trong việc chọn lựa trò chơi phù hợp và tổ chức chúng hiệu quả trong giờ học chính khóa Giáo viên cần chú ý đến một số điểm quan trọng để đảm bảo sự thành công của hoạt động này.

- Tập trung vào mục tiêu giảng dạy và đảm bảo tính chất giáo dục của trò chơi

- Chọn trò chơi phù hợp với độ tuổi, khả năng và nhu cầu của học sinh

- Tự đánh giá và cải thiện trò chơi để đạt được mục tiêu giảng dạy một cách hiệu quả nhất

- Tạo sự kết nối giữa trò chơi và bài học để giúp học sinh áp dụng kiến thức được học vào thực tế

- Đảm bảo tính công bằng và khuyến khích sự tương tác giữa học sinh trong quá trình thực hiện trò chơi

Giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng và trang bị kiến thức đầy đủ về các trò chơi, kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp học để thực hiện hiệu quả các trò chơi, từ đó đạt được mục tiêu giảng dạy.

3.1.1.3 Cách thức thực hiện biện pháp Để thiết kế được một trò chơi phục vụ cho việc dạy học, giáo viên có thể tuân theo các bước sau đây:

Bước 1.Xác định mục tiêu giảng dạy

Giáo viên cần xác định rõ ràng và cụ thể mục tiêu giảng dạy khi sử dụng trò chơi, đảm bảo rằng mục tiêu này liên quan chặt chẽ đến nội dung môn học.

Bước 2 Tìm kiếm ý tưởng, đặt tên cho trò chơi

Sau khi xác định mục tiêu giảng dạy, giáo viên có thể tìm kiếm ý tưởng trò chơi phù hợp với nội dung môn học Những ý tưởng này có thể được tìm thấy qua tài liệu giáo dục, các trang web chuyên về giáo dục, hoặc từ những trò chơi đã thành công trong giảng dạy trước đó.

Bước 3 Lựa chọn hình thức và cách thức thực hiện trò chơi

Dựa trên các ý tưởng thu thập, giáo viên có thể chọn hình thức và phương pháp thực hiện trò chơi phù hợp với nội dung môn học, đồng thời đáp ứng mục tiêu giảng dạy hiệu quả.

Bước 4 Chuẩn bị và kiểm tra trò chơi

Sau khi chọn hình thức và cách thức thực hiện trò chơi, giáo viên cần chuẩn bị và kiểm tra trò chơi để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Việc thử nghiệm trò chơi trước khi áp dụng trong lớp học là cần thiết để đảm bảo nó hoạt động như mong đợi và đáp ứng mục tiêu giảng dạy.

Bước 5 Đánh giá và cải thiện trò chơi

Sau khi tổ chức trò chơi trong lớp, giáo viên cần đánh giá kết quả và cải thiện trò chơi để nâng cao hiệu quả giảng dạy Việc lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh là rất quan trọng, giúp giáo viên điều chỉnh trò chơi sao cho phù hợp và hiệu quả hơn.

3.1.2 Biện pháp 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh thiết kế trò chơi nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

3.2.2.1 Mục đích của biện pháp

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề là một trong những lợi ích quan trọng khi thiết kế trò chơi cho học sinh Trong quá trình này, học sinh phải đưa ra quyết định về luật chơi, cách chơi và cách giải quyết các thách thức, yêu cầu họ suy nghĩ, tìm kiếm thông tin và thử nghiệm để tìm ra giải pháp tối ưu Qua đó, các em sẽ rèn luyện kỹ năng tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

Phát triển năng lực sáng tạo là một yếu tố quan trọng trong thiết kế trò chơi, nơi học sinh cần sử dụng sự tưởng tượng để tạo ra những sản phẩm hấp dẫn Họ phải tìm kiếm cách thiết kế các màn chơi, kết hợp âm thanh, hình ảnh và phong cách trò chơi, từ đó tạo ra những trải nghiệm độc đáo Quá trình này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng sáng tạo mà còn khuyến khích sự tưởng tượng phong phú trong việc xây dựng trò chơi.

THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐƢỢC ĐỀ XUẤT

Ngày đăng: 13/09/2023, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ GD – ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ GD – ĐT
Năm: 2018
[2] Nguyễn Lộc - Nguyễn Thị Lan Phương (đồng chủ biên 2016). Phương pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề
Tác giả: Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
[4] Garvey, C. (1990) Chơi. Cambridge, Massachusetts: Đại Học Harvard Báo chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chơi
Tác giả: Garvey, C
Nhà XB: Đại Học Harvard Báo chí
Năm: 1990
[5] Piaget, Jean (1962). Play, dreams and imitation. 24. New York: Norton. tr. 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Play, dreams and imitation
Tác giả: Jean Piaget
Nhà XB: Norton
Năm: 1962
[6] Nguyễn Thành Hưng (2002). Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kỹ thuật. NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Thành Hưng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2002
[7] Trần Đồng Lâm – Đinh Mạnh Cường (2005). Trò chơi vận động. Dự án đào tạo GV THCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi vận động
Tác giả: Trần Đồng Lâm, Đinh Mạnh Cường
Nhà XB: Dự án đào tạo GV THCS
Năm: 2005
[8]. Đỗ Hương Trà, Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
[9]. Tài liệu tập huấn đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất , năng lực học sinh trong trường Trung học Phổ thông, Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất , năng lực học sinh trong trường Trung học Phổ thông
Tác giả: Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
[10]. Nguyễn Kim Chuyên (2012). Xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trong dạy học môn Giáo dục học ở Trường Đại học Đồng Tháp. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ, Trường Đại học Đồng Tháp, mã số C.2012.12.57 of 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trong dạy học môn Giáo dục học ở Trường Đại học Đồng Tháp
Tác giả: Nguyễn Kim Chuyên
Nhà XB: Trường Đại học Đồng Tháp
Năm: 2012
[3] Trần Việt Dũng (2013). Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của người Việt Nam hiện nay. Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 49, tr 160 – 169 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm