Giả thuyết khoa học Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những giải pháp trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam.Qua khảo sát và nhận định
Trang 1-NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ
PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2-NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ
PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS CAO THỊ Ý NHI
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn trungthực và xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị.
Hà Nội ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Phương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG 4
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 4
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng 4
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 5
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 8
1.2 NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.2.1 Khái niệm phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 10
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 10
1.2.3 Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 13
1.3 NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 30
1.3.1 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Pháp, Mỹ, Anh 30
1.3.2 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Singapore 32
1.3.3 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc 33
1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM 36
Trang 62.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần
Hàng Hải Việt Nam 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam 40
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam giai đoạn 2011- tháng 6/2014 43
2.2 THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM 50
2.2.1 Hệ thống văn bản pháp chế quy định về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam 50 2.2.2 Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đang áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam 52
2.2.3 Thực trạng nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam 55
2.3 ĐÁNH GIÁ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM 64
2.3.1 Những thành tựu đạt được 64
2.3.2 Những hạn chế 69
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM 78
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG 78
Trang 7tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam 80
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM 81
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống phân loại nợ theo phương pháp định lượng 81
3.2.2 Xây dựng hệ thống phân loại nợ tự động theo phương pháp định tính.82 3.2.3 Hoàn thiện công tác quản lý, phân loại và định giá tài sản bảo đảm 85
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác dự báo tình hình khách hàng 88
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát, phối hợp công việc giữa các bộ phận .90 3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 91
3.2.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 92
3.2.8 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng .94 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 96
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước và Chính phủ 96
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8STT Ký hiệu Nguyên văn
1 CIC Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước
3 Maritime Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam
4 NHNN Ngân hàng Nhà nước
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 9Bảng 1.1: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo QĐ 493 25
Bảng 1.2: Tỷ lệ khấu trừ tối đa để xác định giá trị khấu trừ của TSBĐ 28
Bảng 1.3: So sánh tỷ lệ khấu trừ tối đa giữa QĐ 493, QĐ 18 và TT 02 29
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản giai đoạn 2011- tháng 6/2014 43
Bảng 2.2: Cơ cấu tiền gửi khách hàng theo kì hạn giai đoạn 2011- tháng 6/2014 .47 Bảng 2.3: Phân loại nợ của Maritime Bank từ 2011- tháng 06/2014 56
Bảng 2.4: Phân loại nợ của một số ngân hàng khác từ 2011 - tháng 06/2014 57
Bảng 2.5: Số trích lập dự phòng của Maritime Bank giai đoạn 2011- tháng 06/2014 60
Bảng 2.6: Tương quan giữa quỹ dự phòng và phân loại nợ 60
Bảng 2.7: Số liệu trích lập dự phòng tại một số ngân hàng khác 61
Bảng 2.8: Cơ cấu TSBĐ của Maritime Bank giữ làm tài sản thế chấp giai đoạn 2011- tháng 6/2014 63
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2011- tháng 6/2014 46
Biểu đồ 2.2: Dư nợ tín dụng của khách hàng doanh nghiệp lớn, khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011- 2013 49
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Maritime Bank 41
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro của Maritime Bank 42
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây hệ thống ngân hàng của Việt Nam đã cónhững bước phát triển đáng kể về cả chiều rộng và chiều sâu Trong đó hoạtđộng tín dụng vẫn chiếm một tỷ trọng lớn đem lại nguồn lợi nhuận lớn nhấtcũng như tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng Để hạn chế ảnh hưởngcũng như bù đắp những tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra đối với hoạt độngkinh doanh, một trong những biện pháp hữu hiệu là phân loại nợ và trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng Tuy nhiên hiện nay các tiêu chí phân loại nợ và tỷ lệtrích lập dự phòng tại Việt Nam còn kém hiệu quả, do vậy chưa phản ánhđược chính xác mức độ rủi ro tín dụng trong hoạt động của các ngân hàng
Sau thời gian thực tế làm việc, nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổphẩn (NHTMCP) Hàng Hải Việt Nam tôi nhận thấy việc phân loại nợ và tríchlập dự phòng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại chưa
nghiên cứu kĩ lưỡng Do vậy tôi quyết định chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn của
mình mong đóng góp thêm cho sự phát triển của hệ thống các NHTMCP tạiViệt Nam nói chung và NHTMCP Hàng Hải Việt Nam nói riêng
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra hệ thống lý luận về rủi ro tín dụng, phân loại nợ và trích lập dựphòng rủi ro tín dụng Giải quyết lý luận về những giải pháp nhằm hoàn thiệnviệc phân loại nợ và trích lập dự phòng
Chỉ ra thực trạng nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tíndụng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam Đưa ra được những kết quả cũngnhư những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế này
Trang 11Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Hàng HảiViệt Nam.
3 Giả thuyết khoa học
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những giải pháp trong phân loại
nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam.Qua khảo sát và nhận định rằng các giải pháp phân loại nợ và trích lập dựphòng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam còn một số hạn chế, chưa phù hợpvới thực trạng tín dụng tại ngân hàng Do vậy hiệu quả của việc phân loại nợ
và trích lập dự phòng tại ngân hàng đem lại là chưa cao Các tiêu chí phânloại nợ còn chưa rõ ràng, do đó việc đánh giá xếp loại nhóm nợ khách hàngchưa thật chính xác Theo đó tỷ lệ trích lập dự phòng tại ngân hàng còn thấphơn nhiều so với thực tế cần trích lập đối với các khoản tín dụng đã cung cấp.Yêu cầu đưa ra cần có những giải pháp phù hợp hơn, những tiêu chí và cáchthức đánh giá hiệu quả để phân loại nợ chính xác, từ đó trích lập dự phònghợp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động phân loại nợ và trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM)
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào hoạt động phânloại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Hàng Hải ViệtNam thời gian từ năm 2011 đến 30 tháng 6 năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng và một số phương pháp nghiên cứu khác như thống kê, mô tả, so sánh,quan sát khoa học, phỏng vấn,…
Trang 126 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã chỉ ra được những kết quả đạt được cũng như những hạn chếtrong công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng củaNHTMCP Hàng Hải Việt Nam Từ đó chỉ ra được những nguyên nhân gây rahạn chế, đưa ra những giải pháp, biện pháp khắc phục Bên cạnh đó đề xuấtđược những giải pháp mới hoàn thiện hoạt động phân loại nợ và trích lập dựphòng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Hàng Hải Việt Nam nói riêng và cácNHTMCP nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ
VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là danh từ xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một
sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượnlẫn nhau trên cơ sở có hoàn thành trả cả gốc và lãi
Trong giáo trình ngân hàng thương mại của Học viện ngân hàng đã nêu
theo quan điểm của Các Mác: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.[7,tr 115]
Như vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người
đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dướihình thức tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn:
Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này,
giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bênnhận được giá trị và cũng chỉ có một bên nhượng đi giá trị
Thứ hai, sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Người đi
vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó
để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình Tuy nhiên, người đivay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không
Trang 14được quyền sở hữu giá trị.
Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau
khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệthì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay
1.1.1.2 Đặc trưng của tín dụng
Tín dụng có ba đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin.
Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả saumột thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn.
Để đảm bảo thời gian thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõthời gian cho vay Việc xác định thời hạn đó chủ yếu sẽ dựa vào quá trìnhluân chuyển vốn của đối tượng vay Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kìluân chuyển vốn của đối tượng vay, có như vậy thì người đi vay mới có điềukiện trả nợ
Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên
nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi Đây chính là thuộc tính riêng của tíndụng Do vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thờithừa nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người kí thác.Hơn nữa ngân hàng phải có nguồn trả các khoản chi phí phát sinh trong quá trìnhhoạt động: Khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ nhân viên, … nên ngoàiviệc trả nợ gốc thì người đi vay còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
“Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín
Trang 15dụng với bất kì lý do nào” [1, tr.58]
Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theoquy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN): “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.[9]
Vậy rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NHTM phải gánh chịu
do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợlãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủquan hoặc khách quan Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NHTM,
đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trườnghợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫnđến phá sản
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
Căn cứ vào độ rủi ro có thể xảy ra, rủi ro tín dụng được phân thành hai
loại: Rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn
+ Rủi ro đọng vốn: Là những tổn thất có khả năng xảy ra trong trường
hợp đến thời gian hoàn trả nợ vay mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốnvay, người đi vay không hoàn trả nợ đúng hạn Khi đó có thể dẫn tới đôngcứng các khoản vốn làm cho nó kém lỏng
+ Rủi ro mất vốn: Là rủi ro xảy ra khi người đi vay đã mất khả năng chi
trả Do vậy ngân hàng chỉ cón trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanhnghiệp để đỡ một phần nợ gốc Rủi ro mất vốn có thể ảnh hưởng trực tiếp đếnngân hàng, làm tăng chi phí: chi phí giám sát, chi phí thanh lý,… tạo thành
Trang 16những khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi của ngân hàng.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân làm hai
loại: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục
+ Rủi ro giao dịch: Là loại rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá kháchhàng Rủi ro giao dịch bao gồm ba thành phần là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảođảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro danh mục: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn
chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia làm hai loại:Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Rủi ro nội tại xuất phát từ yếu tố mang tính chấtriêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế Rủi ro tập trung là mức dư
nợ cho vay được dồn vào một hoặc một số khách hàng, ngành nghề kinh tế, loạivay hoặc khu vực địa lý,…
1.1.2.3 Đặc điểm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn
liền với hoạt động tín dụng Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động củangân hàng Các ngân hàng phải đánh giá các cơ hội kinh doanh trên mối quan
hệ rủi ro- lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng vớimức rủi ro chấp nhận Tình trạng thông tin bất đối xứng khiến cho ngân hàngkhông thể nắm bắt được dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, do vậybất kì khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro với ngân hàng
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi
ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của kháchhàng, khi khách hàng gặp những tổn thất, thất bại trong quá trình sử dụng vốnthì rủi ro tín dụng xuất hiện Hay rủi ro trong hoạt động kinh doanh của kháchhàng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện
ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cũng như diễn
Trang 17biến sự việc, hậu quả khi xảy ra rủi ro.
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng: Rủi ro có thể xảy ra do thiên
tai, dịch bệnh, chiến tranh,… Bên cạnh đó môi trường cạnh tranh trong kinhdoanh càng gay gắt, quy luật lựa chọn khắc nghiệt của thị trường khiến chonhiều khách hàng lâm vào tính trạng khó khăn trong hoạt động
Rủi ro từ chính sách vĩ mô của nhà nước: Hoạt động kinh doanh tiền
tệ có ảnh hưởng rất lớn tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế, do đó hoạtđộng ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng phải chịu sự điềutiết về pháp lý của nhà nước Khi môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏnglẻo trong quản lý vĩ mô sẽ là nguyên nhân khiến rủi ro cao
Rủi ro do an ninh bất ổn, khủng hoảng, suy thoái kinh tế: An ninh
trong nước, khu vực bất ổn định, khủng hoảng kinh tế, lạm phát, mất cân bằngcán cân thanh toán, … chính là những nguyên nhân ảnh hưởng hoạt động củakhách hàng làm rủi ro tín dụng tăng cao
Những nguyên nhân từ phía khách hàng: Rủi ro tín dụng của ngân
hàng xuất phát chủ yếu từ người đi vay Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm:
Đối với khách hàng cá nhân
+ Do thay đổi công việc, thất nghiệp, dẫn đến nguồn thu nhập không
ổn định, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng
+ Rủi ro đạo đức do cố tình sử dụng vốn sai mục đích, không trả nợ vay
Đối với khách hàng doanh nghiệp
+ Rủi ro từ phía thị trường kinh doanh: Rủi ro xảy ra khi việc xây dựng,triển khai phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khôngkhoa học, dự toán chi phí, xác định sản lượng không phù hợp Biến động trong thịtrường cung cấp đầu vào: Giá cả vật liệu, chi phí sản xuất gia tăng, … Khó khăn
Trang 18trong tiêu thụ sản phẩm, thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh,….
+ Rủi ro tài chính: Thể hiện khi doanh nghiệp không thể đối phó vớicác nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ Doanh nghiệp sử dụngnguồn vốn vay kém hiệu quả, cơ cấu vốn không hợp lý, mất cân đối tàichính ,… chính là nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động của doanh nghiệp
+ Rủi ro đạo đức: Doanh nghiệp cố tình sử dụng vốn sai mục đích, lừađảo ngân hàng: Lập hồ sơ, giấy tờ giả ,…
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
Do quá trình hoạch định chiến lược của ngân hàng tập trung ứng vốncho một số ngành nghề, nhóm đối tượng khách hàng ưu tiên, do đó lạc quankhi cho vay nhóm khách hàng này Khi nhóm khách hàng này gặp khó khăntrong hoạt động, ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro lớn
Do cán bộ ngân hàng cho vay khách hàng không thực hiện nghiêm túcquy trình cho vay: Không phân tích, đánh giá đầy đủ thông tin khách hàngtrước khi giải ngân, không thực hiện thanh tra, giám sát khi cho vay
Thiếu thông tin khách hàng và ngành nghề kinh doanh của khách hàng,thông tin không đầy đủ, chính xác, kịp thời, … ảnh hưởng đến quá trình phântích, cho vay
Do trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng bị hạnchế dẫn đến yếu kém trong công tác quản lý khách hàng và quản lý món vay
Do sự kiểm tra giám sát khoản vay không thường xuyên, chậm trễ,không phát hiện kịp thời các dấu hiệu cảnh báo rủi ro đối với khách hàng
Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai quy định cho vay của ngân hàng, thông đồng với khách hàng trong quá trình cho vay
Do khó khăn trong quá trình tiếp cận, đánh giá, nắm bắt tài sản bảo
Trang 19đảm để xử lý chúng.
1.2 NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI
RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là tất yếu, nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tíndụng Để giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng, các ngân hàng cần phân tích, đánhgiá mức độ rủi ro của từng khoản nợ và xếp những khoản nợ với cùng mức độrủi ro vào các nhóm thích hợp Theo Thông tư số 15/2010/TT- NHNN ngày
16/06/2010: “Phân loại nợ là việc sắp xếp các khoản nợ gốc vào các nhóm
nợ quy định”
Theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của
Thống đốc NHNN ban hành ngày 22/04/2005 (QĐ 493): “Dự phòng rủi ro
là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy
ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng”.[9]
Dự phòng rủi ro (DPRR) bao gồm hai loại:
+ Dự phòng cụ thể: Số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổnthất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
+ Dự phòng chung: Là khoản tiền được trích lập để dự phòng chonhững tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập
dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổchức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Sự cần thiết phải phân loại nợ
Trong hoạt động tín dụng của NHTM, phân loại nợ đúng đóng một vaitrò vô cùng quan trọng Việc phân loại nợ đòi hỏi phải thực hiện một cách
Trang 20thường xuyên kịp thời bởi vì:
+ Phân loại nợ là một trong những biện pháp để phòng ngừa và hạn chế những tổn thất trong hoạt động tín dụng của NHTM Nếu phân loại
khoản nợ vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn mức rủi ro tương ứng củakhách hàng thì sẽ làm giảm uy tín của khách hàng, ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh của khách hàng và theo đó ngân hàng sẽ phải trích lập DPRR caohơn, chi phí gia tăng làm giảm trực tiếp lợi nhuận của ngân hàng Ngược lạinếu phân loại khoản nợ vào nhóm có rủi ro thấp hơn rủi ro tương ứng thì sẽgây mất an toàn trong hoạt động của ngân hàng do những chủ quan trongquản lý tín dụng, trích lập dự phòng ít hơn rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.Khi rủi ro xảy ra, số tiền dự phòng sẽ không đủ để bù đắp những tổn thất phátsinh Do vậy việc phân loại nợ phải thực hiện một cách chính xác, thườngxuyên để đánh giá được chính xác nhất mức độ rủi ro mà ngân hàng phải đốimặt, từ đó hạn chế được những tổn thất trong hoạt động tín dụng
+ Phân loại nợ để quản trị tốt rủi ro tín dụng đối với hoạt động của NHTM Kết quả phân loại nợ là căn cứ để những nhà quản trị ngân hàng có
cái nhìn khái quát nhất về chất lượng tín dụng của ngân hàng mình, tỷ lệ nợxấu,… Việc phân loại nợ còn giúp cho nhà quản trị ngân hàng đánh giá kháiquát được danh mục cho vay theo ngành nghề kinh tế, theo đối tượng, … đưa
ra được xác suất xuất hiện nợ xấu từ đó đưa ra được chính sách, mục tiêu tíndụng cụ thể của mình
1.2.2.2 Sự cần thiết phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng tồn tại tất yếu trong hoạt động tín dụng nói riêng vàhoạt động ngân hàng nói chung Luật tổ chức tín dụng tại điều 131 đã quy
định: “Tổ chức tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng và khoản dự phòng rủi ro này được hạch toán vào chi phí hoạt động Việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro
Trang 21và sử dụng dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động do Ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với Bộ tài chính” [16] Hoạt động tín dụng
là hoạt động chính trong NHTM, do đó việc trích lập DPRR tín dụng là tấtyếu và vô cùng cần thiết trong hoạt động của ngân hàng
Trích lập DPRR tín dụng có vai trò quan trọng không chỉ với bản thânhoạt động của NHTM mà còn có vai trò quan trọng đối với khách hàng, đặcbiệt là khách hàng gửi tiền, các cổ đông và hệ thống tài chính nói chung
+ Đối với bản thân NHTM: Trích lập DPRR giúp ngân hàng có khoản
dự trữ là nguồn bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra, giúp ngân hàng phân tán chi phícho các thời kì khác nhau trong hoạt động, tránh phải chịu một khoản chi phí lớnkhi rủi ro phát sinh Ngoài ra, trích lập DPRR còn giúp cho việc quản lý tín dụngcủa ngân hàng hiệu quả hơn Dựa trên cơ sở phân loại nợ, số tiền trích lập DPRRtín dụng, nhà quản lý tín dụng sẽ đưa ra được chính sách, chiến lược tín dụngphù hợp theo ngành nghề, đối tượng đảm bảo an toàn hoạt động và khả năngsinh lời của ngân hàng
+ Đối với khách hàng: Việc trích lập DPRR tín dụng không những
đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng mà nó còn tạo lòng tin đối vớikhách hàng, đặc biệt là các khách hàng gửi tiền Khi ngân hàng có chính sáchtín dụng hợp lý, việc trích lập dự phòng được thực hiện một cách đầy đủ sẽ làmột nhân tố tăng uy tín của ngân hàng, ngân hàng hoạt động hiệu quả chính là
cơ sở tạo sự thu hút và lòng tin đối với khách hàng
+ Đối với cổ đông: Ngân hàng thực hiện trích lập DPRR đầy đủ, theo
đúng quy định sẽ giúp các cổ đông đánh giá được chính xác tình hình tàichính của ngân hàng Thêm vào đó uy tín ngân hàng được nâng cao, hoạtđộng ngân hàng được đảm bảo an toàn cũng là cơ sở đảm bảo giá trị tài sảncủa các cổ đông
+ Đối với nền kinh tế: Trích lập DPRR có vai trò quan trọng trong việc
Trang 22đảm bảo an toàn đối với hệ thống tài chính ngân hàng Mỗi ngân hàng thànhviên hoạt động an toàn sẽ là một nhân tố tạo nên sự bền vững, nâng cao uytín, tạo động lực phát triển cho toàn hệ thống ngân hàng.
Chính vì việc trích lập DPRR có vai trò vô cùng quan trọng với các thànhphần trong nền kinh tế xã hội nên đây là hoạt động rất cần thiết trong ngân hàng.Mặt khác ngành ngân hàng Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng với cácthông lệ quốc tế Hiện nay, đối với các nước phát triển, họ cho rằng bản chất tíndụng luôn chứa đựng những rủi ro, do vậy mà ngay khi phát sinh cho vay hoặccam kết cho vay là lập tức tiến hành trích lập dự phòng, khoản này có thể đượctrích lập khi các khoản nợ có dấu hiệu giảm hay chưa suy giảm Việc trích lập này
đã được áp dụng từ lâu và là một trong các chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn vàhiệu quả trong hoạt động ngân hàng
1.2.3 Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Đối tượng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 39 về ghi nhận và trình bày các công cụtài chính (IAS 39) đã phân loại tài sản tài chính thành 4 nhóm chính, trong đóbao gồm các khoản cho vay và phải thu Theo IAS 39, các tài sản tài chínhđược phân loại vào nhóm này có những đặc điểm sau:
+ Là những tài sản tài chính phi phái sinh
+ Có khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định được
+ Không được báo giá trên thị trường sôi động
+ Không bị lỗi do các rủi ro không phải rủi ro thất thoát do đối tác gây ra
Để đánh giá và phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai,các tài sản tài chính thuộc nhóm này sẽ được phân loại vào từng nhóm nợ cócùng mức độ rủi ro dựa trên các quy định và tiêu chí khác nhau
Theo QĐ 493 tại Việt Nam, việc phân loại nợ, trích lập DPRR và việc
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàngđược quy định với các tài sản có (Nợ) sau:
Trang 23+ Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính.
+ Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ
+ Các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng
+ Ủy thác cấp tín dụng
+ Tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại tổ chức tín dụng trong nước, chinhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và tiềngửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài
+ Số tiền mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yếttrên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng kí giao dịch trên thị trường giaodịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPcom), không bao gồm muatrái phiếu chưa niêm yết bằng nguồn vốn ủy thác mà bên ủy thác chịu rủi ro
Như vậy với QĐ 493 trước đây, các NHTM có thể tránh trích lập dự phòngbằng việc cho vay dưới các hình thức tín dụng khác, thì khi TT 02 có hiệu lựcbuộc các ngân hàng sẽ phải thận trọng và cân nhắc hơn khi cho vay cũng như tríchlập dự phòng
1.2.3.2 Thời điểm thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng
Theo thông lệ quốc tế
IAS 39 và IAS 58 quy định: NHTM cần đánh giá vào ngày lập bảng
Trang 24cân đối kế toán, xem có bất cứ bằng chứng khách quan nào không về việcgiảm giá các khoản nợ Nếu nợ bị giảm giá, NHTM cần xác định giá trị tổnthất, tức là phải trích lập dự phòng.
Theo IAS 39, một khoản nợ bị coi là giảm giá trị khi và chỉ khi thỏamãn 3 điều kiện:
+ Có sự kiện tổn thất: Sự kiện tổn thất đối với một khoản nợ có thể hiểu
là sự kiện xảy ra sau khi ghi nhận lần đầu và có những bằng chứng kháchquan cho thấy sự kiện này sẽ làm giảm giá trị của khoản nợ
+ Sự kiện tổn thất tạo nên một tác động lên các dòng lưu chuyển tiền tệ
dự kiến trong tương lai của khoản nợ
+ Tác động của sự kiện tổn thất lên dòng lưu chuyển tiền tệ là có thểước tính được một cách đáng tin cậy
Theo quy định tại Việt Nam
QĐ 493 quy định về thời điểm phân loại nợ và trích lập DPRR như sau:
Ít nhất mỗi quý một lần, trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên củatháng tiếp theo, NHTM phải thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòngrủi ro đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý (tháng) trước
Riêng đối với quý IV, trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên củatháng 12, NHTM thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đếnthời điểm cuối ngày 30 tháng 11
Đối với các khoản nợ xấu, NHTM phải thực hiện việc phân loại nợ,đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hàng tháng để phục vụcho công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng
1.2.3.3 Phương pháp phân loại nợ
a Phân loại nợ theo thông lệ quốc tế
Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn toàn cầu nào dùng để phân loại nợ,tuy nhiên hệ thống phân loại nợ của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)
Trang 25đang là hệ thống phân loại nợ được sử dụng rộng rãi nhất Trong một sốtrường hợp khác, người ta sẽ áp dụng hệ thống báo cáo kép vừa theo chủtrương chính sách trong nước, vừa theo phương pháp phân loại của BIS.
Theo phương pháp của BIS thì nợ được phân loại thành 5 nhóm:
+ Nhóm 1 - Không vấn đề: Là các khoản cho vay sẽ thu hồi được + Nhóm 2 - Chú ý đặc biệt: Là các khoản cho vay các doanh nghiệp có
thể có khó khăn khi thu hồi nợ, ví dụ, do tiếp tục sản xuất kinh doanh thua lỗ
+ Nhóm 3 - Dưới chuẩn: Là các khoản cho vay mà tiền trả lãi và gốc
bị nợ quá hạn trên 3 tháng Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 10% trênphần vốn cho vay không được bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn
+ Nhóm 4 - Nghi ngờ: Khả năng tất toán toàn bộ khoản cho vay tỏ ra
đáng nghi ngờ, cho thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thìchưa rõ Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay nghi ngờ này
+ Nhóm 5 - Mất vốn thật sự và không có khả năng thu hồi: Các
khoản cho vay này được coi là không có khả năng thu hồi Thường là cáckhoản vay cho các doanh nghiệp đang tiến hành các thủ tục pháp lý để đượcbảo vệ theo luật phá sản Các ngân hàng trích dự phòng 100% cho cáckhoản vay này
Các khoản nợ sẽ được phân nhóm vào các nhóm khác nhau dựa trên khả năng có thể thu hồi được Các tiêu chí đánh giá khả năng thu hồi của khoản nợ bao gồm: thời gian trả nợ, tình hình kinh doanh, môi trườngkinh doanh, …
b Phân loại nợ theo quy định tại Việt Nam
Theo QĐ 493 và Quyết định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007của Thống đốc NHNN (QĐ 18) sửa đổi bổ sung cho QĐ 493, các khoản nợcủa NHTM được phân loại vào các nhóm theo hai phương pháp: Phương
Trang 26pháp định lượng và phương pháp định tính.
Phân loại nợ theo phương pháp định lượng
Phân loại nợ theo phương pháp định lượng là phương pháp phân tích,đánh giá khoản vay dựa trên cơ sở là thời gian quá hạn của các khoản vay, từ
đó đưa ra đánh giá về chất lượng và xếp loại tín dụng Theo phương pháp này,
nợ được phân thành 5 nhóm bao gồm:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn và NHTM đánh giá là có khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và NHTM đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ gốc, lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc, lãi đúng thờihạn còn lại
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày
+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng làdoanh nghiệp, tổ chức thì NHTM phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khảnăng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khảnăng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Trang 27+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngàytrở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quáhạn đã được xử lý, khắc phục;
- NHTM có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là kháchhàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
+ Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, NHTM phân loại lạivào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu
Trang 28lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với các khoản nợ trung và dàihạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy
đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại;
- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơcấu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục;
- NHTM có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) để đánh giá là kháchhàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại còn lại
Bên cạnh đó NHTM phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các trường hợp sau đây:
Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một NHTM phải được phân loạivào cùng một nhóm nợ Đối với khách hàng có từ hai (02) khoản nợ trở lên tạiNHTM mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có rủi ro caohơn các khoản nợ khác, NHTM phải phân loại lại các khoản nợ còn lại củakhách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất đó
Đối với khoản cho vay hợp vốn, NHTM làm đầu mối phải thực hiệnphân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn và phải thông báo kết quả phânloại nợ cho các NHTM tham gia cho vay hợp vốn Trường hợp khách hàngvay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại NHTM tham gia chovay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản nợvay hợp vốn do NHTM làm đầu mối phân loại, NHTM tham cho vay hợp vốnphân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của kháchhàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do NHTM đầu mối phân loại hoặc NHTMtham gia cho vay hợp vốn phân loại tuỳ theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn
NHTM phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào nhóm
nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của NHTM khi xảy ra một trong các trườnghợp sau đây:
+ Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh
Trang 29vực kinh doanh của khách hàng;
+ Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loạivào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin);
+ Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năngthanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của kháchhàng bị suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;
+ Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài chính theo yêu cầu của NHTM để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng
Phân loại nợ theo phương pháp định tính
Phân loại nợ theo phương pháp định tính được áp dụng đối với cácNHTM có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính sách DPRR cụ thể đượcNHNN chấp nhận bằng văn bản Do đó phương pháp này chỉ được áp dụng đối với những NHTM đã tổ chức triển khai và áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Theo đó các khoản nợ cũng được phân chia vàonăm nhóm cơ bản:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được NHTM
đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được NHTM đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàngsuy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được NHTM
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản
nợ này được NHTM đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được NHTM đánh giá
là khả năng tổn thất cao
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được
Trang 30NHTM đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Kế thừa các quy định của QĐ 493 và QĐ 18, TT 02 cũng quy định việcphân loại nợ được thực hiện theo hai phương pháp định tính và định lượng TT
02 yêu cầu các NHTM cần phân tích chất lượng tín dụng theo phương pháp địnhlượng (kể cả khi thực hiện phân loại theo phương pháp định tính vẫn phải tiếnhành phân loại song song với phương pháp định lượng trong thời gian tối thiểu
05 năm, phải báo cáo NHNN và được NHNN chấp thuận) Kết quả phân loại nợtheo nguyên tắc kết quả phân loại đối với một khoản nợ và cam kết ngoại bảngtheo hai phương pháp khác nhau thì khoản nợ, cam kết ngoại bảng sẽ được phânloại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn Bên cạnh đó TT 02 cũng bổ sungmột số quy định trong việc phân loại nợ cụ thể:
TT 02 bổ sung nguyên tắc phân loại nợ:
NHTM tự phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo quy định và phải sửdụng kết quả phân loại nhóm nợ đối với khách hàng do Trung tâm thông tintín dụng (CIC) cung cấp để điều chỉnh kết quả tự phân loại Trường hợp nhóm
nợ tự phân loại có mức độ rủi ro thấp hơn nhóm nợ do CIC cung cấp, NHTMphải điều chỉnh kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo nhóm nợ đượcCIC cung cấp
Đối với khoản cấp tín dụng mà bên nhận ủy thác chưa giải ngân theohợp đồng ủy thác, NHTM phải phân loại các khoản ủy thác này như mộtkhoản cho vay đối với bên nhận ủy thác
Đối với khoản nợ đã bán nhưng chưa thu được tiền, nợ đã bán nhưngbên mua có quyền truy đòi người bán thì số tiền chưa thu được, số dư nợ đãbán có quyền truy đòi người bán phải được phân loại, trích lập dự phòng để
xử lý rủi ro giống như trước khi bán nợ
Đối với các khoản nợ được mua, NHTM thực hiện phân loại số tiền đãthanh toán để mua nợ vào nhóm có mức độ rủi ro không thấp hơn nhóm mà
Trang 31khoản nợ đó được phân loại trước khi mua.
Đối với số tiền mua, kể cả ủy thác cho tổ chức khác mua trái phiếu chưaniêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, NHTM phải phân loại số tiền mua tráiphiếu chưa niêm yết như một khoản vay không có đảm bảo đối với bên pháthành trái phiếu, trừ trường hợp trái phiếu doanh nghiệp được đảm bảo thanhtoán bằng tài sản thì tài sản này được coi là tài sản đảm bảo khi tính DPRR
Đối với các khoản nợ mà việc cho vay, cấp tín dụng thực hiện theochấp thuận của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHTM phải thực hiện phânloại nợ theo quy định của Thống đốc NHNN đối với từng trường hợp cụ thể
Căn cứ kết quả thanh tra, giám sát và thông tin tín dụng có liên quan,NHNN có quyền yêu cầu NHTM thực hiện việc đánh giá, phân loại lại cáckhoản nợ cụ thể và trích lập DPRR tín dụng đầy đủ, phù hợp với mức độ rủi
- Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của NHTM hoặc doanhnghiệp mà NHTM nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo
Trang 32quy định của pháp luật;
- Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp đượcphép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
- Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoạihối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối NHTM;
- Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay,chính sách dự phòng rủi ro của NHTM
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra
+ Bổ sung vào Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) các khoản nợ thuộc một trong
+ Bổ sung vào Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) các khoản nợ thuộc
một trong các trường hợp sau:
- Các khoản nợ bổ sung nhóm 3 có thời gian quá hạn trên 60 ngày kể từngày có quyết định thu hồi;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồitrên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nướccông bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nướcngoài bị phong tỏa vốn và tài sản
Như vậy, những quy định chi tiết từ TT 02 đã đưa việc phân loại nợxấu cao hơn so với quy định trước đây, không chỉ là thời gian chậm thanhtoán mà là mối quan hệ cấp tín dụng giữa NHTM với khách hàng và tài sản
Trang 33cấp tín dụng được đảm bảo bởi cổ phiếu của NHTM.
1.2.3.4 Phương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Theo thông lệ quốc tế
IAS 39 chỉ ra giá trị dự phòng hay mức giảm giá trị được xác định:
Giá trị dự phòng = Giá trị ghi sổ - Giá trị có thể thu hồi ước tính
Giá trị thu hồi có thể ước tính: Là giá trị hiện tại của các dòng lưu
chuyển tiền tệ ước tính trong tương lai (gồm tiền lãi, nợ gốc cũng như bất cứdòng tiền phát sinh từ xiết nợ tài sản thế chấp, nhưng không bao gồm các tổnthất tín dụng trong tương lai chưa phát sinh) được chiết khấu theo lãi suấtthực ban đầu
Quy trình ước tính giảm giá trị bao gồm 2 bước cơ bản:
Bước 1: Đánh giá giảm giá trị đối với từng khoản nợ riêng lẻ
- Đối với các khoản nợ trọng yếu khi đứng riêng lẻ, NHTM phải
đánh giá từng khoản nợ xem có bằng chứng khách quan về việc giảm giá trị hay không
- Đối với khoản nợ không trọng yếu khi đứng riêng lẻ, NHTM có thểxem xét đối với từng khoản nợ một hoặc nhóm các khoản nợ này theo đặcđiểm rủi ro để xem xét về khả năng giảm giá trị
- Nếu có bằng chứng về việc giảm giá trị, NHTM phải ước tính luồngtiền tương lai cho từng khoản nợ và chiết khấu về hiện tại để tính toán giá trị
có thể thu hồi từ đó xác định giá trị dự phòng cần trích lập
Bước 2: Đánh giá giảm giá trị đối với một nhóm khoản nợ
Đối với các khoản nợ sau khi đánh giá bước 1 và được coi là chưa
có bằng chứng về sự giảm giá trị, NHTM phải tiến hành phân loại vào cácnhóm có chung đặc điểm rủi ro để tiếp tục đánh giá lần thứ hai về giảm giátrị trong từng nhóm Mục đích của việc này là nhằm cho phép ghi nhận tổnthất được coi là thực sự tồn tại trong danh mục cho vay nhưng chưa có
Trang 34chứng cứ.
Theo quy định tại Việt Nam
Theo QĐ 493 và QĐ 18 DPRR tín dụng bao gồm hai loại: Dự phòngchung và dự phòng cụ thể Theo đó NHNN quy định tỷ lệ, phương pháp tínhDPRR đối với từng loại như sau:
+ Tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại tổ chức tín dụng trong nước, chinhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và tiềngửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài
+ Khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam
+ Căn cứ kết quả thanh tra, giám sát và thông tin tín dụng có liên quan,Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu NHTM trích lập dự phòng chung đốivới các khoản trên phù hợp với mức độ rủi ro
Trang 35Theo đó Số tiền dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính theocông thức sau:
R = max {0, (A - C)} x r.
Trong đó: R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích.
A: Số dư nợ gốc của khoản nợ.
C: Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm.
- Trường hợp TSBĐ không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên hoặc
không phát mại được, giá trị khấu trừ của TSBĐ đó (C) phải coi là bằng không (0).
Ngoài việc kế thừa những điều kiện trên TT 02 có quy định bổ sung
về điều kiện TSBĐ được đưa vào khấu trừ là:
TSBĐ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
về giao dịch bảo đảm
TSBĐ là động sản, bất động sản và các loại TSBĐ khác phải được địnhgiá bởi tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật trongcác trường hợp sau đây:
- TSBĐ có giá trị từ 50 tỷ đồng trở lên đối với khoản nợ của kháchhàng là người có liên quan của NHTM và các đối tượng bị hạn chế cấp tíndụng theo quy định tại Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng
Trang 36- TSBĐ có giá trị từ 200 tỷ đồng trở lên, trừ những trường hợp quy định ở trên.
Trường hợp tổ chức có chức năng thẩm định giá không đủ khả năngđịnh giá hoặc không có tổ chức có chức năng thẩm định giá định giá cácTSBĐ là động sản, bất động sản, tài sản đảm bảo khác quy định ở trên thìNHTM thực hiện định giá theo quy định nội bộ
Như vậy TT 02 đã xiết chặt hơn điều kiện được khấu trừ của TSBĐ khitiến hành tính DPRR cụ thể Theo đó việc trích lập DPRR cụ thể tại ngân hàng
sẽ chính xác hơn, giảm thiểu rủi ro trong việc lựa chọn, đánh giá sai lầm tiêu chíghi nhận TSBĐ
Giá trị khấu trừ của TSBĐ (C) được xác định trên cơ sở tích số giữa
tỷ lệ khấu trừ với:
- Giá trị thị trường của vàng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
- Mệnh giá của trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc và các loại giấy
tờ có giá, trừ trái phiếu của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp;
- Giá trị trên thị trường chứng khoán của chứng khoán do doanh nghiệp và
tổ chức tín dụng khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
và Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
- Giá trị của TSBĐ là chứng khoán do doanh nghiệp và tổ chức tín dụngkhác phát hành chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâmgiao dịch chứng khoán, động sản, bất động sản và các TSBĐ khác ghi trong biênbản định giá gần nhất được NHTM và khách hàng thống nhất (nếu có) hoặc hợpđồng bảo đảm;
- Giá trị còn lại của tài sản cho thuê tài chính tính theo hợp đồng chothuê tài chính tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
- Giá trị của TSBĐ hình thành từ vốn vay tương ứng số tiền giải ngântheo hợp đồng tín dụng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể
Trang 37Tỷ lệ khấu trừ để xác định giá trị khấu trừ của TSBĐ (C) do NHTM
tự xác định trên cơ sở giá trị có thể thu hồi từ việc phát mại TSBĐ sau khi trừ
đi các chi phí phát mại TSBĐ dự kiến tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể,nhưng không được vượt quá tỷ lệ khấu trừ tối đa quy định sau đây:
Bảng 1.2: Tỷ lệ khấu trừ tối đa để xác định giá trị khấu trừ của TSBĐ
tối đa (%)
Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá
bằng Đồng Việt Nam do tổ chức tín dụng phát hành 100%Tín phiếu Kho bạc, vàng, số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết
kiệm, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ do tổ chức tín dụng phát hành 95%Trái phiếu Chính phủ:
- Có thời hạn còn lại từ 1 năm trở xuống
- Có thời hạn còn lại từ 1 năm đến 5 năm
- Có thời hạn còn lại trên 5 năm
95%.85%.80%Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do các
tổ chức tín dụng khác phát hành được niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán
70%
Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá do
doanh nghiệp phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán
65%
Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá do các
tổ chức tín dụng khác phát hành chưa được niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán
50%
Tiếp tục kế thừa các quy định về tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với TSBĐ TT
02 đã quy định cụ thể hơn, bổ sung thêm tỷ lệ khấu trừ đối với một số TSBĐ.Theo quy định này, giá trị khấu trừ TSBĐ sẽ nhỏ hơn đồng nghĩa với việc
Trang 38tăng dự phòng cụ thể của ngân hàng đảm bảo an toàn hoạt động.
Bảng 1.3: So sánh tỷ lệ khấu trừ tối đa giữa QĐ 493, QĐ 18 và TT 02
Loại TSBĐ Tỷ lệ khấu trừ tối đa
Chứng khoán chưa niêm
yết của TCTD
- Do các TCTD có niêm yết phát hành: 50%
- Do các TCTD chưa niêm yết phát hành : 30%
70%
Chứng khoán chưa niêm
yết của doanh nghiệp
- Do các doanh nghiệp đãniêm yết phát hành: 30%
- Do các doanh nghiệp chưa niêm yết phát hành:
10%
65%
Bảng so sánh trên cho thấy trong TT 02 đã quy định chi tiết cho loạiTSBĐ là vàng và Chứng khoán chưa niêm yết Theo đó:
+ Vàng miếng khi không có giá trị niêm yết thì tỷ lệ khấu trừ tối đa chỉ
là 30% thay vì 95% như trước ( giảm 65%)
+ Chứng khoán chưa niêm yết của tổ chức tín dụng dù có hay chưaniêm yết phát hành thì tỷ lệ khấu từ tối đa đều giảm:
- Chứng khoán chưa niêm yết của tổ chức tín dụng có niêm yết pháthành, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 50% giảm 20% so với quy định tại QĐ 18
- Chứng khoán chưa niêm yết của tổ chức tín dụng chưa niêm yết pháthành, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 30% giảm 40 % so với quy định tại QĐ 18
+ Bên cạnh đó Chứng khoán chưa niêm yết của doanh nghiệp dù doanh
Trang 39nghiệp đó có hay chưa niêm yết phát hành thì tỷ lệ khấu từ tối đa đều giảm:
- Chứng khoán chưa niêm yết của doanh nghiệp có niêm yết phát hành,
tỷ lệ khấu trừ tối đa là 30% giảm 35% so với quy định tại QĐ 18
- Chứng khoán chưa niêm yết của doanh nghiệp chưa niêm yết pháthành, tỷ lệ khấu trừ tối đa là 10% giảm 55 % so với quy định tại QĐ 18
1.3 NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Tại nhiều nước trên thế giới, Ngân hàng Trung ương hoặc cơ quan giámsát chỉ đưa ra những nguyên tắc chung, quy định mức sàn trong phân loại nợ vàtrích lập dự phòng Căn cứ trên những nguyên tắc này, các ngân hàng cụ thể hóacác nguyên tắc để xây dựng chính sách riêng cho mình phù hợp với quy mô, tínhchất hoạt động của từng ngân hàng Do vậy chính sách phân loại nợ và trích lập
dự phòng của ngân hàng khác nhau ở từng quốc gia cũng có nhiều điểm khácnhau dù vẫn phản ánh những nội dung của nguyên tắc chung
Trong bài viết: “Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định Việt Nam và thông lệ quốc tế” của tác giả Đinh Thị Thanh
Vân (2012) đăng trên tạp chí Công nghệ ngân hàng- Đại học Ngân hàng thànhphố Hồ Chí Minh số 79, tháng 10/2012 đã đưa ra một số cách phân loại nợ vàtrích lập DPRR tín dụng tại một số nước trên thế giới:
1.3.1 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Pháp, Mỹ, Anh
Các ngân hàng ở Pháp luôn dự phòng rủi ro cho tất cả các khoản tíndụng Các chuẩn mực quản trị rủi ro đo lường rủi ro tín dụng theo hướng luôntồn tại rủi ro trong các khoản cấp tín dụng, cho dù khoản vay đó có suy giảmhay chưa suy giảm khả năng thanh toán Vì vậy việc trích lập dự phòng được
Trang 40thực hiện ngay từ khi khoản cho vay được bắt đầu và ước tính được cho cáctổn thất có thể xảy ra trong dài hạn Tỷ lệ trích tăng dần với khả năng suygiảm của khoản nợ Mức trích lập khởi tạo tối thiểu là 5% chênh lệch giữa giátrị khoản nợ và TSBĐ.
Ở Mỹ, chuẩn mực kế toán tại nước này quy định: Không công nhận cáckhoản tổn thất trước khi cho rằng chúng có thể xảy ra, kể cả khi dựa vào kinhnghiệm quá khứ để có thể cho rằng các khoản tổn thất sẽ phát sinh trongtương lai Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ trích lập dự phòng để bù đắp chonhững khoản tổn thất tín dụng dự tính hiện có dù những tổn thất này phụthuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của ngân hàng Bộ phận thanh tra thườngcăn cứ vào hệ thống quản lý và phương pháp đo lường rủi ro tín dụng của cácngân hàng , thực hiện đánh giá danh mục cho vay và các yếu tố ảnh hưởngđến khả năng thu hồi nợ của danh mục đó Nếu nhận thấy số dự phòng chocác tổn thất tín dụng này thấp hơn mức phù hợp, ngân hàng này sẽ phải tríchlập thêm dự phòng
Tại Anh, cơ quan giám sát không đề ra chính sách chung mà từng ngânhàng quy định chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng phù hợp vớichuẩn mực kế toán quốc tế về kế toán (IAS 39) với mục tiêu phân loại nợ vàtrích lập dự phòng phản ánh đúng chất lượng tín dụng và khả năng tổn thấtcủa ngân hàng gặp phải trên cơ sở phân tích tình trạng lưu chuyển tiền tệ củakhách hàng Các khoản dự phòng được trích lập bất cứ khi nào có thông tin về
sự giảm sút về chất lượng các khoản vay Các khoản dự phòng chung thườngchỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dự phòng và phải được trích lập chonhững khoản vay đã bị giảm sút về chất lượng hoặc có dấu hiệu cho thấy chấtlượng bị giảm sút Thông thường việc suy xét này dựa vào kinh nghiệm quákhứ và các thông tin có được ở hiện tại Trong thực tế các ngân hàng cố gắnglượng hóa và dự báo các khả năng có thể xảy ra trong tương lai để xây dựng