1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích luận điểm của hồ chí minh bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhât, cách mạng nhất là chủ nghĩa mác lênin

14 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa Mác-Lênin
Thể loại Bài luận phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 44,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3 Nguyên nhân thất bại Hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến đã quá lỗi thời lạc hậu cộng với đó là các sĩ phu yêu nước đã không xác định rõ mục tiêu cách mạng là lật đổ chế độ phong ki

Trang 1

ĐỀ BÀI: Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa

nhiều, nhưng, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhât, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin

Ӏ Học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều:

1 Con đường dân chủ tư sản

1.1 Khái quát

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam ở cửa biển Đà Nẵng Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bắt đầu và tạm thời bị thất bại.Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã căn bản hoàn thành công cuộc bình định về quân sự Việt Nam và tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất Cuộc khai thác thuộc địa diễn ra trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá… làm tư tưởng của giới sĩ phu có nhiều chuyển biến và đặc biệt làm xuất hiện thêm các giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội là giai cấp công nhân và tầng lớp tư sản, tiểu tư sản

Hậu quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp có tác động rất lớn đến cuộc đấu tranh chống xâm lược của thực dân Pháp của nhân dân ta Đặc biệt còng trong thời gian này những sách báo viết về các cuộc cách mạng tư sản Pháp, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, trào lưu triết học ánh sáng của Vôn te, Rót xô, Mông texkiơ… đã được truyền vào Việt Nam Luồng tư tưởng mới này cùng với sù ra đời của các giai tầng mới trong xã hội đã làm cho phong trào yêu nước ở Việt Nam diễn ra sôi nổi theo khuynh hướng mới là dân chủ tư sản đã thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia Tinh thần " trung quân, ái quốc" mờ nhạt và thay vào đó là tinh thần " trung dân, ái quốc"

1.2Phong trào tiêu biểu

1.2.1 Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905-1909)

Phong trào Đông Du là trào lưu du học tại Nhật Bản của thanh niên Việt Nam, nhằm tìm đường cứu nước do Hội Duy tân mà linh hồn là Phan Bội Châu khởi xướng từ những năm 1905 Mở đầu cao trào là vào đầu 1905, 3 thanh niên đã được Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính gửi tới Nhật Bản Nhằm cổ vũ cho phong trào, Phan Bội Châu đã viết bài “Khuyến quốc dân

tự trợ du học văn” nhằm kêu gọi đồng bào cả nước ủng hộ, giúp đỡ và được nhân dân nhiệt thành hưởng ứng Đến giữa năm 1908 số học sinh đã lên tới

Trang 2

200, trong đó Nam Kỳ khoảng 100, Trung Kỳ và Bắc Kỳ mỗi xứ 50 người Phan Bội Châu là người lãnh đạo trực tiếp số thanh niên du học này Tổ chức Đông du có một trụ sở liên lạc lấy tên là Bính Ngọ Hiên đặt tại Hoành Tân (sau dời lên Tôkyô) Học sinh được sắp xếp vào học tại hai trường chính: Đông Á đồng văn thư viện (do Đông Á đồng văn hội của Đảng Tiến

bộ Nhật Bản tổ chức) và Chấn Vũ học hiệu (của Chính phủ Nhật Bản) Có một số ít du học sinh được xếp vào học tại vài trường trung học, ngoại ngữ tại Tôkyô Học sinh học tại hai trường lớn trên đều do các giảng viên người Nhật Bản giảng dạy Buổi sáng, học tiếng Nhật và các môn học phổ thông như toán, lí, hóa, văn, sử, địa, vv Buổi chiều là các môn thường thức về quân sự và luyện tập Chương trình này nhằm đào tạo học sinh thành chiến

sĩ cách mạng có trình độ văn hoá và quân sự, cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước sau này

1.2.2 Phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh (1906-1911)

Năm 1906, Phan Châu Trinh ra Bắc, liên lạc với Lương Văn Can và các thân

sĩ Bắc Hà để lập cơ sở Duy tân ở Bắc (sau đó gần một năm, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập) Ông cũng tìm gặp Đề Thám, sang Quảng Châu gặp Phan Bội Châu rồi cùng sang Nhật quan sát tình hình chính trị và dân trí nước Nhật, khi bàn luận và biết là không cùng chí hướng với Phan Bội Châu, ông về nước, xúc tiến con đường Duy Tân Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước Việc làm đầu tiên là gửi một bức thư chữ Hán cho toàn quyền Jean Beau vạch trần chế độ phong kiến thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh Liền theo đó, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh

1.3Nguyên nhân thất bại

Hệ tư tưởng mới không ổn định , thiếu đúng đắn vì nó không giải quyết triệt để vấn đề giải phóng con người giải phóng nhân dân lao động , đặt nặng chủ trương dân tộc và gián tiếp phủ nhận sự tự do cá nhân

2 Con đường phong kiến

2.1 Khái quát

Ngày 31/08/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng,

âm mưu chiếm Đà Nẵng làm căn cứ tấn công ra Huế, buộc nhà Nguyễn đầu hàng

Trang 3

Rạng sáng 1-9-1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã

nổ súng vào bán đảo Sơn Trà

Quân triều đình bắn trả, nhưng do vũ khí lạc hậu và không được luyện tập thường xuyên nên kém hiệu quả, không thể ngăn chặn được Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Vũ khí hiện đại đã tạo cho liên quân Pháp-Tây Ban Nha lợi thế ngay từ đầu, các đồn An Hải và Điện Hải (Trà Sơn) bị vỡ, quân triều đình phải lui về Hòa

Vang.Sau đó, Pháp nhanh chóng chiếm được 3 tỉnh miền Đông, 3 tỉnh miền Tây và chuẩn bị tấn công ra Hà Nội.Nhà Nguyễn kí hiệp ước Hacmang (1882) và Patonot (1884) và hoàn toàn đầu hàng trước Pháp

2.2 Phong trào tiêu biểu

2.2.1 Phong trào Cần Vương (1885-1896)

Khi cuộc phản công quân Pháp thất bại, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua chạy ra Tân

Sở (Quảng Trị), Tại đây, ngày 13 tháng 07 năm 1885, ông nhân danh vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vương", kêu gọi văn thân và nhân dân đứng lên giúp vua Hàm Nghi cứu nước

Từ đó, một phong trào yêu nước chống xâm lược đã dâng lên sôi nổi, kéo dài đến cuối thế kỉ XIX, được gọi là phong trào Cân Vương Đối với thực dân Pháp, việc

ký Hiệp ước Patơnôt ngày 6-6-1884 đã chấm dứt giai đoạn xâm lược ngót 30 năm Nhưng cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn còn âm ỉ trong hoàn cảnh mới

Phong trào Cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp

Sau khi chiếu Cần Vương phát ra, nhiều văn thân, sĩ phu yêu nước đã nổi dậy hưởng ứng Họ tập hợp nghĩa binh, xây dựng cân cứ, đấu tranh quyết liệt với thực dân Pháp và tay sai, trên một địa bàn rộng lớn, tập trung ở các tỉnh bắc Kì và Trung

Kì Trước những khó khăn ngày càng lớn, tháng 12-1886 Tôn thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện

Cuối năm 1888, do sự chỉ điểm của Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi rơi vào tay giặc Nhà vua hiên ngang cự tuyệt mọi sự dụ dỗ của Pháp chấp nhận đi đày ở An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi

Trong điều kiện ngày càng khó khăn, số lượng các cuộc khởi nghĩa có giảm bớt, nhưng lại tập trung thành những trung tâm kháng chiến lớn Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Ba Đình và Hùng Lĩnh, khởi nghĩa Hương Khê

2.2.2 Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)

Trang 4

Trong nhữn năm cuối thế kỉ XIX, song song với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương, còn có các cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân các địa phương trung du miền núi, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa yên Thế

Cuộc khởi nghĩa yên thế bùng nổ năm 1884, kéo dài đến năm 1913 Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa gồm phần lớn là nông dân Người có công và đóng vai trò to lớn hơn cả là Lương Văn Nắm (Đề Nắm) và tiếp đó là Hoàng Hoa Thám (Đề Thám)

Từ năm 1884 đến 1892, các toán nghĩa quân còn hoạt động riêng lẻ, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất Lúc bấy giờ xuất hiện hàng chục toán nghĩa quân tung hoành khắp khu vực yên Thế Mỗi thủ lĩnh cầm đầu một toán quân và làm chủ một vùng, đẩy lùi nhiều trận càn của Pháp Sau khi Đề Nắm bị giết, Đề Thám đứng

ra tổ chức lại phong trào và trở thành thủ lĩnh của nghĩa quân Thực dân Pháp cho tay chân mua chuộc, dụ dỗ, tìm cách ám sát Hoàng Hoa Thám nhưng không được

Từ năm 1893 đến năm 1897, nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động ra nhiều vùng thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh và xây dựng lại căn cứ tại Hồ Chuối Lúc này thực dân Pháp đã đàn ap các cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Ba Đình, phòng trào Tây Bắc và hạ lưu sông Đà, chúng tập trung lực lượng đánh lên yên thế

Để củng cố lực lượng, quân Yên Thế bắt cóc Chesnay, một chủ thầu khoán kiêm chủ bút tờ báo Tương lai Bắc Kì Chính quyền thực dân phải chủ động giảng hòa với Đề Thám Theo đó, phía Pháp trả 15.000 francs tiền chuộc, họ phải rút khỏi Yên Thế và để Đề Thám kiểm soát 4 tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng, với quyền thu thuế trong 3 năm

Tranh thủ thời gian hòa hoãn, nghĩa quân vừa lo sản xuất, vùa ra sức chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến mới Đến tháng 11-1895, Pháp tấn công trở lại, Nghĩa quân

đã bị phục kích, tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhưng nghĩa quân cũng bị hi sinh, tổn thất nhiều Họ phải di chuyển khắp bốn tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Yên Trước sự truy lùng và vây quét ráo riết của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngày càng suy yếu Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám lại xin giảng hòa với Pháp lấn thứ hai Thực dân Pháp lúc này cũng muốn chấm dứt xung đột để tiến hành khai thác thuộc địa Vì vậy, tháng 12-1897, hiệp ước hòa hoãn giữa thực dân Pháp và nghĩa quân Đề Thám đã được kí kết với những điều kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, nghĩa quân phải nộp cho Pháp tất cả vũ khí và phải bãi binh Đề Thám bề ngoài tỏ ra là phục tùng, nhưng bên trong vẫn ngầm củng cố lực lượng

Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc lương ăn, vừa tăng

Trang 5

cường sắm sửa vũ khí, ra sức luyện tập Nhiều nhà yêu nước đã tìm tới giao tiếp với Đề Thám như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

2.3 Nguyên nhân thất bại

Hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến đã quá lỗi thời lạc hậu cộng với đó là các sĩ phu yêu nước đã không xác định rõ mục tiêu cách mạng là lật đổ chế độ phong kiến để giải phóng nhân dân mà chỉ là đánh đuổi thực dân Pháp

ӀӀ Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất:

1 Cơ sở lý luận:

1.1 Tư tưởng của Mác

1.1.1 Xuất phát từ lý thuyết hình thái kinh tế xã hội , áp dụng trong điều

kiện hiện tại , kết hợp học thuyết giá trị thặng dư ,từ đó Mác kết luận sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt, chỉ

rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân , nhân dân lao động là con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức tiếp đó là giải phóng con người

1.2 Lê nin thực tiễn

1.2.1 CM tháng 2 (CMDCTS Kiểu mới)

Lê nin và đảng Bôn sê vich lãnh đạo lực lượng chủ yếu công nhân ,nông dân , các tầng lớp lao động đã lật đổ chế độ phong kiến Tạo nên hai chính quyền song song

1.2.2 CM tháng 10 (CM vô sản đầu tiên )

Sau Cách mạng tháng Hai, Nga tồn tại 2 chính quyền song song:

+ Chính phủ lâm thời (tư sản)

+ Xô viết đại biểu (vô sản)

+ Nên cục diện không thể kéo dài

- Trước tình hình đó Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa (lật đổ chính quyền tư sản lâm thời)

- Đầu tháng 10/1917 không khí cách mạng bao trùm cả nước Lê-nin đã về nước trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Trang 6

* Diễn biến khởi nghĩa

- Tháng 4: Lê-nin đã thông qua Đảng Bôn-sê-vích bản Luận cương tháng 4 chỉ ra mục tiêu đường lối tiếp theo của cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa

- Đêm 24/10/1917 bắt đầu khởi nghĩa

- Đêm 25/10 tấn công cung điện Mùa Đông, bắt giữ các bộ trưởng của Chính phủ tư sản

- Khởi nghĩa Pêtơrôgrát giành thắng lợi

- Ngày 3/11/1918 chính quyền Xô viết giành thắng lợi trên khắp nước Nga rộng lớn

* Tính chất: Cách mạng tháng Mười mang tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

1.2.3 Ý nghĩa

Cuộc cách mạng tháng 10 đã biến lý tưởng niềm tin ,học thuyết thành hiện thực

và đánh dấu sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới; tạo điều kiện cho giai cấp vô sản thực hiện được mục tiêu: giải phóng nhân dân lao động khỏi

áp bức, bóc lột, bất công, nâng họ lên địa vị làm chủ xã hội mới, thực hiện được khát vọng giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội khỏi áp bức, bất công

2.Nội dung tư tưởng

2.1 Thực tiễn Việt Nam

Cuối tk ӀX đầu XX ,X đầu XX ,dân tộc Việt Nam bị đè nén bởi hai tầng áp bức, bóc lột của đế quốc Pháp và chế độ phong kiến nhà Nguyễn.Mâu thuẫn xã hội gay gắt về cả giai cấp lẫn dân tộc.Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta bị thực dân Pháp đàn áp, dìm trong biển máu và sự bất lực của các sĩ phu phong kiến đương thời nhất là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

2.2 Sáng tạo của Chủ Tịch HCM trong logic giải phóng con người

Người cho rằng , do trình độ các nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng có trình độ sản xuất kém phát triển nên sự phân hoá giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như các nước phương Tây phải gắn chủ nghĩa dân tộc chân chính

Trang 7

với chủ nghĩa quốc tế Người khẳng định ,phải đi từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp rồi sau đó là giải phóng con người

ӀӀӀ Chủ nghĩa Mác lê nin là chủ nghĩa chắc chắn nhất

1 Cơ sở lý luận:

1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng

CNDVBC đề ra nhiệm vụ cải tạo hiện thực bằng con đường cách

mạng.Toàn bộ quan điểm đc dựa trên cơ sở lý giải khoa học về vật chất,

ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét các lĩnh vực của đ/s xh một cách biện chứng, vào quá trình nhận thức của con ngườ(Kinh tế, Văn hoá –Xã hội) Cho rằng :vật chất là một thực tại khách quan, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức , khả năng nhận thức của con người là vô hạn

1.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã làm rõ những khái niệm về quan hệ sản xuất ,các hình thái ý thức , xã hội cùng với các thiết chế chính trị xã hội

và quan hệ giữa chúng và giải thích được xã hội ,nguồn gốc bản chất

con người một cách khoa học và thực tiễn

2.Nội dung tư tưởng HCM

2.1 Thế giới quan

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, “chỉ có thực hành mới là mực

thước đúng nhất cho sự hiểu biết của người về thế giới Chỉ do quá trình thực hành (quá trình sản xuất vật chất, giai cấp đấu tranh, khoa học thực nghiệm), người ta mới đạt được kết quả đã dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được chứng thực”

Ở Người, nội dung hoạt động thực hành gồm tất cả các hoạt động chính trị, kinh tế,

xã hội, văn hóa và cả sinh hoạt thường nhật, để giải phóng con người khỏi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và “chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta”, nhằm phát triển con người mới, xã hội chủ nghĩa

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động thực hành không phải là hoạt động trừu tượng, chung chung, không gắn với các công việc thực tế hằng ngày và không gắn với việc bồi dưỡng chủ thể hoạt động thực hành trong những điều kiện lịch sử - cụ thể Nó là hoạt động giải phóng, đồng thời gắn với xây dựng, phát triển con người, giai cấp, dân tộc và nhân loại

Việc coi sinh hoạt thường nhật là một dạng hoạt động thực hành, hoạt động vật chất có chủ đích, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần, vận dụng và phát triển sáng tạo quan niệm của C Mác về bản chất tổng hòa các quan hệ xã hội của con người trong đời sống hiện thực Quan niệm “chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta” là nhằm xây dựng ý thức tự giác của các chủ thể hoạt động thực hành, đặc biệt ở con người xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Hoạt động thực hành, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, diễn ra trong mối quan hệ biện chứng giữa “diện” và “điểm”, cụ thể là giữa việc thực hiện các “công việc hằng ngày” với phong trào thi đua, giữa tấm gương “người tốt, việc tốt” với người người thi đua, ngành ngành thi đua, giữa giải phóng và phát triển, nhằm xây dựng xã hội mới, con người mới Chỉ thông qua thực hành “mà tìm ra sự thật Lại do thực hành

mà chứng thực sự thật và phát triển sự thật Từ hiểu biết bằng cảm giác tiến lên hiểu biết bằng lý trí Lại từ hiểu biết bằng lý trí tiến lên thực hành lãnh đạo cách mạng, cải tạo thế giới” Nói cách khác, chỉ thông qua thực hành, con người mới phản ánh được thế giới, giải thích được thế giới, và quan trọng là cải tạo được thế giới

2.2 Nhân sinh quan cách mạng

Để giải phóng con người khỏi thế giới quan cũ và xây dựng thế giới quan mới, cũng như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ con người hiện thực Vì phải xuất phát từ “con người hiện thực”,

“nhân dân hiện thực” mới hình thành được thế giới quan đúng, và mới có tiền đề hiện thực để hiểu được quá trình phát triển của lịch sử loài người Những con người hiện thực là đồng bào Việt Nam khi mất nước; là phụ lão, nhi đồng, thanh niên, phụ nữ, công, nông, binh, trí thức, cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Con người, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhân cách với những “tính cách riêng”,

“sở trường riêng”, quyền lợi riêng, đời sống riêng Người ta có tính tốt và tính xấu Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng Thiện và ác không phải tự nhiên có,

mà “phần lớn do giáo dục mà ra” Do đó, phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi

Gốc rễ của việc giải phóng con người Việt Nam khỏi thế giới quan cũ là phải giành được độc lập, tự do cho dân tộc Nhưng giành được độc lập, tự do cho dân tộc mà nhân dân không được hưởng sung sướng thì cũng chẳng có nghĩa lý gì cho việc xây dựng thế giới quan mới Vì thế, phải xây dựng chủ nghĩa xã hội để “làm sao cho dân giàu nước mạnh”, thực hiện “công bằng hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ và chăm nom”, “nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”

Còn bản thân con người phải có tài và đức; trong đó đạo đức là cái gốc làm người (người dân, cán bộ, đảng viên, ), còn tư tưởng làm cốt của trí khôn, là bàn chỉ nam Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”

Trang 9

Từ quan niệm về tính tích cực của chủ thể, Hồ Chí Minh yêu cầu phải “trồng người” để con người có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, theo phương châm:

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa Và sự nghiệp xây dựng đó có thể “trồng” được những con người xã hội chủ nghĩa

2.3 Phương Pháp luận biện chứng

Một là sự hiểu biết bằng lý trí phải dựa vào sự hiểu biết bằng cảm giác Nếu không

có cảm giác, thì lý trí như một dòng nước, không có nguồn, một chòm cây không

có rễ; mà như thế là chủ quan Nếu nhắm mắt, bịt tai, không nghe, không thấy sự vật khách quan bên ngoài thì làm gì có hiểu biết Đó là hiểu biết theo chủ nghĩa duy vật

Hai là hiểu biết phải tiến hóa sâu sắc, từ giai đoạn cảm giác đến giai đoạn lý trí Đó

là hiểu biết theo phương pháp biện chứng

Chỉ cảm giác thôi không đủ Muốn hiểu biết toàn bộ một sự vật, hiểu biết bản chất

và quy luật nội bộ của nó, thì phải suy xét kỹ lưỡng, gom góp những cảm giác phong phú lại, rồi chọn lọc cái nào thật, cái nào giả, cái nào đúng, cái nào sai, từ ngoài đến trong, để tạo thành một hệ thống khái niệm lý luận Đó là hiểu biết do thực hành mà có và được cải tạo trong thực hành Hiểu biết ấy đúng hơn, phản ánh

sự vật một cách hoàn toàn hơn”

Nhưng nếu chỉ dừng ở hệ thống khái niệm lý luận thì “hiểu biết như thế chỉ mới là hiểu một nửa”, mà còn phải dùng sự hiểu biết ấy cải tạo thế giới “Sự tiến tới (phát triển) của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà cốt nhất là

từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích ngắn gọn, giản dị, khúc triết về nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, sự tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,

Và từ quan niệm “lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng nhân dân không chỉ là đối tượng chủ yếu của nhận thức lịch sử, mà là chủ thể chủ yếu có năng lực nhận thức và cải tạo thế giới Vì “một lẽ rất đơn giản, dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”(7) Nhân dân là lực lượng chủ yếu thực hiện sản xuất, tiến hành đấu tranh chống bọn bóc lột Do đó, nhận thức của họ là nội dung chủ yếu của lịch sử, và cũng là nội dung chủ yếu của thế giới quan về lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày ngắn gọn, khúc triết về sự phát triển của các hình thái xã hội với tính cách là một trong những vấn đề quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật lịch sử: “Lịch sử của xã hội

do người lao động tạo ra Sự phát triển của lịch sử là quy luật không ai ngăn trở được Chế độ cộng sản nguyên thủy biến đổi thành chế độ nô lệ Chế độ nô lệ biến đổi thành chế độ phong kiến Chế độ phong kiến biến đổi thành chế độ tư bản chủ nghĩa Chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ xã hội chủ nghĩa”

Trang 10

ӀV Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa cách mạng nhất:

1 Cơ sở lý luận

1.1 Tính tất yếu CNXH

1.1.1 Mâu thuẫn giữa LLSX đã xã hội hóa cao >< QHSX chiếm hữu tư

nhân TBCN về TLSX 1.1.2 Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân vs giai cấp tư sản

1.1.3 Chủ nghĩa tư bản với tư cách một hình thái kinh tế - xã hội chỉ là

một giai đoạn phát triển của lịch sử và nó tất yếu sẽ bị thay thế bởi một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn

1.2 Tính hiện thực

Cuộc cách mạng tháng 10 Nga là do giai cấp vô sản tiến hành ,lực lượng chính là gc vô sản và thành công do đường lối đấu tranh và sách lược đúng đắn của Đảng Bôn sê vich do Lênin lãnh đạo Cuộc cách mạng này đã mở ra con đường Cách mạng vô sản cho nhân dân các nước tư bản và nhân dân các nước thuộc địa phụ thuộc.Nó không chỉ

đc vận dụng trong các cuộc đấu tranh giành chính quyền,chủ nghãi Mác lê nin còn là nền tảng cho sự tiến bộ của các nước xã hội chủ nghĩa khi mang lại những phương thức phát triển kinh tế xã hội mới với nhiều điểm tiến bộ

1 Nội dung TT HCM

Tiến lên CNXH là tất yếu của VN sau khi giành đc độc lập theo con đường cách mạng vô sản.Mục tiêu là nhà nước được độc lập,nhân dân được hưởng tự do,cuộc sống hạnh phúc Hồ Chí Minh đã hiểu đc những đặc điểm,bản chất của CNXH,từ đó có những nhận xét quan điểm đúng đắn:

+ CNXH là 1 chế độ chính trị do nhân dân làm chủ

+ CNXH là chế độ không còn bóc lột con ng,là 1 xã hội phát triển cao về văn hóa đạo đức

3 Tại sao chọn CNXH ở VN

Rất nhiều sĩ phu yêu nước đã tìm con đường cứu nước tuy nhiên chưa ai tìm được con đường phù hợp vs hoàn cảnh dân tộc và đều thất bại Chỉ có chủ nghĩa xã hội -chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng

xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự

do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là tiền đề thúc đẩy.Việt Nam còn có những điều kiện cần thiết để lựa chọn con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư sản đó là chúng ta có Đảng cộng sản lãnh đạo

Ngày đăng: 13/09/2023, 19:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w