Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là khảnăng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, baogồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vàonền sả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG NGỌC LỢI
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các
số liệu, tài liệu là trung thực, các kết quả nghiên cứu do chính tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn
Học viên
Phạm Thị Phương
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI 1
1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội 1
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 1
1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 1
1.1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao 4
1.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 11
1.1.2 Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội 13
1.2 Nội dung chủ yếu và các yếu tố tác động tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 16
1.2.1 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 16
1.2.1.1 Phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao 17
1.2.1.2 Phát triển về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao 19
1.2.1.3 Phát triển về cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao 21
1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 22
1.2.3 Các yếu tố tác động tới quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 25
1.2.3.1.Yêu cầu của phát triển kinh tế- xã hội 25
1.2.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 27
1.2.3.3 Sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 28
1.2.3.4 Sự phát triển của thị trường sức lao động chất lượng cao 30
1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước trong khu vực và địa phương trong nước, vận dụng ở thành phố Hà Nội 31
Trang 41.3.1 Kinh nghiệm một số nước châu Á về xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao 31
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 31
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 33
1.3.1.3 Kinh nghiệm của Singapore 35
1.3.2 Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số địa phương trong nước 36
1.3.2.1 Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao của Thành phố Hồ Chí Minh 36
1.3.2.2 Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao của Thành phố Đà Nẵng 38
1.3.3 Một số bài học rút ra qua kinh nghiệm các thành phố áp dụng cho thành phố Hà Nội 39
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và yêu cầu mới về nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Hà Nội 42
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội 42
2.1.1.1 Khái quát về thành phố Hà Nội 42
2.1.1.2 Những vấn đề về kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội 45
2.1.2 Động thái về cơ cấu kinh tế và lao động Thành phố Hà Nội 2011 -2015 48
2.2 Thực trạng phát triển NNL chất lượng cao của thành phố Hà Nội 52
2.2.1 Tình hìnhh NNL chất lượng cao của thành phố Hà Nội hiện nay.52 2.2.1.1 Về số lượng nguồn nhân lực 52
2.2.1.2 Về chất lượng nguồn nhân lực 55
2.2.2 Thực trạng phát triển NNL chất lượng cao của thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015 57
2.2.2.1 Thực trạng phân bổ nguồn nhân lực theo ngành kinh tế 57
2.2.2.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật 58
2.3 Đánh giá chung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của
Trang 52.3.1 Về thành tựu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng, thu hút, đãi ngộ ) 61
2.3.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao 62
2.3.2.1 Về đào tạo nguồn nhân lực 62
2.3.2.2 Về sử dụng nguồn nhân lực 63
2.3.2.3 Về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao bên ngoài để sử dụng 65
2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu thực trạng trên 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm 2020 và tầm nhìn 2025 68
3.2 Phương hướng chủ yếu và giải pháp phát triển NNL chất lượng cao của thành phố Hà Nội đến năm 2020 72
3.2.1 Phương hướng chủ yếu và mục tiêu phát triển NNLCLC của Thành phố Hà Nội 72
3.2.1.1 Phương hướng chủ yếu 72
3.2.1.2 Mục tiêu phát triển NNLCLC của Hà Nội 75
3.2.2 Giải pháp phát triển NNL chất lượng cao của thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 76
3.2.2.1 Giải pháp về các chính sách và thủ tục hành chính 76
3.2.2.2 Giải pháp về Giáo dục và Đào tạo 78
3.2.2.3 Giải pháp phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực .89
3.2.2.4 Giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ngoài thành phố Hà Nội 92
3.2.2.5 Giải pháp nâng cao tình trạng sức khỏe, chất lượng dân số, môi trường sống cho con người 93
3.2.2.6 Giải pháp xây dựng môi trường xã hội, phục vụ cho việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 95
3.3 Các kiến nghị đối với Nhà nước 96
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 97 KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tồng sản phẩm quốc nội Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 48
Bảng 2.2: So sánh cơ cấu kinh tế thành phố Hà Nội với cả nước và các thành phố lớn khác năm 2015 50
Bảng 2.3 Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành 51
Bảng 2.4 Quy mô dân số trung bình Hà Nội giai đoạn 2011-2015 52
Bảng 2.5 Tỷ lệ tăng dân số của thành phố Hà Nội 54
Bảng 2.6 Lực lượng lao động thành phố Hà Nội 54
Bảng 2.7: Trình độ nguồn nhân lực của Thành phố 55
Bảng 2.8 Cơ cấu trình độ lao động 56
Bảng 2.9: Lao động có việc làm theo ngành kinh tế quốc dân 57
Bảng 2.10 Cơ cấu lao động chia theo tình trạng lao động và trình độ CMKT năm 2015 58
Bảng 2.11 Cơ cấu LLLĐ và trình độ CMKT chia theo tình trạng lao động năm 2015 59
Bảng 2.12 Cơ cấu LLLĐ và tình trạng lao động chia theo trình độ CMKT .59
Bảng 2.13 Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ CMKT và tình trạng việc làm 60
Bảng 3.1: Dự báo dân số và cung lao động 73
Bảng 3.2: Dự báo cung lao động theo 3 nhóm ngành 74
Bảng 3.3: Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo 75
Bảng 3.4 Nhu cầu kinh phí đào tạo thời kỳ 2016-2020 82
Bảng 3.5: Dự báo cơ cấu kinh tế thành phố Hà Nội 90
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NN-LM-TS Nông nghiệp-Lâm nghiệp - Thủy sản
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực cho sựphát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ,con người vv… Trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tínhchất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển bền vững Một nước cho
dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưngkhông có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồnlực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.Bởi lẽ, máy móc, phương tiện kỹ thuật, công nghệ dù có hiện đại đến mấycũng đều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người Ở Việt Nam,quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong côngcuộc hội nhập, phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn lấy con người làm nhân tố quyết định.Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: ‘Nguồn lực conngười là nguồn lực của mọi nguồn lực”
Nguồn nhân lực là tổng hoà của yếu tố thể lực, tâm lực và trí lực tồntại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kếttinh truyền thống, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng của một dân tộc đượcvận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầuhiện tại và tương lai của đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao là một
bộ phận của nguồn nhân lực, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạpcủa công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, cónhững đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồngnói riêng và cho toàn xã hội nói chung Đó là bộ phận lao động xã hội cótrình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩ năng lao động giỏi và
có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của côngnghệ sản xuất; có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sángtạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo vào quá trình lao độngsản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Trang 10Nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò cực kỳ quan trọng, quyếtđịnh sự thành công của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Nếu như trước kia,quá trình phát triển chủ yếu là dựa vào tích lũy vốn vật chất (tài nguyên, đấtđai…), thì hiện nay, quá trình này đang chủ yếu dựa trên công nghệ vànhân lực trình độ cao Đó cũng là mô hình mà các nước và vùng lãnh thổnhư: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan… đã áp dụng và đạtđược sự phát triển thần kỳ những năm qua.
Nhân lực luôn đóng vai trò là một trong những giải pháp đột phátrong quá trình phát triển của nước ta từ trước đến nay; tuy nhiên, chỉ saunăm 2010, vai trò của nhân lực chất lượng cao mới thực sự được nhấnmạnh Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao độngnhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩykinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đó chấtlượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấuchốt
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội củaViệt Nam đang trong quá trình đẩy nhanh CNH, HĐH và tiến tới hìnhthành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, có vai tròthen chốt trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Vì vậy hơn bất kì địaphương nào khác trong cả nước, Hà Nội đòi hỏi có nguồn nhân lực pháttriển với trình độ cao Song nhìn chung, nhân lực thành phố Hà Nội cònchưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH, chưa thực sự làđộng lực phát triển kinh tế xã hội Nghiên cứu thực trạng phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao để đưa ra các giải pháp biến nguồn nhân lực thànhphố Hà Nội trở thành nội lực của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp CNH, HĐH thành phố là một nhu cầu cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn Vì vậy, trong quá trình học tập, em chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao luôn là đềtài quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học Có thể nêu racác công trình nghiên cứu tiêu biểu về phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao ở nước ta như sau:
- TS Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày
hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển,phân bố và sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đánh giá thực trạng 15năm đổi mới lĩnh vực nguồn nhân lực; giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ,Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằmphát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trongquá trình phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010
- TS Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Tác giả đã làm rõ
một số vấn đề chung về CNH, HĐH như: thực trạng nguồn lực con người ởViệt Nam hiện nay và những vấn đề cần đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH,trên cơ sở đó đề ra những phương hướng, giải pháp, khai thác có hiệu quảnguồn lực con người đáp ứng CNH, HĐH ở Việt Nam
- TS Đỗ Minh Cương, PGS.TS Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn
sách đã đề cập đến một số nội dung về giáo dục đại học, đồng thời đề xuấtnhững giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực đại học, bộphận nhân lực có trình độ cao trong nguồn nhân lực nước ta, để phục vụcho sự nghiệp CNH, HĐH
- PGS TS Đỗ Thị Thạch (2011), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7/2011.
Trong bài báo của mình, tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ chiến lược phát
Trang 12triển NNL trong văn kiện Đại hội XI của Đảng ta Đồng thời, tác giả cũngchỉ rõ những quan điểm mới trong chiến lược phát triển NNL, từ đó làm rõquan điểm của Đảng về những giải pháp để phát triển NNL và NNLCLC.
- PGS TS Phan Thanh Khôi, TS Nguyễn Văn Sơn (2011), Xây dựng đội ngũ tri thức lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, Tạp chí Tuyên giáo số tháng 7/2011
- Trương Thị Thu Hà: “Cơ hội và thách thức với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế”, tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, số 4 năm 2005
- Phạm Văn Quý: “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH”, Luận án tiến
sĩ Kinh tế, Hà Nội năm 2005
- “Phát huy nhân tố con người để pháp triển bền vững”, Đề tài cấp bộ
- Viện Quản lý kinh tế Trung ương, 12/2009
- PGS, TS Đường Vĩnh Sường: “Giáo dục đào tạo với phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện
Trang 13lượng cao ở thành phố Hà Nội Chính vì vậy, đây là vấn đề bức thiết cầnđược tập trung nghiên cứu một cách cơ bản cụ thể, thấu đáo nhằm gópphần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục tiêu của luận văn
Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất phương hướng và giảipháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố HàNội đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tếquốc tế trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phát triểnnguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta nói chung, ởcấp tỉnh nói riêng
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và của một
số địa phương trong nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, rút
ra bài học đối với thành phố Hà Nội
- Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ởthành phố Hà Nội Đánh giá chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạnchế
- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao của thành phố Hà Nội đáp ứng với yêu cầu mới hiện nay vànhững năm tiếp theo góp phần hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 ViệtNam cơ bản trở thành nước công nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đây là lĩnh vực rộng nên luận văn sẽ cố gắng làm rõtrên các mặt liên quan về số lượng, chất lượng, cơ cấu NNL vì đó là nhữngnhân tố quan trọng tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao hiện nay Nhân tài đương nhiên thuộc về NLCLC nhưng là đối tượngđặc biệt, luận văn chỉ xem xét trong mức độ cần thiết bởi không phải tất cảNNLCLC là nhân tài
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, đặt trong tổng thể nguồn nhân lực của thành phố
Hà Nội
- Về thời gian: Khảo sát, nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2010- 2015
và đề xuất giải pháp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đểnghiên cứu khung lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,đồng thời luôn gắn với chủ trương, đường lối về cán bộ, về nguồn nhân lựccủa nhà nước và thực trạng đất nước
- Sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp thống kê, so sánh,phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
- Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Thành ủy, HĐND, UBND, SởLao động - Thương binh và Xã hội
6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở khoa học về nguồn
nhân lực chất lượng cao; khái quát có hệ thống, phân tích và đánh giá thựctrạng nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn thành phố Hà Nội giaiđoạn 2010 - 2015
- Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về thực trạng phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn thành phố Hà Nội, đặc biệt
Trang 15trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh
tế và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao của thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu mới hiệnnay và những năm tiếp, với tác dụng thiết thực và khả thi
- Tác giả hy vọng luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhữngngười làm công tác nghiên cứu, các nhà quản lý quan tâm đến việc hoạchđịnh chính sách và chỉ đạo hoạt động thực tiễn về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao cho các đô thị phát triển Đồng thời, góp phần tìm kiếmnhững giải pháp phù hợp phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Hà Nội nói riêng và các đô thị phát triển trong nước nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao củathành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao của thành phố Hà Nội
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao
và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng từ những năm 60 ở nhiềunước phương Tây và một số nước châu Á Có nhiều cách tiếp cận khácnhau về nguồn nhân lực Bất cứ một tổ chức nào cũng được tạo thành bởicác thành viên là con người hay nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một
tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó.Còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người
Theo Từ điển tiếng Việt, nhân lực có nghĩa là sức người về mặt dùngtrong lao động sản xuất Hoặc “nhân lực nguồn nhân lực chất lượng caochủ yếu là chỉ lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất(bao gồm lao động thể lực và lao động trí lực) cũng tức là sức lao động”[7, tr.1063]
Nếu xét theo quan niệm từ dân số học lao động, nguồn nhân lực baogồm dân số trong độ tuổi lao động, trong đó nhấn mạnh dân số có khảnăng lao động đang làm việc (tức là đang hoạt động kinh tế) và đangkhông có việc làm
Theo thuyết lao động xã hội tiếp cận từ góc độ kinh tế thì nguồnnhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, là nguồn cung cấp sức laođộng của sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bìnhthường; thứ hai, nguồn nhân lực là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã
Trang 17hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi có khả năng tham gia vàohoạt động kinh tế và các hoạt động lao động thuộc lĩnh vực khác.
Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO): nhân lựcđồng nghĩa với lực lượng lao động, là kiến thức và năng lực của toàn bộcuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế -
xã hội trong một cộng đồng Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềmnăng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức
độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực,trí lực, nhân cách con người của một quốc gia đáp ứng với một cơ cấunhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi Năng lực thể chất của conngười là nền tảng và cơ sở để các năng lực trí tuệ và nhân cách phát triển.Tiềm năng về trí lực là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuậthiện có cũng như khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri thứccủa nguồn nhân lực Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thốnglịch sử và nền văn hóa của từng quốc gia, nó được kết tinh trong mỗi conngười và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trưng của conngười lao động trong quốc gia đó
Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và nănglực của con người liên quan đến sự phát triển của mỗi cá nhân và củaquốc gia Sự phát triển quốc gia được xác định bởi các nguồn lực cơ bảnlà: nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật chất Trong
đó, nguồn nhân lực có vai trò quyết định, là "lao động sống" (C Mác), nólàm cho các nguồn lực khác trở nên hữu dụng
Theo lý thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hainghĩa:
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động chosản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó,nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường (trừ
Trang 18những người bị dị tật bẩm sinh) Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là khảnăng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, baogồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vàonền sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quátrình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huyđộng vào quá trình lao động.
Quan điểm của Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là bộphận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồnnhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, đó là tổng số nhữngngười trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của pháp luật và thờigian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khỏe vàtrình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động.Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực, trước hết cần phải hiểu đó lànguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ những người cókhả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đó là yếu
tố chủ động của sản xuất, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình
đó, hướng tới mục tiêu đã chọn Do vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơnthuần là số lượng người lao động đã có và sẽ có việc làm, mà còn bao hàmtổng thể những năng lực lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái
độ và phong cách làm việc ) của những người lao động đó
Nhằm định hướng cho những luận giải về nguồn nhân lực chất lượngcao, có thể đi đến một cách hiểu thống nhất về nguồn nhân lực như sau:Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông quanhững khả năng về thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động Nguồnnhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sựphát triển KT-XH của mọi quốc gia
Xét về hình thức, cách hiểu trên là một cách hiểu về nguồn nhân lựctheo nghĩa hẹp Tuy nhiên, xét về bản chất, đó là cách hiểu nhấn mạnh tớikhả năng của lực lượng lao động - yếu tố quyết định nhất chất lượng nguồn
Trang 19nhân lực Dựa vào đó, ta có thể phân biệt được chất lượng nguồn nhân lực,đồng thời thấy rõ được ý nghĩa của sự phân biệt ấy khi đánh giá nhữngđóng góp quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao vào quá trình sảnxuất, tạo ra sản phẩm cho nền kinh tế và phát triển xã hội.
1.1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Cho đến nay, tại Việt Nam trong quá trình nghiên cứu tìm giải phápphát triển và nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xãhội, đã hình thành nhiều quan điểm về NLCLC như:
Tác giả Lê Văn Hùng cho rằng, "nguồn nhân lực chất lượng cao lànhững người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuấtsắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực sự hữu ích cho công
việc, cho xã hội" [12] Trong định nghĩa này chỉ rõ đặc điểm về trình độ
phát triển và khả năng sáng tạo của NLCLC so với bộ phận còn lại củanhân lực nói chung
Tác giả Hoàng Văn Châu cho rằng, NLCLC là "khái niệm chỉ lựclượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khảnăng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sảnxuất" [3] Ở đây, NLCLC được xác định là bộ phận có trình độ phát triểncao của lực lượng lao động
Theo tác giả Vũ Thị Phương Mai: “Nguồn nhân lực chất lượng cao làmột bộ phận đặc biệt, kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực
Đó là lực lượng lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn
Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năngnhận thức, tiếp thu nhanh những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biếtvận dụng thành tựu khoa học và công nghệ, kinh nghiệm sản xuất vàothực tiễn Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề nghiệp và đemlại năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với nguồnnhân lực lao động phổ thông”
Theo TS Nguyễn Hữu Dũng, nhân lực chất lượng cao: “Nguồn nhân
Trang 20lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động
cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngànhnghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuậtnhất định (trên Đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) có kỹnăng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổinhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, cókhả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đàotạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng vàhiệu quả cao” [4]
Theo tác giả Lê Xuân Bá và Lương Thị Minh Anh nhân lực chất
lượng cao là "lao động được đào tạo, có kỹ năng”.
Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Báo cáo
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2006) về "Nguồn nhân lực chất lượngcao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường" đã chỉ rarằng NLCLC là một khái niệm rộng, được đánh giá thông qua những yếu
tố cấu thành chất lượng nhân lực (thể lực, trí lực, khí lực) trong mối tươngquan so sánh với những chuẩn mực nhất định Những yếu tố tạo thànhnhân lực như thể lực, trình độ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cùng vớiphẩm chất của người lao động được hình thành và phát triển qua hai conđường chủ yếu là giáo dục - đào tạo và thực hành làm việc trong lĩnh vựcsản xuất Trong đó, yếu tố thể lực được hình thành và phát triển bằng conđường di truyền, nuôi dưỡng và luyện tập, rèn luyện thân thể được đánhgiá thông qua các chỉ số phát triển con người; yếu tố trí lực được hìnhthành và phát triển thông qua con đường giáo dục đào tạo, kinh nghiệm vàthực tế lao động sản xuất Căn cứ vào các tiêu chí trên có thể khái quát,nếu các yếu tố về thể lực tương đồng thì NLCLC là những người lao động
đã trải qua thời gian đào tạo nhất định, có cấp bậc đào tạo cao và có trình
độ chuyên môn sâu
Từ các quan điểm nêu trên có thể thấy rằng, các tác giả không những
Trang 21nêu ra quan niệm NLCLC, mà còn cố gắng chỉ rõ những đặc điểm quantrọng của bộ phận nhân lực này Cách tiếp cận và đánh giá như trên là rấtquan trọng, giúp tạo cơ sở khoa học cho việc xác định những tiêu chí cầnthiết trong phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ngàynay Tuy nhiên, trong những quan niệm trên chưa có sự phân biệt rõ rànggiữa bản chất và đặc điểm của NLCLC, do đó chưa tạo ra cơ sở khoa họcđầy đủ để xác định phương hướng, lộ trình phát triển NNLCLC phù hợpvới trình độ phát triển của từng quốc gia cho từng giai đoạn phát triển.Tổng hợp các quan niệm khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu quản trị
kinh doanh, tác giả có thể khái quát: Nguồn nhân lực chất lượng cao là một
bộ phận của nguồn nhân lực được đào tạo một cách cơ bản, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn cao phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ có thể thực hiện tốt các loại hoạt động lao động phức tạp để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Với cách hiểu như trên có thể luận giải nội dung NNLCLC, như sau:
Thứ nhất, sự tích lũy kỹ năng tri thức, năng lực dưới dạng dự trữ
đang tồn tại trong cơ thể người lao động
Thứ hai, sự dự trữ đó được con người sử dụng có mục đích ở lĩnh vực
này hay lĩnh vực khác của sản xuất xã hội
Thứ ba, sử dụng năng lực cao trong hoạt động lao động để tạo ra
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao và đem lại thu nhập cao
Thứ tư, sự gia tăng của thu nhập trở thành nhân tố kích thích đầu tư
của người lao động cho sức khỏe và tri thức Từ đó tích lũy thêm năng lực
và động cơ để tiếp tục lao động tạo ra hiệu quả cao hơn trong điếu kiệnmới
Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao cómối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cáiriêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồnnhân lực của một quốc gia, hay một vùng, một ngành trong đó nguồn nhân
Trang 22lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinhtúy nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thểkhông đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung.
Từ cách hiểu về bản chất của NNLCLC như trên có thể xác địnhnhững đặc điểm cơ bản của NNLCLC trong mối quan hệ so sánh kháiniệm này với bản thân khái niệm nhân lực theo các phương diện như sau:
- Về trình độ phát triển: NNLCLC phải là bộ phận phát triển cao nhất
của nguồn nhân lực, do đó phải đảm bảo ở mức cao các tiêu chí về chấtlượng nguồn nhân lực như:
Một là, về thể lực, NNNLCLC phải đảm bảo thể lực cho mỗi người ở
mức tốt nhất để thực hiện hiệu quả, lâu dài các hoạt động sản xuất kinhdoanh, chịu được các áp lực về tâm lý trước những công việc phức tạp,căng thẳng Như vậy, NNNLCLC phải là những người có đủ sức khỏe,phát triển hài hòa về mặt thể chất và tinh thần Sức khỏe ngày nay khôngchỉ được biểu hiện về tình trạng không có bệnh tật mà còn là sự hoànthiện về mặt thể chất và tinh thần Người lao động có sức khỏe tốt có thểtạo ra năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai Quá trình CNH,HĐH thể hiện việc áp dụng phổ biến các phương pháp sản xuất côngnghiệp, công nghệ hiện đại, do đó đòi hỏi sức khỏe và thể lực cường trángtrên các mặt sau:
+ Có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục kéo dài.+ Có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bịcông nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực vàthế giới
+ Luôn tỉnh táo, sảng khoái tinh thần Kỹ thuật tinh vi đòi hỏi sựchính xác và an toàn cao độ
Hai là, về trí lực, NNLCLC phải là những người lao động có hiểu biết
sâu, rộng, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức đã có và sáng tạo
Trang 23nhanh với những thay đổi nhanh chóng của môi trường và công nghệ sảnxuất Trí tuệ là yếu tố thiết yếu của con người, bởi vì tất cả những gì thúcđẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ, tức là phảithông qua trí tuệ Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ yêucầu người lao động có học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, làm việcchủ động, sử dụng được các công cụ hiện đại Sự yếu kém về trí tuệ là lựccản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người Nănglực, trí tuệ biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học đã có
để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ mới tiên tiến và phù hợp hơn, sựnhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được kỹ thuật công nghiệp hiện đại;khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là kỹnăng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạochuyên môn nghề nghiệp Quá trình CNH, HĐH càng đi vào chiều sâucàng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa cao của nhân lực để đạt năng suấtcao, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần Lực lượng nòng cốtcủa đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề trực tiếp sản xuất hànghóa và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng trong nước và nước ngoài
Do đó phải có trình độ trí tuệ nhất định tiếp thu làm chủ công nghệ tiêntiến Hơn nữa những tri thức khoa học và những kinh nghiệm được tích lũyyêu cầu họ sáng chế ra những loại lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật vàphương pháp sản xuất Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ lao động tríthức: có năng lực sáng tạo, xử lý các mối quan hệ, ứng dụng thành tựukhoa học - công nghệ, tiếp thu tinh hoa văn hóa, văn minh thế giới
Đội ngũ lao động trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năngnhư nghiên cứu, thiết kế, tham mưu, thi hành, ứng dụng, phát triển, đàotạo, chỉ huy, lãnh đạo Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự trong đội ngũlao động là hạt nhân có chất lượng cao, là đội ngũ các nhà khoa học đầuđàn, tiêu biểu cho tinh thần trí tuệ của dân tộc Thông thường NLCLC lànhân lực có trình độ học vấn cao được thể hiện thông qua bằng cấp Tuynhiên, bằng cấp chỉ là một hình thức phản ánh về trình độ và không phải
Trang 24lúc nào cũng phản ánh đúng trình độ học vấn của nhân lực.
Ba là, về trình độ chuyên môn tay nghề, NNLCLC là nhân lực có kỹ
năng tay nghề cao, có khả năng đảm nhận và thực thi những nhiệm vụphức tạp Nhân lực chất lượng cao phải là người thành thạo trong côngviệc, có thể thực hiện một cách chuyên nghiệp công việc và có khả năngnhanh chóng thích nghi với việc chuyển đổi hoạt động trong lao động, vìvậy phải có kiến thức đa ngành cùng với năng lực chủ động sáng tạo.Thuyết “Lao động lành nghề”, từ nghiên cứu của Leontief sau được D.BKeesing của Mỹ mở rộng vào năm 1966, qua phân tích kết quả sản xuấtcủa 14 nước phát triển, Keesing đã chỉ ra rằng: “Sức lao động thành thạotrong một nước công nghiệp là nhân tố sản xuất quan trọng nhất nhưngthành thạo không phải là có thể đạt được trong thời gian ngắn”[7, tr.1324] Như vậy cho ta thấy những quốc gia mong muốn phát triểncông nghiệp cần và phải xây dựng cho nước mình một đội ngũ lao độnglành nghề, lao động thành thạo và đó là một đòi hỏi có tính khách quan,song không thể tạo lập được những lao động thành thạo ấy một cáchnhanh chóng và ngắn hạn
Bốn là, về nhân cách, NNLCLC phải có động cơ, tinh thần kỷ luật lao
động cao, tác phong làm việc chuyên nghiệp, có tinh thần hợp tác, có bảnlĩnh song không bảo thủ, có tính sáng tạo và khả năng đổi mới Nền sảnxuất công nghiệp đòi hỏi ở người lao động hàng loạt năng lực cần thiếtnhư: Có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinhthần trách nhiệm trong việc sử dụng thiết bị máy móc, phương tiện sảnxuất, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương tâmnghề nghiệp , nghĩa là phải có văn hóa lao động công nghiệp Một trongnhững phẩm chất quan trọng nhất của văn hóa lao động công nghiệp là tinhthần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm Vì chỉ có như vậy mớiđáp ứng được lợi ích lâu dài của họ cả với tư cách là người sản xuất vàngười tiêu dùng, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 25Một yêu cầu quan trọng không thể không nói đến của sự phát triểnnhân lực là nâng cao ý thức công dân, lòng yêu nước Những phẩm chất đógiúp con người không bị cám dỗ bởi những mặt trái của nền kinh tế thịtrường, nơi đồng tiền và lợi ích vật chất có thể làm đảo lộn luân thường đạo
lý và chà đạp lên lương tâm và phẩm hạnh của con người
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế nền kinh tế thế giới, người lao độngcòn phải biết chủ động hội nhập quốc tế, cũng có nghĩa là chấp nhận cạnhtranh với thế giới bên ngoài Hội nhập nhưng không hòa tan, biết bảo tồnbản sắc văn hóa dân tộc và nhất là bảo vệ nền độc lập Với điều kiện nhưvậy người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc caocòn có trình độ, trí tuệ ngang tầm khu vực và thế giới
Như vậy NNLCLC của thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc
tế phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, năng lực laođộng và sáng tạo về tính tích cực chính trị - xã hội về đạo đức tình cảmtrong sáng
- Về xu thế phát triển, NNLCLC được hình thành và phát triển nhanh
trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại NNLCLC đượcphát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực, từ nông nghiệp, tới công nghiệp vàdịch vụ Tuy nhiên, theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự nâng caonăng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - côngnghệ, phân công lao động xã hội cũng có xu hướng đẩy nhanh sự phát triểncủa các ngành mới thuộc nhóm các ngành công nghệ cao, các ngành dịch
vụ, do đó NNLCLC cũng có xu hướng phát triển không đều mà tập trungvào các ngành đó
Bên cạnh đó, cách mạng khoa học - công nghệ với sự hình thành củanền kinh tế tri thức làm cho tri thức ngày càng trở thành nguồn lực đượccoi là quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện đại, vòngđời của từng tri thức cụ thể cũng như những sản phẩm khác có xu hướngrút ngắn lại, do đó đã tạo ra nguy cơ "lão hóa" nhanh đối với cả NNLCLC
Trang 26- Vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của NNLCLC
thể hiện trên nhiều phương diện Với tư cách là yếu tố của lực lượng sảnxuất, nằm trong lực lượng sản xuất chủ yếu, NNLCLC là bộ phận tinh túycủa nguồn nhân lực, là lực lượng xung kích trong lãnh đạo điều hành, tiếpnhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụngcông nghệ mới; là hạt nhân trong hoạt động kinh tế, dẫn dắt những bộ phận
có trình độ và năng lực thấp hơn trong quá trình tiếp cận và sử dụng côngnghệ tiến tiến Do đó sự phát triển cùa NNLCLC là yếu tố quyết định đốivới phát triển sản xuất trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệhiện đại
Từ phân tích về bản chất và những đặc điểm chủ yếu của NNLCLC kểtrên có thể khẳng định rằng, sự phát triển của NNLCLC đang trở thành yếu
tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội ngày nay Do đó, đầu tư nhân lực
để phát triển NNNLCLC là yêu cầu cấp thiết đối với mọi quốc gia, đặc biệtđối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Vì vậy, cần nhậnthức rõ: “Đầu tư nhân lực và đầu tư để nâng cao thể lực và trí lực của sứclao động trong xã hội, bao gồm đầu từ vào các sự nghiệp như: giáo dục,bảo vệ sức khỏe, vệ sinh và thuốc men” [7, tr 617] và ngày nay thì “các
nước trên thế giới ngày càng coi trọng đầu tư nhân lực” [7, tr 617] để có
thể nhanh chóng rút ngắn chênh lệch về trình độ phát triển so với các quốcgia khác trên thế giới
1.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển là tổng thể hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo
ra giá trị vật chất, tinh thần phục vụ cho nhu cầu con người và các yêu cầuphát triển giá trị vật chất, tinh thần phục vụ cho nhu cầu phát triển riêng.Phát triển con người khác với phát triển những điều kiện phục vụ conngười Nguồn NNLCLC ở nước ta hiện nay là kết quả của quá trình giáodục - đào tạo gắn với sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH , HĐH đất nước vàhội nhập quốc tế
Trang 27Thực tế lịch sử cho thấy, để sản xuất của cải thỏa mãn nhu cầu xã hộicần có các yếu tố cơ bản là sức lao động và tư liệu sản xuất Sự kết hợpsức lao động với tư liệu sản xuất phù thuộc vào quan hệ sản xuất Hiệnnay, sự gia tăng mức độ phức tạp của công nghệ sản xuất và sự xuất hiệncủa những ngành kinh tế mới - những ngành công nghệ cao, đòi hỏi đốivới sức lao động sử dụng công nghệ cũng tăng thêm Những tiêu chuẩn vềchất lượng người lao động như việc đào tạo chuyên nghiệp với thời giandài, các đặc điểm về tâm lý, nhân cách, tác phong ngày càng được đềcao Những kiến thức được trang bị thông qua đào tạo ban đầu đã khôngcòn đủ để sử dụng hiệu quả những công nghệ hiện đại ngày nay Ngườilao động không những cần có kiến thức, kỹ năng, mà còn phải có động cơ
để phát huy khai thác toàn phần những kiến thức kỹ năng đó Người laođộng phải có lòng yêu nghề, yêu công việc bởi lẽ người chủ sử dụng laođộng không phải chỉ mong đợi người lao động thực hiện một cách giảnđơn những trách nhiệm được giao, mà chủ yếu là sự sáng tạo trong côngviệc Người lao động trong điều kiện mới phải có khả năng tự phát triển.Như vậy, cùng với đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật thì đòi hỏi đối với các
bộ phận nhân lực khác cũng tăng lên Từ đó, giới hạn phát triển của bộphận nhân lực trình độ cao cũng ngày càng mở rộng
Như vậy, sự hình thành NNLCLC là một quá trình khách quan xuấtphát từ sự phát triển khách quan của sản xuất dưới tác động của cáchmạng khoa học - công nghệ Từ đó có thể xác định rõ bản chất củaNNLNCLC là bộ phận nhân lực hình thành và phái triển phù hợp với yêu cầu
của nền sản xuất hiện đại dựa trên cơ sở cách mạng khoa học - công nghệ.
NNLCLC được đánh giá là lực lượng rất cần thiết cho sự phát triển kinh
tế ngày nay đặc biệt trong xu thế hình thành và phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập kinh tế quốc tế [8], [3]
Căn cứ vào đặc điểm đối tượng và phương pháp xem xét nêu trên, cóthể quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình tạolập về số lượng và chất lượng và sử dụng hợp lý năng lực toàn diện của lực
Trang 28lượng lao động trình độ cao vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiệnbản thân mỗi con người.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá phải là những con người phát triển cả về trí lực vàthể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạođức, tình cảm trong sáng Việc xác lập các chuẩn mực, định hướng các giátrị xã hội để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết Chìakhóa vạn năng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phảinâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế
quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt”.
1.1.2 Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và xu thếphát triển kinh tế tri thức, lấy tri thức làm động lực phát triển hiện nay, vaitrò của NNLCLC với tư cách là bộ phận hạt nhân có ý nghĩa quyết địnhchất lượng của tổng thể nhân lực, càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hếtđối với sự phát triển, được thể hiện trên các mặt:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò thúc
đẩy hàng đầu đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung Ngoài
việc gia tăng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn và thúc đẩy sự pháttriển của khoa học công nghệ thì trên phương diện lý luận và cả thực tiễnđều khẳng định phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao là yếu tố quyết định hàng đầu tới quy mô tăng trưởngkinh tế, là nhân tố cơ bản giữ vai trò quyết định trong việc khai thác, sửdụng, tái tạo và phát triển có hiệu quả các nguồn lực khác Nguồn nhân lựcđược xem như là năng lực nội sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hộichính vì thế mà nguồn nhân lực chất lượng cao với yếu tố hàng đầu là chất
Trang 29xám, trí tuệ có thể bồi dưỡng, đào tạo, khai thác và sử dụng một cách hợp
lý, bởi như chúng ta đã biết thì các nguồn lực khác dù nó có nhiều đến đâuthì cũng chỉ là có hạn Nếu chúng ta biết vận dụng nó kết hợp với nguồnnhân lực một cách có hiệu quả, nhất là nguồn nhân nhân lực chất lượng caophát triển thì việc khai thác và sử dụng các nguồn lực khác đạt hiệu quảngày càng cao và trong giá trị hàng hoá, dịch vụ tạo ra, hàm lượng chấtxám chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Xét ở một phương diện khác, vai trò của nguồn nhân lực chất lượngcao đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được biểu hiện như làmột trong những yếu tố quyết định sự thành công của công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Hội Nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VII (tháng
1/1994) đã đưa ra khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa: “Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt độngsản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu biếnsang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với côngnghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra
năng suất xã hội cao” Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Điều đấy được chứng minh ở các nước trong quá trình công nghiệphoá, đã nhập những dây chuyền công nghệ rất tiên tiến nhưng do trình độnguồn nhân lực chưa phát triển, chưa cao nên hiệu quả sử dụng dây chuyềncông nghệ đấy rất thấp và nhiều trường hợp bị ngừng hoạt động, chịu haomòn hữu hình và vô hình Trái lại ở một số nước tuy máy móc chưa hiệnđại nhưng nhờ có sự đầu tư và phát triển về nguồn nhân lực, trình độ cao,
họ đã công nghiệp hoá thành công, chủ động tiếp nhận và chuyển giao côngnghệ để phát triển nhanh Qua đó chúng ta có thể thấy, để có thiết bị, công
Trang 30nghệ hay vốn thì các nước đang phát triển phải tiến hành “nhập” và “vay” ởcác nước phát triển Nhưng thực tế cho thấy nguồn nhân lực thì không thể
có được nhờ con đường nhập khẩu Ở nước ta, chính con người là nguồnnội lực đóng vai trò, một yếu tố quyết định đến sự thành công của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chấtlượng nguồn nhân lực - phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm yếu
tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút
ngắn khoảng cách tụt hậu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh trong tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững.Ngày nay, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
đã đưa đến bước chuyển mới về vai trò nguồn nhân lực Triết lý kinh doanh
“coi công nghệ là trung tâm” được chuyển sang “coi con người là trungtâm”, là động lực, ưu tiên con người có kiến thức, trình độ chuyên môn,động cơ lao động và đề cao vai trò nguồn nhân lực coi đó là nhân tố quyếtđịnh trong sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
Như chúng ta có thể thấy, sự phục hồi nhanh chóng của Tây Âu cùngvới kế hoạch Marshall thời hậu chiến, sự phát triển thần kỳ của nhiều nước
ở khu vực Đông Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và tốc độ tăngtrưởng nhanh chóng của các nước công nghiệp mới, các nước ASEAN vàTrung Quốc đều phần lớn nhờ tập trung phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao Không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế,phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao còn có ý nghĩa giải quyết cácvấn đề xã hội như bất bình đẳng, đói nghèo, các vấn đề về môi trường và sựtiến bộ mọi mặt của xã hội
Như vậy, đối với nước ta, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH vàhội nhập kinh tế quốc tế, muốn có được tốc độ phát triển nhanh, vượt bậcphải tạo ra năng suất lao động cao trong đó vai trò chất xám, trí tuệ chiếm
Trang 31tỷ trọng lớn trong cấu thành sản phẩm Điều đó chỉ có được khi cóNLCLC, phát triển NLCLC tạo ra lợi thế cạnh tranh về nhân lực sẽ lànguồn nội lực, là yếu tố nội sinh và động lực to lớn để phát triển đất nước,đảm bảo đi tắt, đón đầu, chống nguy cơ tụt hậu, rút ngắn được khoảngcách về sự phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới Cóthể nói rằng, phát triển NNLCLC trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vàhội nhập kinh tế quốc tế là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi các mụctiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những thậpniên đầu của thế kỷ XXI.
1.2 Nội dung chủ yếu và các yếu tố tác động tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.1 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình tạo ra sự chuyểnbiến cả về số lượng và chất lượng NNLCLC Nguồn nhân lực chất lượngcao không phải tự nhiên có, mà được hình thành và phát triển một cách chủđộng, tích cực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước vàphục vụ sự phát triển của chiến lược ấy Sự chuyển biến này phải gắn vàphải tương xứng với những yêu cầu của quá trình CNH, HĐH Phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao cần một quá trình với các nhiệm vụ gắn bómật thiết với nhau: (1) quá trình giáo dục – đào tạo và bồi dưỡng để pháttriển từng người và cả nguồn nhân lực chất lượng cao; (2) quá trình sửdụng, quản lý và bổ sung những nội dung mới trong nguồn nhân lực chấtlượng cao theo yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới; (3) quá trình khơi dậy,huy động phát huy vai trò, sức mạnh nguồn nhân lực này trong thực tiễn
Ba quá trình này diễn ra đồng thời trong mối quan hệ tác động biện chứngsuốt quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nước ta hiện nay,phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang hướng tập trung vào pháttriển đội ngũ cán bộ, chuyên gia, nhà quản lý, kinh doanh, lao động giỏi lànhnghề để gây dựng lực lượng “đầu tàu”, “mũi nhọn” trong nguồn nhân lực,cống hiến nhiều nhất, tốt nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 32Phát triển NNLCLC đòi hỏi đảm bảo sự toàn diện trên các mặt: Sốlượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực Cụ thể đáp ứng những yêu cầu sau:
1.2.1.1 Phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ, nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội đất nước, từng lĩnh vực, địa phương để xác định phát triển
về số lượng cho phù hợp; khắc phục tình trạng có lao động mà không sửdụng, thiếu lao động không đáp ứng được yêu cầu; thừa lao động ở lĩnhvực này nhưng thiếu ở lĩnh vực khác gây lãng phí; chất lượng lao động cònhạn chế không đáp ứng tốt cho yêu cầu
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước cần phải cómột lực lượng lao động được đào tạo tốt, có đủ kiến thức và kỹ năng cầnthiết cho ngành mình làm việc, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹnăng, thích nghi được với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và côngnghệ Nguồn nhân lực chất lượng cao cho CNH, HĐH chính là lực lượnglao động xã hội có khả năng cung cấp để thực hiện được những nội dung vànhiệm vụ của CNH, HĐH Nếu số lượng không tương xứng với yêu cầucủa sự phát triển thì không đảm bảo cho quá trình CNH, HĐH được tiếnhành một cách thuận lợi
Số lượng NNLCLC cho CNH, HĐH phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưtrình độ kỹ thuật, công cụ trang bị cho người lao động, trình độ chuyên mônnghiệp vụ, ý thức của người lao động và độ dài ngày lao động trong từngthời kỳ, từng giai đoạn khác nhau Do đó, yêu cầu về số lượng NNLCLCcũng chỉ được xác định một cách tương đối, không có một công thức chung
Trang 33đào tạo, giới tính mà phân loại theo tiêu chí mới – kinh tế tri thức bao gồm:Lao động thông tin và giao động phi thông tin
- Lao động thông tin được gồm:
+Lao động tri thức: là lao động tìm kiếm tri thức, ý tưởng mới và thôngtin đó được mã hóa
+ Lao động dự liệu: là lao động của các thư ký, các kỹ thuật viên làmviệc với các thông tin do lao động tri thức tạo ra và đã được mã hóa
- Lao động phi thông tin: là các lao động dịch vụ, sản xuất hàng hóa
Cả hai loại lao động nêu trên, trong điều kiện kinh tế tri thức, kinh tếmạng toàn cầu, công nghệ hiện đại đều đòi hỏi NNLCLC
Muốn phát triển NNLCLC đáp ứng quá trình CNH, HĐH trước tiênphải gia tăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, lao động quản lý vàlao động lành nghề Lực lượng này phải chiếm tỷ trọng vượt trội trong tổnglực lượng lao động quốc gia Trong đó phải đặc biệt chú trọng đến việcphát triển về số lượng lao động tri thức, bởi đây là lực lượng nòng cốt tiếpthu, ứng dụng và sáng tạo tri thức khoa học công nghệ hiện đại để đưa nềnkinh tế đất nước thích ứng với trình độ phát triển của thế giới Việc gia tăng
số lượng NNLCLC là điều kiện cần để phát triển lực lượng này
Ở nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH, sự thay thế lao động thủcông bằng lao động kỹ thuật ở các mức độ khác nhau Quá trình này tất yêu
sẽ dẫn đến dôi ra lao động không có kỹ thuật hoặc nghiệp vụ chuyên mônthấp, song lại thiếu số lượng lao động nghiệp vụ có chuyên môn cao, kỹthuật tiên tiến Đây là vấn đề nan giải đặt ra trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội Để giải quyết được việc làm cho người lao động, cùng với quátrình đưa kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào, chúng ta phải gắn việc mở rộngquy mô sản xuất với phát triển ngành dịch vụ và thực hiện phân công lạilao động xã hội
Trang 341.2.1.2 Phát triển về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Nói đến chất lượng NNLCLC là nói đến thể lực, trí lực, phẩm chất vàphong cách làm việc của người lao động Đây là yêu tố quyết định đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như quá trình CNH, HĐH đất nước
Về thể lực của NNLCLC: Đó là điều kiện tiên quyết để duy trì và pháttriển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thựctiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Sẽ không có một trí tuệ minhmẫn, dẻo dai trong một cơ thể ốm yếu, bệnh hoạn mà chỉ có thể có trongmột cơ thể cường tráng, tràn trề sinh lực Thể lực của NNLCLC được biểuhiện ở: chiều cao, trọng lượng, tuổi thọ được hình thành, duy trì, phát triểnbởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khoẻ, nòi giống…, nó phụthuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phân phối thu nhập và chính sách xãhội ở mỗi quốc gia
Ở nước ta, thể lực của nguồn nhân lực rất thấp so với các nước trongkhu vực cả về cân nặng lẫn chiều cao, nguyên nhân cơ bản bắt nguồn từtrình độ phát triển kinh tế còn chậm nên ảnh hưởng đến chế độ cung cấpchất dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc sức khoẻ của con người Việt Nam.Bên cạnh đó, thể lực còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tinh thần, sự rèn luyệncủa mỗi người và toàn dân Như vậy chất lượng nguồn nhân lực được duytrì, phát triển bằng vật chất, tinh thần, tư tưởng, thái độ của chính conngười, trong đó nhu cầu vật chất phải được đảm bảo ở mức độ cần thiết để
bù đắp sự hao phí năng lượng của cơ thể con người Nâng cao sức khoẻ chongười lao động để tăng chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu rất quantrọng hiện nay ở nước ta để thực hiện CNH, HĐH
Trí lực của NNLCLC được biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độchuyên môn, tay nghề, phẩm chất tốt đẹp của người dân yêu nước, tâm hồntrong sáng, biết cảm nhận cái đẹp, có văn hoá lao động công nghiệp.Những phẩm chất này của NNLCLC thể hiện ở sự sáng tạo, độ nhạy cảm,tính linh hoạt sắc bén, khả năng thích ứng nhanh để học tập, áp dụng làm
Trang 35chủ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại Đó là sự nhận biết hiện thựckhách quan, khả năng chế ngự và chinh phục tự nhiên, phục vụ yêu cầutrong cuộc sống và đem lại lợi ích cho con người Trình độ trí lực còn đượcthể hiện ở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ chuyên môn nghề nghiệp,năng lực hoạch định và vận dụng đường lối chính sách, năng lực lựa chọngiải pháp kinh tế và thực hiện phát triển kinh tế.
Thước đo để đánh giá trình độ từng loại cán bộ trong nguồn nhân lựcnói chung và nguồn nhân lực CLC nói riêng cũng phải phù hợp với giaiđoạn CNH, HĐH đất nước Trước hết cần xây dựng tiêu thức chung nhằmchuẩn hoá trình độ nguồn nhân lực CLC được đào tạo thống nhất giữa cácngành, các lĩnh vực, đặc biệt là đội ngũ công chức Từng bước nâng dầntrình độ của từng loại nhân lực lên ngang tầm với trình độ chuẩn của cácnước trong khu vực và trên thế giới ở những tiêu thức cơ bản Đào tạo phảigắn với nhu cầu thực tiễn, nhu cầu nhân lực cần sử dụng cả về cơ cấu trình
độ và cơ cấu ngành để giải quyết sự mất cân đối "rất thiếu nhưng lại rấtthừa" nhân lực hiện nay ở nước ta, sao cho “để không lãng phí nguồn nhânlực chất lượng cao” [20]
Phong cách làm việc của người lao động thể hiện ở đạo đức, tácphong, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức chấp hành luật pháp, văn hoá ứngxử Đạo đức là thái độ chính trị của cá nhân trước tình hình của đất nước,
là phẩm chất công minh, chính trực, liêm khiết, lấy pháp luật và các quyphạm xã hội làm thước đo cho hành vi của chính mình Nó là thái độ chấphành tuân thủ những đạo đức chuẩn mực chung, những luân thường đạo lý
và quy tắc chung của cộng đồng Đồng thời còn thể hiện quy phạm về nghềnghiệp, có lương tâm nghề nghiệp, biết coi trọng thành quả lao động và tônvinh các nghề nghiệp trong xã hội Bác Hồ đã từng dạy: Đức - Tài là haiyếu tố hàng đầu của con người Có tài mà không có đức cũng vô dụng Đức
là chuẩn mực, quy phạm của xã hội, cộng đồng để điều chỉnh quan hệ vàhành vi của cá nhân, tập thể
Trang 36Về văn hoá của NNLCLC: Văn hoá là cơ sở để để phát triển trí tuệ,đạo đức, nhân cách của con người Việt Nam "Con người Việt Nam là sựkết tinh của nền văn hoá Việt Nam" Yêu cầu về văn hoá đối với nguồnnhân lực được thể hiện ở tư tưởng của mỗi con người Tư tưởng đúng là cơ
sở hình thành lối sống đúng Lối sống của người Việt Nam là mang đậmbản sắc văn hoá của con người Việt Nam, là tôn trọng tình nghĩa, đạo lý,thân ái, luôn hướng về cội nguồn không cơ hội, thực dụng và chạy theolối sống ích kỷ cá nhân
1.2.1.3 Phát triển về cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển về cơ cấu nhân lực chất lượng cao là nhằm tạo nên tínhchỉnh thể nguồn nhân lực chất lượng cao, ở lĩnh vực nào, ngành nào, địaphương, đơn vị nào cũng có, đáp ứng cao nhất yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của từng lĩnh vực, địa phương và cả nước Đó là việc làm sao có cơcấu hợp lý trên các lĩnh vực, địa phương, để phát huy cao nhất nguồn lựcchất lượng cao và sức mạnh từng người trên từng lĩnh vực, ngành nghề,vùng miền
Trong mỗi giai đoạn của CNH, HĐH đều có yêu cầu cơ cấu NNLCLCphải phù hợp Cơ cấu NNLCLC được xét theo các mặt chủ yếu, như: cơcấu theo trình độ, cơ cấu theo ngành nghề, cơ cấu theo vùng
Cơ cấu trình độ NNLCLC gồm tỷ lệ lao động đã được đào tạo tronglực lượng lao động (tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, công nhân kỹ thuật trong lực lượng lao động được đào tạo) Yêucầu phát triển nhanh ngành giáo dục và đào tạo trong đó thúc đẩy nhanhviệc phát triển giáo dục đại học là một chiến lược cần thực hiện ở nước tahiện nay để bắt kịp xu hướng của thời đại ngày nay Vì vậy cần phải có mộtđội ngũ giảng viên tương ứng để thực hiện quá trình phát triển giáo dục đạihọc Lực lượng lao động tri thức cần được thu hút để chuyển dịch sangngành này Đây sẽ là lực lượng sáng tạo ra những người sáng tạo phục vụcho quá trình CNH, HĐH đất nước
Trang 37Ở nước ta, theo kết quả điều tra lao động, việc làm năm 2013, tỷ lệ laođộng đang làm việc đã qua đào tạo có 17,9%, trong đó lực lượng lao động
đã qua đào tạo từ sơ cấp và chứng chỉ nghề là 5,3%; Trung cấp là 3,7%;Cao đẳng là 2,0%; Đại học trở lên là 6,9% Tỷ lệ lao động chưa bao giờ đihọc chiếm 3,8% trong tổng số lao động cả nước và với 30,7% lao động tốtnghiệp trung học cơ sở [Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo Điều tra Lao
động việc làm năm 2013, Nhà xuất bản: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư] Hơn nữa, cơ cấu đào tạo của lực lượng lao động còn nhiều bấthợp lý: Số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹthuật còn quá thiếu so với nhu cầu
Về cơ cấu ngành nghề: Trong thời gian qua nhằm chuyển dịch cơ cấukinh tế và cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ lệ giá trị sản phẩm nôngnghiệp, tăng giá trị sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP Cơ cấulao động theo ngành chuyển dịch theo hướng lao động nông nghiệp giảmnhanh; lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên trong tổng lực lượng laođộng, trong đó lao động dịch vụ tăng với tốc độ nhanh nhất Cơ cấu kinh tếtiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH Tỉ trọng công nghiệp và dịch
vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm 2010 lên 82,5% năm 2015 Tỉ trọng laođộng nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm từ 48,4% xuống 45%.Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2011-2015 đạt bìnhquân 28,94%/năm Năng suất lao động tăng bình quân 3,8%/năm [Bộ kếhoạch và đầu tư (2016) Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 -2015] Sự thay đổi cơ cấu theo ngành là cơ sở, là căn cứ để dự đoán nhucầu đào tạo của cơ cấu NNLCLC nhằm phù hợp hơn với yêu cầu nguồn lựccho CNH, HĐH đất nước trong từng giai đoạn
1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần được hiểu một cách toàndiện với việc phát triển cả ba yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu Đại hội
XI của Đảng nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực “Đặc biệt coi trọng phát
Trang 38triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trịdoanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầuđàn” [28] Căn cứ vào quan điểm, định hướng của Đảng và tình hình nguồnnhân lực hiện nay gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, luận văn xemxét nguồn nhân lực chất lượng cao theo các nhóm lực lượng: Cán bộ lãnhđạo, quản lý giỏi; đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi; người laođộng lành nghề; cán bộ khoa học, công nghệ.
Về định lượng:
Nguồn nhân lực nói chung cần được xác định dựa trên quy mô dân số,
cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực và vùng lãnh thổcủa dân số Theo đó, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm cả số lượngtuyệt đối, tỷ lệ tương đối những người có mặt bằng học vấn, trí tuệ, khả nănglao động, cả lao động trí óc và lao động chân tay cao hơn mặt bằng nguồnnhân lực chung của cả nước; định lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phảiphù hợp với quy mô của nguồn nhân lực đất nước, khu vực, vùng, miền
Trang 39độ chuyên môn kỹ thuật như: trên đại học, đại học và cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật có bằng, công nhân kỹ thuật khôngbằng Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật của người lao động là tiêuchí có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực; đối vớinguồn nhân lực chất lượng cao, tiêu chí này phải đạt cao hơn mức trungbình của nguồn nhân lực.
Có phẩm chất, năng lực thực tế tốt, sáng tạo, linh hoạt, có khả năng làm nòng cốt, lôi kéo và dẫn dắt tập thể, cộng đồng trong các hoạt động lao động sản xuất, khoa học và chính trị, xã hội.
Tiêu chí về năng lực, phẩm chất là tiêu chí rất quan trọng, bao gồm:tập quán, phong tục, thói quen, phong cách, đạo đức, lối sống, truyềnthống, văn hóa dân tộc, trong đó trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năngsáng tạo, tính linh hoạt thích ứng với sự biến động của tình hình, của nghềnghiệp, là một tiêu chí quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực.Tiêu chí này còn nói lên vai trò, tầm ảnh hưởng của nguồn nhân lực chấtlượng cao trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, thể hiện ở việc họ làm nòngcốt, dẫn dắt tập thể, cộng đồng trong các hoạt động lao động sản xuất,khoa học và chính trị, xã hội
Có sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Chỉ số phát triển con người (HDI) là một chỉ số quan trọng để đánhgiá nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng
Trang 40Tiêu chí về tình trạng sức khỏe của con người, của dân cư, đó là trạng tháithoái mái về thể chất và tinh thần, xã hội của con người Các tiêu chí cơbản phản ánh sức khỏe là thể lực (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ.Người lao động, chuyên gia giỏi, cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, lãnh đạo
có sức khỏe tốt, thì sẽ mang lại lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn nhờ huyđộng sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai, tập trung trí tuệ cao trong công việc
Có cơ cấu hợp lý theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là tiêu chí nói về toàn bộ nguồn nhân lực chất lượng cao Toàn
bộ cơ cấu về độ tuổi, giới tính; về thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo; vềtrình độ học vấn; trình độ chuyên môn nghề nghiệp; về vùng miền, cáclĩnh vực hoạt động phản ánh tính hợp lý và sức mạnh của nguồn nhân lựcchất lượng cao trong một quốc gia, một ngành, lĩnh vực trong giai đoạnlịch sử nhất định
Các tiêu chí về định lượng và định tính nêu trên quan hệ chặt chẽ vớinhau, nói lên chất lượng toàn diện và cao hơn của nguồn nhân lực này sovới số còn lại của nguồn nhân lực đất nước Tuy nhiên trong thực tiễn, cácdấu hiệu tiêu chí trên cần phải được xem xét linh hoạt, cụ thể đối với từngloại nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực cụ thể, để xác định ai là ngườinằm trong nguồn nhân lực chất lượng cao, tránh phiến diện, máy móc
1.2.3 Các yếu tố tác động tới quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.3.1.Yêu cầu của phát triển kinh tế- xã hội
Sự hình thành và phát triển NNLCLC ở mỗi quốc gia phụ thuộc vàotrình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Mối quan hệ phụ thuộc và tácđộng qua lại này thể hiện ở chỗ, quốc gia nào có trình độ phát triển kinh tếcàng cao thì số lượng NLCLC càng lớn và trình độ càng cao
GDP bình quân đầu người là một trong những tiêu chí để đánh giátrình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trong so sánh giữa các nướccho thấy, nhóm nước có GDP bình quân đầu người cao thì thường có các