Một động cơ điện truyền quay cho trục dẫn động, trục này liên kết với trục quay đầu ra nhờ khớp nối và các bộ truyền bánh răng.. Những đặc trưng phổ biến trong các hệ thống điều khiển cơ
Trang 1Bằng cách biểu diễn này, mỗi ô của bìa Karnaugh tượng ứng với một tổ hợp giá trị các biến của hàm mà nó biểu diễn Các số ghi khong đậm ở góc trên-trái của mỗi ô chỉ thứ tự của ô tương ứng với thứ tự hàng của bảng trạng thái Các con số ghỉ đậm ở giữa mỗi 6 cho biết giá trị của hàm tại tổ hợp biến tương ứng Các ô có gid tri logic 1 ở bìa Karnaugh tương ứng với các minterm trong biểu thức logic của hàm Bảng trạng thái, biểu thức logic và bìa Karnaugh là ba đạng biểu
diễn khác nhau của một hàm logic Từ đạng biểu diễn này hoàn toàn
có thể chuyển sang đạng biểu điễn khác một cách để dàng uu ý: Số thứ tự của các hàng trong bảng trạng thái và các ô trong bia Karnaugh được tính theo quy ước biến A có trọng số lớn nhất
Một bìa Karnaugh cho hàm hai biến cũng có thể có dạng như ở hình 5.2a, ở đó các ô được sắp xếp trên cùng một hàng
Bìa Karnaugh cho hàm ba biến được vẽ trên hình 5.2b và bìa cho hàm bốn biến trên hình 5.2c
c AB] 00 | 01 | 11 | 10
Trang 2- Hai 6 cạnh nhau của bìa theo hàng ngang hoặc hàng dọc tương ứng với hai minterm trong đó có một biến nhận các giá trị đảo của nhau, còn tất cả các biến khác đều giống nhau
- Hai ô ở na trái và rìa phải trên cùng một hàng cũng như hai 6 trên cùng và đưới cùng của cùng một cột cũng được coi là gần nhau theo nghĩa như vậy
- Do tinh chất của hai ô gần nhau chí khác nhau ở một biến, nên có thể nhóm bai minterm cạnh nhau trong bìa Karnaugh để có được một số hạng duy nhất với một biến ít hơn so với các minterm
Khi số biến n của hàm tăng lên, cách biểu diễn bằng bìa sẽ không còn thích hợp vì khi đó số ô (= 2") sẽ rất lớn, và việc phân biệt các ô gần nhau sẽ rất khó khăn
5.2 Rút gọn các biểu thức logic
Có thể rút gọn các biểu thức logic dựa theo các quy tắc của đại số Boole Một phương pháp khác để rút gọn các biểu thức là sử dụng bìa Karaugh Phương pháp rút gọn biểu thức logic bằng bìa Karraugh- đựa trên việc nhóm hai ô cạnh nhau trong bìa để giảm một số hạng và một biến tham gia vào số hạng đó
Ví dự > Rit gon hàm Y = f(A, B, C) đã cho ở mục 4.3.1
88
Trang 3- Để thực hiện hàm này bây giờ ta chỉ cần một cổng OR ba lối vào và
ba cổng AND, mỗi cổng hai lối vào Không cần các cổng NOT
Nhận xế: Trong ví dụ này, để rút gọn hàm y, số hạng m; được sử đụng tới ba lần Điều đó không làm ảnh hưởng gì tới hàm Y, vì m; + m; + m;
=m;
5.3, Hàm với những “điểm? không xác định
Một hàm logic được xác định bằng cách chỉ ra giá trị logic của nó (0 hoặc 1) ở tất cả các tổ hợp biến Thực tế, nhiều khi một hàm logic f được cho bởi giá trị của nó chỉ ở một số (chứ không phải tất cả) các tổ hợp biến của nó Người ta không quan tâm tới các tổ hợp biến còn lại
và gọi đó là các tổ hop “don’t care” Giá trị của hàm ở các tổ hợp biến
“don’t care” 1a khong xdc dinh, do:
89
Trang 4- không cần quan tâm xem hàm f có giá trị nào ở các tổ hợp biến đó;
- biết chắc rằng các tổ hợp biến đó không bao giờ xuất hiện
Ví dụ, hàm f (A, B, C, D) nhận giá trị I ở các tổ hợp biến thứ 0, 2, 4,
6, 8 nhận giá trị Ö tại các tổ hợp thứ 1, 3, 5, 7, 9 và không xác định ở các tổ hợp còn lại Dạng chuẩn tổng của hàm như vậy là:
F(A, B,C D) = Em(0, 2, 4, 6, 8) + Ed(10, 11, 12, 13, £4, 15) Bìa Karraugh- của hàm f đó được cho trên hình 5.4 Trong bìa Karnaugh này các ö ứng với các minterm của hàm f được đánh số 1, các ô ứng với các tổ hợp “đon't care” được đánh dấu x
Tuy nhiên, khi rút gọn biểu thức bằng bìa Karnaugh dạng này, các
ô đánh dấu x được coi như có giá trị I nếu điều đó có lợi, nếu không thì chúng được coi như có giá trị 0
Hàm f trên sau khi rút gọn có chú ý đến các tổ hợp bién “don't care” sé ]a:
Y=D
90
Trang 55,4 Một vài điều lưu ý khi sử dụng bìa Karnaueh
4.4.1 Hàm 4ã cho không ở dạng chuẩn
Vi du: Cho ham f(A, B,C, D)= ABCD+BCD+AC+A
Bìa Karnaugh của hàm có dạng như trên bình 5.5 (Chú ý cách chuyển các số hạng tích không chứa đủ bốn biến)
3.4.2 Quy tắc sử dụng bia Karnaugh
Biểu thức rút gọn của hàm logic biểu diễn bằng bìa Karnaugh thường được viết dưới dạng tổng các tích Để có được biểu thức tối thiểu thực sự, khi rút gọn hàm bằng bìa Karnaugh cần thực hiện các bước sau:
1 Viết biểu thức tích logic cho những ô không thể nhóm được với các
ô khác
2 Tìm những ô có thể kết hợp với các ô khác thành nhóm hai ô theo một cách duy nhất và viết biểu thức tích logic cho chúng Những ô có thể kết hợp thành nhóm hai ö theo các cách khác nhau tạm thời để lại
91
Trang 63 Tiến hành tương tự như vậy cho các nhóm 4 6, 8 6 ,
4 Sau khi đã tiến hành các bước nói trên, nếu vẫn còn các ö chưa được tính đến thì có thể nhóm chúng với các ô khác cho đến khi tính hết các
ô chứa 1 trên bìa Karnaugh
3.4.3 Kết luận
~ Biểu điễn hàm bằng bìa Karnaugh, bảng trạng thái và các dạng
biểu thức logic là tương đương nhau;
- Với một bìa Karnaugh n biến, việc rút gọn hàm với m (m = 2', ie [0,n-1}) ô cạnh nhau sẽ tạo ra một số hạng dạng tích của n- ¡ biến Số các số hạng cũng như các biến tham gia vào mỗi số hạng càng giảm khi càng có nhiều 6 cạnh nhau được kết hợp Nếu m=2n, bìa Karnaugh biểu diễn hàm đơn giản nhất, hang s6 Y=1;
- Biểu thức được rút gọn bằng bìa Karnaugh thường được viết dưới
(American National Standards Institute)
92
Trang 7Ngoài ra, ]EEE' (Institute of Electrical and Electronic Engineers) cũng giới thiệu bộ chuẩn các ký hiệu logic và được chấp nhận sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học kỹ thuật, cũng như trong các sơ đồ thiết bị số
Bộ chuẩn của IEEE chấp nhận hai kiểu ký hiệu khác nhau có thể sử dung để mô tả các cổng logic và các sơ đồ mạch điện tử số Hai kiểu
ký hiệu này được coi là bình đẳng trong việc mô tả các sơ đồ mạch logic
Kiểu thứ nhất sử dụng các ký hiệu có phân biệt theo hình đạng
như đã mô tả ở trên
Kiểu thứ hai sử dụng các ký hiệu có hình chữ nhật cho mọi loại cổng logic, Chức năng logic được mô tả bằng ký hiệu đặt trong hình chữ nhật đó
Dưới day 1a ky hiệu các cổng logic sử dụng các 6 hình chữ nhật của IEEE:
Trang 8Phần thứ hai
NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KỸ THUẬT
ĐIỀU KHIỂN, ĐIỀU CHỈNH CÁC HỆ CƠ KHÍ -
THUY LUC VA KHi NEN
Chuong I
HE THONG DIEU KHIEN BANG CO KHi
1.1 Khai niém chung
Các phần tử điều khiển có nguyên tắc tác dụng cơ khí được sử dụng rất nhiều trong các thiết bị vận chuyển và máy móc gia công vật liệu Bên cạnh các phần tử khí nén, thuỷ lực, điện và điện tử, chúng là một bệ phận quan trọng của hệ thống điều khiển chung Trong khi việc nối ghép cho những điều kiện mạch phức tạp thường được thực hiện bằng các phần tử khí nén hoặc điện tử có kích thước nhỏ bế thì việc tạo ra những tiến trình làm việc hay các chuyển động thường phải dùng các phần tử cơ khí
Tín hiệu điều khiến
Trang 9
Kết cấu của một hệ thống điều khiển cơ khí được minh hoạ qua ví dụ trên hình 1.1 Một động cơ điện truyền quay cho trục dẫn động, trục này liên kết với trục quay đầu ra nhờ khớp nối và các bộ truyền bánh răng Khớp nối đóng vai trò là một khâu điều chỉnh và nhận tín hiệu điều khiển qua một tay đòn mà đầu mút bên trên của nó có con lăn ăn khớp với rãnh của cam thùng lắp trên trục điều khiển Trục điều khiển này cũng được truyền quay từ động cơ qua các bộ bánh rãng giảm tốc Chu trình cấp tín hiệu tác động vào khớp nối được xác định bởi biên dạng của rãnh cam thùng
động gián — đoạn Thing đểu Không đều ;
Bộ truyền chữ thập vit-dai ée-bi Cơ cấu cam 2
Hình 1.2 Sơ đồ điều khiển cơ khí Khi rãnh cam quay dân con lăn địch chuyển sang phải, khớp nối trục nhờ tay đồn tác động sẽ đóng lại và trực truyền động chính sẽ quay (khởi động); nếu con lăn dịch chuyển sang trái, khớp nối trục mở ra vä trục truyền động chính sẽ đứng yên (dừng) Trình tự tác động của các tín hiệu khởi động
96
Trang 10và đừng được lặp lại sau mỗi vòng quay của trục điều khiển, trong trường hợp nay đã hình thành một chương trình điều khiển
Hệ thống điều khiển chung bao gồm: trục điều khiển, khớp nối, cam thùng, tay đồn và lò xo Còn trục truyền động chính là đối tượng dược điều khiển
Những đặc trưng phổ biến trong các hệ thống điều khiển cơ khí có thể
tổng kết như ở hình 1.2: Năng lượng truyền dẫn được cấp vào (chắng hạn
từ một động cơ điện) đi tới các bộ truyền động điều chỉnh được Nhờ vậy vòng quay, chiéu quay và thời gian duy trì (khởi động - dừng) có thể được điều khiển với các tín hiệu cơ khí, khí nén, thuỷ lực hoặc tín hiệu
điện Trong những bộ truyền động phân cấp tốc độ, việc cấp tín hiệu thường dựa vào các khớp nối Còn trong các bộ truyền động vô cấp tốc độ
sẽ phải dùng các thiết bị điều khiển đặc biệt
mà
Trên các trục truyền mang các bộ truyền động có khả năng điều chỉnh, đều sản có một nguồn năng lượng truyền quay điều khiển được Năng lượng này có thể được sử dụng để trực tiếp tạo ra chuyển động quay kế tiếp Tuy nhiên, nếu chuyển động quay cẩn phải được biến đổi thành
chuyển động thẳng, ví dụ chuyển động chạy đao cho xe dao máy tiên, thì
phải sử dựng một bộ truyền thanh răng - bánh răng Nếu cần có các truyền động thẳng chính xác cao, ít ma sát, thì phải trang bị bộ truyền vít
me - đai ốc - bị để tạo ra những chuyển động thẳng đều
Nếu chuyến động thẳng lại diễn ra không đều, chẳng hạn để tách riêng
một chuyến động điều chỉnh nhanh từ một chuyển động công tác chậm, người ta dùng các bộ truyền động theo biên dạng (cam hoặc dưỡng) Các
bộ truyền động theo biên dạng còn được dòng vào việc cấp tín hiệu Chuyển động gián đoạn (từng bước, không liên tục) thường cần đến trong các thiết bị vận chuyển Ví dụ, một bàn quay không liên tục của một cỗ máy dập, sau mỗi hành trình công tác của chày đập muốn đưa chỉ tiết tiếp theo vào vị trí, nó phải quay một góc nhất định rồi dừng lại trong một thời gian cần thiết Những chuyển động như thế có thể tạo ra nhờ việc
92
Trang 11chu ky hoá một chuyển động liên tục bằng một bộ truyền động theo chu
kỳ (đĩa Mantic, bộ truyền chữ thập)
1.2 Các hệ thống truyền động điều chỉnh được bằng cơ khí
Trong các hệ thống truyền động điều chỉnh được bằng cơ khí, trước hết thường là số vòng quay và chiều quay được điều khiển Công suất đầu vào trên trực dẫn động các bộ truyền trong nhiều trường hợp đều
là hằng số, bởi vậy với sự biến đổi số vòng quay thì mômen quay cũng thay đổi theo Trong diéu kiện công suất bing hing, momen quay giảm dần khi số vòng quay tăng lên theo một quan hệ hyperbol:
M * l/n (hình 1.3) Trong những hệ thống truyền động vô cấp tốc độ
và không có hiệu ứng trượt thì đường đặc tính này là một đường cong liên tục trơn Trái lại ở các hệ thống truyền động phân cấp, tương ứng với số cấp tốc độ, đường đặc tính chỉ đạt được một vài điểm trên đường hyperbol
0 1000
Hình 1.3 Sự phụ thuộc của mômen quay vào tốc độ quay
trong các chuyển động
98
Trang 12Hiệu ứng trượt được hiểu là sự trượt giữa các phân tử truyền dẫn (số vòng quay n,) và phần tử bị dẫn (số vòng quay n;) ví dụ, xảy ra ở các khớp trượt Độ trượt s được tính theo phân trăm của số vòng quay trục dẫn:
s=.RL="2 I0o%
ny Truyền động phân cấp được chia thành truyền động puli phân cấp, trong đó việc truyền lực được thực hiện bởi dây đai và các bộ puli của chúng, và truyền động bánh răng phân cấp tốc độ, trong đó việc truyền lực xảy ra trực tiếp qua các bánh răng ăn khớp với nhau
Việc điều khiển số vòng quay và chiều quay trong các truyền động phân cấp được thực hiện một cách tự động nhờ các khớp nối và cơ cấu phanh
Pali dai thang
Hình 1.4 Điều khiển số vòng quay của
một bộ truyền phân cấp
99
Trang 13Bằng bộ truyền dai thang (hình 1.4), có thể điều khiển được hai số vòng quay mà không phải thay đổi vị trí day dai Việc cấp tín hiệu đổi s vòng quay thực hiện bằng điện với hai khớp nối trục điện từ và một bộ phanh
Khi khớp nối trục điện từ 2 qua công tắc được nối với mạch điện, thì đường truyền động đi qua puli dai số #: hành trình chạy chậm của hệ truyền đẫn được điều khiển Đồng thời khớp nối trục J phải mở và puli đai
số 3 quay tự do Khi đảo mạch sang hành trình chạy nhanh, khớp nối trục điện từ 2 sẽ mở, bộ phanh được tác dong dé ham trục truyền động đầu ra dừng lại
Sau đó khớp nối trục / sẽ đóng và trục truyền động đầu ra quay theo hành trình chạy nhanh cùng với puli đai số 3
Trong hệ truyền động bánh răng phân cấp tốc độ điều khiển bằng cơ khí (hình 1.5) có thể điều khiển được hai số vòng quay theo cả hai chiều quay Một động cơ điện truyền dẫn cho trục đầu vào nằm dưới Để có hành trình chạy nhanh của trục chính công tác, khớp nối K; phải đóng Các vỏ ngoài của hai khớp nối K, va K, lien hệ với trục đầu vào phía dưới thông qua các đĩa xích và dây xích
Để có hành trình chạy chậm, đường truyền động sẽ trích từ trục đầu Vào bên trên, là trục nhận quay gián tiếp từ trục đầu vào phía dưới thông qua một cập bánh răng giảm tốc nên quay chậm hơn Đó là đường truyền
đi qua khớp nối trục K, và hai bộ truyền xích liên kết với vỏ ngoài của các khớp nối trục tương ứng là K, và K, Thời điểm đóng mạch đế cấp tín hiệu
cơ khí tác động vào các khớp nối trục K, và K; được xác định bởi số vòng quay của trục điểu khiển và biên dạng của cam thùng phía phải (Cam thùng điều khiển thay đổi tốc độ) Cam thùng phía trái dùng cho điều khiển đảo chiều quay Khi chạy trái, khớp nối trục K, sẽ đóng, còn khi chạy phải , khớp nối trục K; sẽ đóng
100
Trang 14
"Nhanh Chậm | KsvaKi | KavaKi ‘Chay phả Kivà K2 | KavàK¿
Hình 1.5 Điều khiển tốc độ quay và chiều quay bằng
truyền động bánh răng phân cấp (theo chỉ số)
Những hệ thống truyền động được điều khiển bằng trục điều khiển,
bằng cam thùng hay tổ hợp các bánh cam phẳng thường được ứng dụng trong các máy tiện tự động, chẳng hạn để truyền dẫn cho các chuyển động chạy dao Biên dạng của rãnh cam thùng được xác định phù hợp với từng, chỉ tiết gia công, sao cho các chỉ tiết có sản lượng loạt lớn có thể được chế tạo theo phương thức này một cách rất kinh tế
Thuộc về các hệ truyền động vô cấp tốc độ có thể kể đến các bộ truyền dùng thiết bị dịch chỉnh các bánh dẫn và bị dẫn, các bộ truyền ma sát và bộ truyền trục vít
Các bộ truyền có thiết bị dịch chỉnh các bánh truyền động (hình 1.6.) thường được sử dụng để truyền tải công suất đến 100 kW Nó bao gồm hai bánh dẫn động, trong đó ít nhất một trong hai bánh được cấu thành từ hai nửa với má rãnh hình côn Các nửa bánh có má rãnh hình côn này cho phép dịch trượt dọc theo trục lắp chúng, nhờ vậy những bán kính dẫn của dai thang hoặc của dây xích bằng thép được điều chỉnh và số vòng quay
101
Trang 15trên trục bị dẫn cũng như mômen quay có thể điều khiển thay đổi được
Ví dụ trên vị trí œ của hình 1.6 khi puli hai nửa của bánh chủ động bị kéo
ra xa nhau, mặt bên của đai thang không chịu tải nữa và tụt sâu vào bên trong tạo ra một bán kính dan nhỏ hơn Theo cách tương tự, hai nửa puli của bánh bị động do tác động của hệ thống tay đòn bị đồn ép lại Đai thang nhận lực truyền từ các mật bên và bị đẩy xa ra ngoài tạo thành bán kính bị dân lớn hơn Với các vị trí khác của hệ thống tay đòn, chẳng hạn
vị trí ð và ©, tả sẽ tạo được các tỷ số truyền khác nhau trong một phạm vi điều khiển
i Đại thang đình 1.6 Truyền động vô cấp dùng các puli rãnh côn
thay đổi bán kính quay Trong những bộ truyền động chạy khô không bôi trơn, các dai thang rộng bản thường được sử dụng Chúng chạy rất êm và gần như không có
sự trượt Khi cần làm việc với lực kéo lớn, lại phải đảm bảo tuổi thọ lâu 102
Trang 16bên, người ta dùng bộ truyền sử dụng dây xích bằng thép cho chạy qua một bể đầu Tuỳ theo tốc độ xích và công suất truyền tải, chúng được phân chia thành xích lá mỏng, xích con lăn và xích ghép áp lực (xem bang 1.1.)
Bảng 1.1 Phương tiện kéo cho truyền dẫn đổi tốc độ
Phương tiên kế Tốcđộ |Công | Cóthểdiểu
Phương tiện kéo đến suất đến | khiển đừng
í li Trong điều khiến
arial , 30m } 100KW [thế dừng theo lựa vô cấp thuỷ lực có
Trong xích con lăn (hình 1.7), mỗi mất xích gồm có hai con lăn hình trụ tựa sát nhau Khi địch chỉnh những phần nửa má nhắn của bánh truyền dẫn hình côn, các con lăn này có thể tự quay quanh trục tâm, nhờ vậy chỉ sử dụng có một phân nhỏ của công suất truyền tải, và có thể điều chính cho tới trạng thái dừng lại
Trang 17Irong các dây xích ghép áp lực, các mắt xích liên hệ với nhau nhờ các khớp nối đòn cân Khớp này bao gồm các bulông đồn cân xâu qua lỗ mất xích, chính những bulông này tạo ra sự tiếp xúc giữa đây xích với các má nhấn của bánh truyền dẫn hình côn Xích này rất nhẹ và có mắt xích nhỏ nên có thể chạy được tốc độ nhanh ngay cả với đường kính truyền dẫn nhỏ nhất của các bánh quay trong bộ truyền
Puli hình côn Các con lăn trụ
Xích vào côn Nhà xích khi
khi chạy không chạy
linh ?.7 Nguyên tac tac đụng của
các viên bì hình trụ
Để cải thiện đặc tính truyền tải của các phương tiện kéo, các bộ truyền đùng thiết bị địch chỉnh bánh truyền động được trang bị thêm một bộ phận ép vào Trong kết cấu đó, lực pháp tuyến yêu cầu để tạo ra sự ép chặt giữa đây xích và các bánh truyền dẫn có thể được tăng cường hoặc là bằng một con lăn kẹp hay một guốc kẹp hoặc là bằng sự ép vào đồng thời hai nửa má của các bánh truyền động Đối với những yêu cầu cao về công suất truyền tải và hiệu suất tác dung, Ap lực ép vào phải được điều chỉnh theo mômen quay và tỷ số truyền động Điều đó được thực hiện bằng một
hệ thống tay đòn hoặc một bánh cam nhằm tao ra một lực ép chiều trục tỷ
lệ với mômen tác dụng Trong bệ truyền dùng đây xích con lăn, với những thiết bị ép vào phù hợp, có thể cho phép truyền tải đến công suất
25 kW Khi cần tăng hơn nữa công suất truyền tải, chẳng hạn đến khoảng
75 kW, ta sẽ dùng hai bộ bánh xe kéo chạy song song, giữa chúng có một bánh xe trung gian có thế dịch chuyển theo chiều trục vừa để tách riêng 104
Trang 18hai bộ bánh xe kéo, vừa để cân đối các bán kính chạy khác nhau của từng
bộ
Đường đặc tính của các bộ truyền dùng thiết bị dịch chỉnh bánh truyền động và thiết bị ép vào phụ thuộc mômen tải thể hiện được một quá trình truyền dẫn thích hợp với nhiều loại máy công tác (hình 1.3) “Trong vùng điểu khiển có Số vòng quay thấp ta có mômen quay lớn và mômen này sẽ nhỏ đi khi số vòng quay tăng lên Diễn biến này phù hợp với như cầu vẻ mômen quay của nhiều bộ truyền động trong máy
Việc điều khiển các bộ truyền dùng thiết bị dịch chỉnh bánh truyền động được thực hiện hoặc thông qua thay đổi khoảng cách trục hoặc nhờ sự địch chỉnh hai má côn của bánh truyền động khi khoảng cách trục phải giữ không đổi Trong các bộ truyền dùng đai thang rộng bản thường áp đụng phương thức điều chỉnh khoảng cách trục (hình 1.8)
Trục dẫn động
Trục dẫn động
Điều chính khoảng cách
trục
Hình L8, Điều chính số vòng quay thông qua
điều chỉnh khoảng cách trục
Trang 19Dé day dai giữ được sức cảng ban đầu, hai nửa má côn của puli dân động được ép vào với nhau nhờ một lực đàn hồi không đôi của lò xo hoặc nhờ một bộ phận điểu chỉnh lực ép vào theo mômen quay Dụng cụ diều chỉnh có thể là một tay quay trục vít hoặc một động cơ điện điều chỉnh Vùng điều chỉnh tốc độ của trục bị dẫn so với trục chủ động được giới hạn
đến tỷ lệ 1 : 3
Trục truyền dẫn
thông qua điều chỉnh Puli côn
Nếu khoảng cách trục giữa các bánh truyền động không thay đổi được hoặc nếu phạm vi điều chỉnh phải lớn hơn I : 3 thì việc điều khiển tốc độ trên trục bị động phải dựa vào cả bánh puli côn hai nửa lắp trên nó Trong kết cấu này, hoặc là hai bánh puli đồng thời được điều chỉnh dịch trượt nhờ tay quay, trục vịt và hệ thống tay đòn (hình 1.6) hoặc chỉ cần dich chỉnh một puli hai nửa (hình 1.9) Bánh puli đối diện sẽ dùng một lồ xo ép
để đảm bảo lực căng cần thiết
Các bộ truyền dùng kết cấu dịch chỉnh bánh truyền động cũng có thể được điểu khiển bằng các xilanh khí nén hay thuỷ lực hoặc bằng hệ thống 106
Trang 20servo thuỷ lực hay hệ thống điều khiển điện Loại kết cấu có nguyên lý tác dụng như vậy rất cần thiết trong trường hợp hệ truyền dẫn đó được ứng dung trong thiết bị điều chỉnh với vai trò là một khâu hiệu chỉnh
Trong các bộ truyền vô cấp làm việc bằng các bánh ma sát, mômen quay được truyền tải nhờ ma sát trên hai đĩa có thể địch chỉnh được Số
vòng quay của trục bị đẫn được thay đổi nhờ một đĩa hình côn có thể xoay nghiêng như ở cơ cấu bánh ma sát ở hình 1.10 Đĩa ma sất hình côn được lắp trên trục động cơ và được ép vào vành ma sát Trục động cơ so với trục của vành ma sát có thể nghiêng tới một góc sao cho mặt côn bao phía dưới của đĩa côn quay tương đối song song với mặt vành ma sát Để điểu khiển số vòng quay của trục bị dẫn, bản thân động cơ và đĩa côn được đầy theo phương vuông góc với trục động cơ Áp lực nén của đĩa ma sát được diéu chỉnh thích ứng với momen tai trọng để đảm bảo một độ mài mòn nhỏ nhất như có thể Phục vụ cho mục đích đó người ta sử dụng một thiết bị ép bao gồm một khớp nối có áp lực đẩy đọc trục và một lò
Trang 21Khớp nối chịu lực đẩy đọc trục được lắp trên một trục có rãnh trượt, nó
có hai vấu an khớp với vấu có hình đáng phù hợp trên nửa đối điện gắn với vành ma sát, nhờ vậy mêmen quay từ phía dẫn động được truyền sang trục bị dân Khi mômen quay trên trục bị dẫn giảm, hai nửa khớp nối có
Sự trượt trên mật nghiêng của hai vấu khiến cho lò xo bị nén lại làm tăng lực ép đọc trục trên khớp nối Lực ép lò xo thông qua nửa khớp nối bên phải, tác động đến vành ma sát và đĩa côn theo chiều hướng mômen quay trên trục dẫn càng lớn thì lực ép ma sát càng tăng
Số vòng quay trục ra Hình 1.11 Đường đặc tính bộ truyền đĩa ma sát
Đường đặc tính mômen quay phụ thuộc số vòng quay của trục bị động (hình 1.11) ở cơ cấu truyền động bánh ma sát gần như là đường tuyến tính Trong cơ cấu truyền động bằng hệ thống trục ép điều chỉnh được, momen quay duoc truyén qua các trục ép thông thường có cấu trúc đầu mút là chỏm cầu hoặc chỏm côn
Hình I,12 trình bày một bộ truyền trực ép sử dụng kết cấu đĩa côn hành tính quay xung quanh trục dẫn động
Các đĩa côn hành tỉnh này có một mép liên kết với mặt đầu của trục dẫn động thông qua lực ép của lò xo trong khi quay Để không bị hiện 108