Các công cụ kinh tế gồm nhiều loại, kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng không thể chỉ áp dụng một vài biện pháp, một vài công cụ đơn lẻ nào đó là có thể điều chỉnh được sự đa dạng về
Trang 11
Khóa/Lớp (tín chỉ): CQ57/31.2 (niên chế) : CQ57/31.03
STT:15 ID phòng thi: 5810581301
Ngày thi: 9/6/2021 Giờ thi: 7h30
BÀI THI MÔN: Kinh Tế Môi Trường
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
Đề thi: Hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
Bài làm Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hơn ba mươi năm qua, đặc biệt từ sau năm 1986, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch
sử, thay đổi mọi mặt đời sống của người dân Sự phát triển của các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ và đặc biệt là công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của toàn xã hội, song cũng chính từ sự phát triển đó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Trong những biện pháp mà nhà nước sử dụng trong lĩnh vực này, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về môi trường kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của
Họ và tên: Phan Thị Nguyệt Mã sinh viên:
Trang 22
vấn đề môi trường và dẫn đến một hệ quả tất yếu là phải đào tạo, giáo dục công dân những kiến thức về pháp luật môi trường Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các loại quan hệ kinh tế là rất đa dạng Điều đó đòi hỏi không thể chỉ áp dụng một loại công cụ trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường mà nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các loại công cụ mà đặc biệt là công cụ kinh tế Các công cụ kinh tế gồm nhiều loại, kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng không thể chỉ áp dụng một vài biện pháp, một vài công cụ đơn lẻ nào đó là có thể điều chỉnh được sự đa dạng về chủ thể cung như phương thức sản xuất, quản lý và bảo vệ môi trường
Bài viết này tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường để thấy được thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường bằng công
cụ kinh tế
- Phân tích thực trang áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản
lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 33
Đối tượng nghiên cứu: Việc áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường
Phạm vi nghiên cứu: Môi trường ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu qua internet, qua sách báo, qua các thông tin quan sát được,
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hòa xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm Điều đó dẫn đến tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra hủy hoại môi trường đồng thời tác động đến hành vi của cá nhân theo hướng có lợi cho môi trường
Hoàn thiện các công cụ kinh tế sẽ giúp Nhà nước có thể can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Với mục tiêu phát triển bền vững, cân bằng việc tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
6 Kết cấu của bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bài tiểu luận được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
Chương 2: Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong việc quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Trang 44
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
1.1: Tổng quan về các công cụ kinh tế:
Các công cụ kinh tế là các công cụ hết sức quan trọng của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường Trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi trường, các công cụ kinh tế được sử dụng là nhằm tác động tới các chi phí và lợi ích trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân nhằm điều chỉnh các lợi ích kinh tế của các đối tượng có liên quan, đảm bảo giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Trên phương diện hiệu quả, các công cụ kinh tế có tính tương phản với các công
cụ điều hành và kiểm soát, bởi lẽ công cụ kinh tế được sử dụng trên cơ sở điều chỉnh các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân hoặc giữa các tổ chức, cá nhân với nhau Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng các công cụ kinh tế còn tạo khả năng nâng cao ý thức trách nhiệm, các tổ chức, các nhân tự nguyện điều chỉnh các hành vi của mình theo hướng thân thiện, hữu ích đối với môi trường
Việc sử dụng rộng rãi các công cụ kinh tế không chỉ hạn chế tối đa các hoạt động gây bất lợi cho môi trường sống, mà còn khuyến khích quá trình đổi mơi strang thiết bị kỹ thuật, đưa các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đưa các công nghệ sạch vào sản xuất Từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu
tư, tăng hiệu quả các hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; đồng thời khích lệ ý thức tiết kiệm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2 Các công cụ kinh tế
1.2.1 Thuế tài nguyên
Trang 5sử dụng chúng; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước; thực hiện điều hòa lợi ích giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân; giữa các tổ chức với bộ phân dân cư trong lĩnh vực khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thành phân khác của môi trường
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: Thuế sử dụng đất, thuế
sử dụng nước, thuế khai thác rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản,
Việc xác định thuế tài nguyên phải tuân theo nguyên tắc chung là: Đối với hoạt động ngày càng gây nhiều tổn thất về tài nguyên, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường càng nghiêm trọng thì càng phải chịu thuế cao, trên cơ sở lựa chọn phương pháp tính thuế thích hợp; khuyến khích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu
tư trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất và nâng cao năng lực quản lí nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo Từ đó giảm được mức thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước
Thực tế ở nước ta hiện nay, do còn nhiều hạn chế về trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó là sự hạn chế về quản lý nên việc xác định mức thuế và phân
Trang 66
biệt các loại tài nguyên được tính thuế là rất cần thiết Có thể tính thuế thành hai loại theo mức độ xác định trữ lượng tài nguyên:
Thứ nhất, đối với loại tài nguyên đã xác định được trữ lượng kinh tế hay trữ
lượng địa chất, thuế phải đảm bảo tương đối ổn định, trên cơ sở xác định lượng tài nguyên được khai thác và quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai, đối với loại tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc trữ lượng
mới chỉ được dự báo, chưa xác định được trữ lượng một cách đầy đủ thì quá trình tính thuế cần thường xuyên phải điều chỉnh cho phù hợp với quy mô khai thác tăng, giảm trong từng thời kì Có thể sủ dụng phương pháp khoán sản lượng khai thác ở trong từng thời gian nhất định để làm cơ sở tính thuế ( trong khi chờ
có các kết quả khoa học về thăm dò địa chất và xác định trữ lượng đầy đủ ) 1.2.2 Thuế ô nhiễm môi trường
Thuế ô nhiễm môi trường là công cụ quản lý nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc: “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế ô nhiễm môi trường nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm phải tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng chất thải gây
ô nhiễm môi trường, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Hiện nay tại nhiều nước công nghiệp phát triển, nguồn thu từ thuế ô nhiễm môi trường hầu hết được sử dụng để tiến hành các biện pháp hoàn trả các tổn thất về môi trường, phục hồi và cải tạo các nguồn tài nguyên đã bị suy giảm Sử dụng công cụ thuế này có rất nhiều ưu việt trong lĩnh vực bảo vệ và quản lí môi trường:
Thứ nhất, tăng hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh thông
qua tiết kiệm các chi phí: Thực tiễn đã cho thấy việc sử dụng các công cụ thuế trong lĩnh vực quản lí môi trường thường có hiệu quả cao hơn nhiều so với sử
Trang 77
dụng các biện pháp hành chính, kiểm soát, Hơn nữa, với tính linh hoạt trong
sử dụng các công cụ thuế còn có tác dụng khuyến khích các tổ chức, cá nhân tìm kiếm các giải pháp tích cực để giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, nhờ vậy, làm giảm thiểu mức thuế phải nộp và ngân sách Nhà nước
Thứ hai, khuyến khích quá trình đổi mới tổ chức và quản lí doanh nghiệp: Chỉ
có thể đổi mới tổ chức và đổi mới phương thức quản lí doanh nghiệp thì mới có thể nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa hạn chế được những tổn thất về môi trường Trên thực tế Thuế ô nhiễm môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu và đối tượng gây ô nhiễm là: Nguồn ô nhiễm và sản phẩm gây ô nhiễm
Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm là nguồn thuế đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường nước, khí quyển, đất, Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở ngoại ứng có hại do hoạt động xảy ra Về mặt lý thuyết thì thuế suất phải bằng chi phí ngoại ứng biên ô nhiễm, tương ứng với trình độ công nghệ và mức sản lượng đạt được của doanh nghiệp
Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm được áp dụng với các sản phẩm gây tác hại tới môi trường khi chúng được sử dụng trong sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng Tính thuế căn cứ vào khối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ; đôi khi tính dưới dạng phí
1.2.3 Giấy phép phát thải
Giấy phép phát thải là loại giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cung cấp, cho phép doanh nghiệp được thải một lượng chất thải nhất định trong khoảng thời gian nhất định Đây là công cụ quan trọng để các cơ quan quản lí môi trường khống chế lượng chất thải thải vào môi trường; đồng thời huy động nguồn lực tài chính để thực hiện các kế hoạch môi trường Giấy phép xả thải là
Trang 88
loại giấy tờ có thể mua bán được, trong đó người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép và người mua là đơn vị cần giấy phép để xả thải các loại khí thải hoặc nước thải
Các nhà quản lí thì cho rằng, việc kinh doanh giấy phép phát thải là phức tạp, khó kiểm soát hơn so với việc thu thuế hay phí môi trường Tuy nhiên, kinh nghiệm của một số nước cho thấy, trong quản lí môi trường Nhà nước sử dụng công cụ cấp giấy phép xả thải thích hợp với một số điều kiện nhất định như: Chất gây ô nhiễm cần kiểm soát được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau nhưng gây tác động tới môi trường tương tự nhau; có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp do nhiều yếu tố (công nghệ, tuổi thọ máy móc thiết bị, quản lí, ); số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người mua và người bán giấy phép phải tương đối lớn để tạo được một thị trường hoạt động riêng
Nguyên tắc áp dụng: Quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền đặt cọc khi mua hàng nhằm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm trả lại cho đơn vị thu gom phế thải hoặc địa điểm tái chế đã quy định Nếu thực hiện đúng sẽ được hoàn lại tiền Nếu vi phạm thì số tiền đặt cọc được xung vào quỹ bảo vệ môi trường
Trang 99
Mục đích của hệ thống đặt cọc và hoàn trả thu gom những thứ mà người tiêu thụ
đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường
Đặt cọc và hoàn trả được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, sự tự giác tuân thử các quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và trong đời sống hàng ngày của người dân
1.2.5 Ký quỹ môi trường
Đây là công cụ cần được sử dụng trong quản lí môi trường đối với các hoạt động kinh tế có tiền ẩn nguy cơ gây ô nhiễm hay gây tổn thất cho môi trường Ký quỹ môi trường là công cụ đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp như khai thác mỏ, khai thác rừng hoặc khai thác các nguồn tài nguyên tại các đại dương
Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải kí gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay tôt chức tín dụng, nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc bằng kinh phí cần thiết để khắc phục ô nhiễm môi trường nếu doanh nghiệp gây ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho chủ thể có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nhận thức được trách nhiệm của họ và sẽ điều chỉnh hành
vi trong quá trình sản xuất, kinh doanh Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước, vì không phải luôn bị động đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích lấy lại được
Trang 10về thuế (miễn, giảm thuế)
Phải xác định mức trợ cấp tài chính hợp lí trong từng thời kì, đảm bảo để từng doanh nghiệp chủ động trong hoạt động hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh, hạn chế được sự thụ động chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước Thông thường, đối với các doanh nghiệp trong hoạt động có các ngoại ứng có lợi đối với môi trường thì sản xuất lượng càng lớn, đảm bảo sao cho lợi ích của doanh nghiệp phải tiến tới bằng lợi ích của xã hội đạt được cả về kinh tế và môi trường
Trang 1111
1.2.7 Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là một danh hiệu của Nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây
ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó đảm bảo phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất Các sản phẩm được dán nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán trên thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng tâm lí của khách hàng để góp phần bù đắp các chi phí, khuyến khích và tôn vinh các nhà sản xuất sạch hơn
1.2.8 Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là loại quỹ được hình thành để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường Đây là một công cụ quản lí môi trường có tính mở cao, nhằm huy động và tận dụng mọi nguồn lực của mọi đối tượng muốn tham gia, đóng góp nhân tài, vật lực cho sự nghiệp quản lí môi trường Các nguồn thu chủ yếu của quỹ môi trường là: phí và lệ phí môi trường; đóng góp tự nguyện của các ca nhân và doanh nghiệp; tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của chính quyền địa phương, của các ngành, các tổ chức xã hội trong nước
và Chính phủ; đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế; tiền lãi và các khoản lợi khác thu từ hoạt động của quỹ; tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về bảo vệ môi trường; tiền thu được từ các hoạt động văn hóa, thể thao,
từ thiện, xổ số, phát hành trái phiếu, cho sự nghiệp bảo vệ môi trường
1.3 Vai trò của các công cụ kinh tế
Trang 1212
Thứ nhất, công cụ kinh tế có vai trò trong việc định hướng hành vi xử sự của các chủ thể tiêu dùng và chủ thể sản xuất – kinh doanh theo hướng ngày càng thân thiện hơn với môi trường Không giống như công cụ hành chính mang tính chất mệnh lệnh, công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nó khuyến khích người gây ô nhiễm và người hưởng thụ môi trường có các hành vi xử sự có lợi cho môi trường
Thứ hai, công cụ kinh tế tạo ra sự chủ động cho các chủ thể trong hoạt động sản xuất, tiêu dùng Từ những nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, các chủ thể chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường vào giá thành sản phẩm để không làm ảnh hưởng tới lợi nhuận kinh doanh
Thứ ba, các công cụ kinh tế giúp tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên bởi nó tác động trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của các cá nhân và doanh nghiệp nên khi tiến hành sản xuất, kinh doanh cũng như tiêu dùng, các chủ thể phải tính đến việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào là tiết kiệm và hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng tới lợi nhuận thông qua việc thường xuyên cải tiến công nghệ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm
Thứ tư, công cụ kinh tế được sử dụng có thể làm giảm bớt gánh nặng quản lý cho cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường Với sức ép mà các vấn đề môi trường Việt Nam đang đặt ra hiện nay cùng với phương thức quản lý mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường luôn
bị đặt trong tình trạng quá tải về công việc Nhưng nếu biết sử dụng hợp lý và hiệu quả các công cụ kinh tế thì sẽ giảm bớt được sự quá tải đó
Thứ năm, sử dụng các công cụ kinh tế còn tạo ra được một nguồn tài chính dồi dào và cần thiết từ toàn xã hội để quản lý và bảo vệ môi trường
1.4 Kết luận chương 1
Trang 1313
Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh
tế thị trường với mục đích điều hòa các xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trường Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân chủ động trong kế hoạch bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường vào chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm Như vậy từ những lý luận trên, có thể thấy để đạt được hiệu quả
và mục đích trong quản lí và bảo vệ môi trường thì việc áp dụng các công cụ kinh tế là vô cùng quan trọng và cần thiết
Chương 2: Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong việc
quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
1.Thực trạng
Quản lý và bảo vệ môi trường luôn được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Hiện nay, Việt Nam đang phải giải quyết cùng một lúc hai vấn đề nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững là kiểm soát được mức độ ô nhiễm ngày càng tăng do công nghiệp hoá và đô thị hoá, đồng thời phải có được những chính sách giảm tối đa chi phí cho bảo vệ môi trường cả từ phía các doanh nghiệp lẫn Nhà nước trên cơ sở công bằng xã hội Để đáp ứng được yêu cầu đó thì việc tìm kiếm các biện pháp cũng như công cụ kinh tế cần áp dụng là cần thiết Trong thời gian qua, việc áp dụng các công cụ kinh tế nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta đã đạt được những hiệu quả nhất định Phần lớn những công cụ này đã kích thích những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn thành các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện có hiệu quả, chi phí hiệu quả nhất, giúp giảm thiểu chất thải, góp phần bảo vệ môi trường với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng lợi phải trả tiền” Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường vẫn bộc lộ một số hạn chế, cần sớm đề ra phương án khắc phục
Trang 14vệ môi trường đã được quy định trong Nghị định 04/2009/NĐ-CP, Thông tư số 230/2009/TT-BTC Trong các văn bản này cũng đã quy định rõ về các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, các đối tượng được ưu đãi thuế, được hỗ trợ, Thuế tài nguyên được phân biệt theo từng nhóm, loại tài nguyên, chính sách thuế tài nguyên hiện hành đã góp phần điều chỉnh, định hướng hành
vi khai thác tài nguyên theo hướng khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhất là đối với các tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo được
Các cá nhân, tổ chức đã tích cực hơn trong việc thực hiện đóng các loại thuế, phí, lệ phí; đã có những hành động tích cực trong việc vận động đóng góp, sử dụng hợp lý các nguồn quỹ trong việc nghiên cứu, phát triển các phương tiện khoa học kỹ thuật, các giải pháp vào việc bảo vệ môi trường Các loại thuế đã được áp dụng trên toàn quốc, các cá nhân, tổ chức đã tự giác đóng tiền thuế, một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác khuyến khích các cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp có các biện pháp nâng cao kỹ thuật, giải pháp để bảo vệ môi trường như giảm xả thải, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Trang 1515
Hiện nay, đã có nhiều loại phí, lệ phí về môi trường đã được thu trên thực tế, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường rất hiệu quả Có thể kể đến một số loại phí, lệ phí chính sau: Phí xăng dầu: Các cá nhân, doanh nghiệp nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu đều tích cực đóng góp khoản thuế này Hiện nay, khi số lượng các phương tiện giao thông đường bộ như xe máy, ô tô cá nhân đang phát triển mạnh, loại phí này đang ngày một đem lại nguồn thu ngân sách lớn; phí vệ sinh môi trường; phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
Các cá nhân, tổ chức đã có sự quan tâm trong việc thực hiện hoạt động ký quỹ phục hồi môi trường Theo thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường, từ năm
2008 đến nay, Bộ và các tỉnh, thành phố đã duyệt 1420 dự án cải tạo, phục hồi môi trường, với tổng số tiền ký quỹ trên 1.360 tỷ đồng
Các nguồn quỹ bảo vệ môi trường ngày một phát triển, hình thành nên nhiều quỹ bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương, tăng cường tham gia các tổ chức tài chính về quỹ bảo vệ môi trường toàn cầu (như Qũy môi trường toàn cầu GEF), quy mô, các hoạt động của các quỹ bảo vệ môi trường cũng được mở rộng
Thông qua hoạt động chủ yếu là cho vay quay vòng vốn, nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp cho Quỹ Bảo vệ môi trường đã hỗ trợ được cho nhiều dự án, hoạt động bảo vệ môi trường, đồng thời có nguồn thu tự trang trải chi phí hoạt động, từ đó giảm bớt áp lực, gánh nặng ngân sách nhà nước chi cho hoạt động này Quỹ Bảo vệ môi trường đã góp phần tích cực vào quá trình đồng bộ hóa các công cụ tài chính, chính sách của Nhà nước, hiện thực hóa các cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường, đây là một trong những văn bản cấp Chính phủ lớn đầu tiên đưa ra nhiều
ưu đãi đối với doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh liên quan