1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an công ty truyền tải điện 1

102 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Rủi Ro Trong Quản Lý Vận Hành Lưới Điện Của Truyền Tải Điện Nghệ An - Công Ty Truyền Tải Điện 1
Trường học Trường Đại Học Kỹ Thuật
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 885,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhậndạng, đo lường rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòngngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại rủi ro gây r

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Rủi ro và phân loại rủi ro 5

1.1.1 Khái niệm rủi ro 5

1.1.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh 9

1.1.3 Rủi ro và hoạt động của doanh nghiệp 13

1.1.4 Biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp 14

1.2 Nội dung của quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh 17

1.2.1 Nhận diện phân tích rủi ro 17

1.2.2 Đánh giá rủi ro, đo lường rủi ro 20

1.2.3 Xác định chỉ tiêu đánh giá mức độ nghiêm trọng 21

1.2.4 Các phương pháp đo lường phân tích rủi ro 22

1.2.5 Kiểm soát rủi ro 27

1.2.6 Tổ chức triển khai thực hiện quản trị rủi ro 30

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp 32

1.3.1 Nhóm nhân tố từ bên ngoài doanh nghiệp: 32

1.3.2 Nhóm nhân tố từ bên trong nội bộ doanh nghiệp: 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI TRUYỀN TẢI ĐIỆN CỦA TRUYỀN TẢI ĐIỆN NGHỆ AN – CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1 38

2.1 Giới thiệu về Truyền tải điện Nghệ an- Công ty Truyền tải điện 1 38

2.1.1 Khái quát chung về Truyền tải điện Nghệ an – Công ty Truyền tải điện 1 38

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Truyền tải điện Nghệ an 41

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Truyền tải điện Nghệ an 43

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của truyền tải điện Nghệ an- Công ty Truyền tải điện 1 47

2.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong quản lý, vận hành lưới điện của Truyền tải điện Nghệ An- Công ty Truyền tải điện 1 53

2.2.1 Nhận dạng rủi ro 53

Trang 2

2.2.2 Đo lường và đánh giá rủi ro 572.2.3 Kiểm soát rủi ro 592.3 Đánh giá quản trị rủi ro trong Quản lý vận hành lưới điện của Truyềntải điện Nghệ an- Công ty truyền tải điện 1 682.3.1 Ưu điểm 682.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 72

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI TRUYỀN TẢI ĐIỆN CỦA TRUYỀN TẢI ĐIỆN NGHỆ AN- CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1 75

3.1 Tổng quan về định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.753.1.1 Cơ hội : 753.1.2 Thách thức 773.1.3 Định hướng phát triển 783.2 Một số biện pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong Quản lý vận hành củaTruyền tải điện Nghệ an 793.2.1 Thực hiện chương trình xã hội hóa bảo vệ hệ thống điện 793.2.3 Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ vào vận hành đường dây 873.2.4 Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong hoạt động sửa chữa 883.2.5 Giải pháp đầu tư xây dựng các đường dây, trạm biến áp 500kV và220kV 903.2.6 Một số biện pháp góp phần giảm thiểu và xử lý rủi ro đối với một

số rủi ro cụ thể 91

3.3 Một số kiến nghị với Công ty truyền tải điện 1 97 KẾT LUẬN 99

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Bảng 1.1: Khả năng đo lường của một số rủi ro 24

Bảng 1.2 Ma trận đo lường rủi ro 25

Bảng 2.1: Phân loại nhân lực theo chức danh 39

Bảng 2.2: Trình độ nhân lực năm 2014 40

Bảng 2.3: Sản lượng điện năng giao nhận trên từng đường dây các năm 2011, 2012, 2013, 2014 49

Bảng 2.4: Tỷ lệ tổn thất điện năng 50

Bảng 2.5: Chi phí truyền tải điện (Triệu đồng) 52

Bảng 2.6 Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ của Truyền tải điện Nghệ an 54

Bảng 2.7 Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ 56

của Truyền tải điện Nghệ an 56

Bảng 2.8: Một số khóa học Truyền tải điện Nghệ An tham gia 67

Hình 1.1: Quá trình sản xuất của ngành truyền tải điện 18

Hình 1.2: Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich 20

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của Truyền tải điện Nghệ An 43

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quản trị kinh doanh, rủi ro là điều khó tránh khỏi Doanh nghiệpcần chủ động dự báo các loại rủi ro có thể xảy ra để đề ra các biện phápphòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nhằm giảm thiểu các thiệt hại do rủi ro gây

ra Bởi vậy, quản trị rủi ro là một mặt quản trị trong quá trình sản xuất kinhdoanh của mọi doanh nghiệp

Quản trị rủi ro ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnhmôi trường kinh doanh có nhiều biến động khôn lường như hiện nay Hàngloại các Doanh nghiệp khổng lồ, các tổ chức tài chính, các Ngân hàng, cácquỹ đầu tư lớn trên thế giới đã lâm vào khủng hoảng, thậm chí phá sản trongthời gian qua có nguyên nhân từ sự chủ quan và thiếu sót trong quá trình quản

lý rủi ro trong hoạt của doanh nghiệp

Ở Việt Nam việc quản trị rủi ro chưa được mọi doanh nghiệp coi trọng.Nhiều doanh nghiệp tuy có chú ý quản trị rủi ro trong hoạt động, nhưng hệthống quản trị rủi ro còn bộc lộ nhiều hạn chế và chưa được hoàn thiện

Truyền tải điện Nghệ an- Công ty truyền tải điện 1 là một đơn vị trựcthuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hoạt động trong lĩnh vực quản lývận hành lưới truyền tải điện có cấp điện áp 220kV- 500kV bao gồm đườngdây và các trạm biến áp trải rộng trong toàn bộ tỉnh Nghệ an Do thiết bịnhiều, có tuổi thọ khác nhau, có nguồn gốc xuất xứ khác nhau, thiết bị lắp đặttrải rộng đi qua nhiều vùng miền có mức độ dân trí khác nhau nguy cơ tiềm

ẩn rủi ro càng lớn

Trước tình hình thực trạng như hiện nay, Vấn đề quản trị rủi ro trongquản lý vận hành đã và đang được lãnh đạo Truyền tải điện quan tâm, việcxây dựng và thực thi một chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả là bài toán cần

Trang 5

cao chất lượng Truyền tải và khẳng định vị thế trong địa bàn tỉnh Nghệ An.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả nghiên cứuđã lựa chọnđề tài: “Quản trị rủi

ro trong quản lý vận hành lưới điện của Truyền tải điện Nghệ An- Công ty Truyền tải điện 1” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình, với

mong muốn bằng những đánh giá và đề xuất xác thực nhất sẽ góp phần nângcao hiệu quả quản lý và nhanh chóng đưa Truyền tải điện lên một vị thế mớitrong ngành điện nói chung và hệ thống Truyền tải điện nói riêng

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát

Luận văn được xây dựng với mục đích xây dựng chiến lược quản trị rủi

ro trong quản lý vận hành lưới điện 220kV và 500kV của Truyền tải điệnNghệ An một cách thiết thực căn cứ vào việc đánh giá các nhân tố môi trườngbên ngoài và dựa trên năng lực sẵn có của Truyền tải điện Nghệ An Từ đó, đềxuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện củaTruyền tải điện Nghệ An, góp phần vận hành an toàn, có hiệu quả lưới điệnphục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về quản trị rủi ro trong quản

lý kinh doanh của doanh nghiệp để tạo lập cơ sở cho phân tích đánh giá thựctrạng và đề xuất giải pháp kiến nghị

- Phân tích thực trạng thực hiện các nội dung của quản trị rủi ro trongquản lý vận hành lưới điện 220kV và 500kV của Truyền tải điện Nghệ An –Công ty Truyền tải Điện 1 Xác định những kết quả tích cực, những hạn chếbất cập và nguyên nhân của những hạn chế ấy

- Đề xuất giải pháp về kinh tế, kỹ thuật và tổ chức nhằm hoàn thiện quảntrị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện thuộc phạm vi quản lý của Truyềntải điện Nghệ An

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là các nội dung về quản trị rủi

ro trong quản lý vận hành lưới điện của Truyền tải điện Nghệ an

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: xem xét vấn đề quản trị rủi ro trong quản lý vận

hành lưới điện của Truyền tải điện Nghệ an trên góc độ kinh tế, tổ chức

Phạm vi thời gian:đánh giá thực trạng quản lý rủi ro trong quản lý vận

hành lưới điện của Truyền tải điện Nghệ an từ năm 2011 đến 2014 Đề xuấtgiải pháp cho quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện đến năm 2020của Truyền tải điện Nghệ an

Phạm vi nghiên cứu của đề tài đặt giới hạn trong các vấn đề về quản trịrủi ro trong quản lý vận hành lưới Truyền tải điện nói chung và của Truyền tảiđiện Nghệ an nói nói riêng Chính vì thế, đề tài chỉ mang tính ứng dụng tạiđơn vị này

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận được sử dụng cho đề tài là lý thuyết về quản trị rủi ro baogồm khái niệm, nội dung, cách thức phát hiện, nhận dạng rủi ro, đánh giá mức

độ rủi ro, hoạt động quản lý rủi ro, chương trình quản trị rủi ro Ngoài ra còn

sử dụng các lý thuyết của các môn học như quản trị sản xuất, marketing…

- Phương pháp tiếp cận: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nhưphương pháp dựa trên những rủi ro trong quá khứ, phương pháp lưu đồ

- Phương pháp xử lí và phân tích số liệu: Đề tài sử dụng phương phápthống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp khi đánh giá về kết quả quản trị rủi rocủa truyền tải điện,

- Nguồn thông tin: Đề tài sử dụng nguồn thông tin thứ cấp từ các báo cáo

Trang 7

điện 1, Truyền tải điện Nghệ An, trong thời gian từ năm 2011 đến 2014 vàcác số liệu từ nhiều công trình nghiên cứu trước, các bài báo, các trang webliên quan đến quản trị rủi ro, rủi ro trong sản xuất kinh doanh

5 Dự kiến đóng góp khoa học

- Tác giả vận dụng lý thuyết về quản trị rủi ro trong kinh doanh củadoanh nghiệp, để làm rõ những vấn đề chính quản trị rủi ro trong quản lý vậnhành lưới truyền tải điện

- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới truyềntải điện của Truyền tải điện Nghệ an (Công ty truyền tải điện 1), xác định kếtquả tích cực, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất một số giải pháp về kinh tế và tổ chức hoàn thiện quản trị rủi

ro trong quản lý vận hành lưới Truyền tải điện của Truyền tải điện Nghệ an

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục vàphần nội dung chính Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới

Truyền tải điện của Truyền tải điện Nghệ an- Công ty truyền tải điện 1

Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong quản lý vận

hành lưới truyền tải điện của Truyền tải điện Nghệ an- Công ty Truyền tảiđiện 1

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT

KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Rủi ro và phân loại rủi ro

1.1.1 Khái niệm rủi ro

Trong cuộc sống và công việc hàng ngày rủi ro có thể xuất hiện trên mọilĩnh vực, không ngoại trừ một ai, một quốc gia, dân tộc nào, từ một người tốtđến kẻ xấu, từ cường quốc hùng mạnh nhất thế giới đến dân tộc nhựơc tiểu, từtập đoàn đa quốc gia lẫy lừng danh tiếng đến công ty nhỏ mới thành lập đều

có thể gặp rủi ro

Rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc, từ nhữngcông việc mang tính chất riêng tư, như: chọn trường, chọn nghề, chọn nơi làmviệc, chọn bạn, trong tình yêu và hạnh phúc gia đình các thương vụ làm ăncủa doanh nghiệp, đến mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, tôn giáo Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trườngphái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.Những định nghĩa này đa dạng, phong phú, có thể liệt kê ra đây một số kháiniệm sau:

Theo Từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm

1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến"

Theo cố GS Nguyễn Lân định nghĩa “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sựkhông may” (Từ điển từ và ngữ Việt Nam năm 1998, tr 1540)

Theo David Apgar, thì " rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thểảnh hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi"(Risk Intelligence Learning to Manage What We Don't Know, 2006)

Trang 9

Theo Frank Knight, học giả Mỹ cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đolường được” (trích dẫn bởi GS TSKH Vũ Huy Từ, 2009)

Tổ chức Tiêu chuẩn hóa thế giới (ISS) thì xác định: “Rủi ro là sự kết hợpgiữa các xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực sự kiện đó”(trích dẫn bởi GS TSKH Vũ Huy Từ, 2009)

Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “Rủi ro là sự tổnthất về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”;hoặc “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp; tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp”, (trích dẫn bởi GS TSKH Vũ Huy Từ, 2009)

Qua các định nghĩa về rủi ro đã nêu: có thể thấy những định nghĩa này

có những hạn chế về tính thiếu thống nhất và kém chủ động, tích cực vậntrong vận dụng Chưa có định nghĩa nào bao quát được hết về mọi khái khíacạnh của rủi ro mà nhà quản trị phải đối mặt khi ra các quyết định cũng nhưtrong hoạt động quản lý kinh doanh Do vậy, cần thiết phải có một định nghĩathích hợp hơn cho lĩnh vực quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng.Trên cơ sở phân tích về khái niệm rủi ro ở trên, GS.TSKH Vũ Huy Từ vàcộng sự đã đưa ra một định nghĩa bao quát mới về rủi ro:

“Rủi ro là tình huống của môi trường khách quan và hoạt động của con người trong đó tồn tại khả năng xấu ra sự sai lệch bất lợi có thể hoặc không thể đo lường được so với kết quả được dự tính hay mong chờ”(2009)

Thực tế cho thấy: Chúng ta sống trong một thế giới mà rủi ro luôn luôntiềm ẩn và ngày càng tăng theo chiều hướng khác nhau, Xã hội loài ngườicàng phát triển, hoạt động con người ngày càng đa dạng, phong phú và phứctạp, thì rủi ro cho con người ngày càng nhiều và đa dạng hơn, mỗi ngày qualại xuất hiện thêm những loại rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ Rủi rocũng có tính 2 mặt: vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực Rủi ro có thể

Trang 10

gây ra những tổn thất mất mát nguy hiểm nhưng cũng chính rủi ro có thểmang đến cho con người những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhậndạng, đo lường rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòngngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại rủi ro gây ra,

mà có thể "lật ngược tình thế" biến thủ thành công, biến bại thành thắng, biếnthách thức thành cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.Từ khái niệmnói trên, có thế rút ra những điểm cơ bản sau đây

Qua phân tích các định nghĩa về rủi ro đã nêu: tác giả đồng quan điểm

cho rằng “Rủi ro là tình huống của môi trường khách quan và hoạt động của con người trong đó tồn tại khả năng xấu ra sự sai lệch bất lợi có thể hoặc không thể đo lường được so với kết quả được dự tính hay mong chờ” Nếu

quản trị rủi ro tốt thì sẽ đón nhận được nhiều cơ hội, ngược lại, sẽ chấp nhậnnhững thiệt thòi mất mát lớn, thậm chí doanh nghiệp có thể bị phá sản

Từ khái niệm nói trên, có thế rút ra những điểm cơ bản sau đây

Trước tiên, với việc định nghĩa rủi ro là “một tình huống của môi trường

khách quan và hoạt động của con người”, định nghĩa đã khẳng định tính chấtkhách quan và chủ quan của rủi ro Rủi ro chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từmôi trường khách quan gắn với sự kiện hoạt động chủ quan của con người.Như vậy rủi ro có thể xảy ra bởi những yếu tố khách quan của môi trườngđồng thời cũng có thế xảy ra do những sai lầm chủ quan của con người về sựkiện đó

Thứ hai, với quan niệm kết quả không mong muốn của rủi ro chính là sự

sai lệch bất lợi có thể hoặc không thể đo lường được so với kết quả dự tínhhoặc mong chờ, định nghĩa bao hàm cả những rủi ro gắn với các tổn thất vànhững rủi ro gắn với sự sai lệch so với dự tính Rõ ràng mọi người đều mongmuốn không phải chịu tổn thất hay thiệt hại Nếu trong một tình huống cụ thể

Trang 11

ro Và ngay cả khi một sự sai lệch so với dự tính dù không gây nên tổn thấtnhưng đi theo chiều hướng bất lợi, chẳng hạn như giá cả tăng không nhưmong muốn khiến lợi nhuận không đạt như dự định thì cũng được coi là rủiro.

Thứ ba, định nghĩa này tạo nên sự linh hoạt và chủ động, tích cực trong

ứng dụng các công cụ lượng hóa trong từng tình huống cụ thể Điểm mấu chốt

là sự thừa nhận “dự tính của con người”, là tiêu chuẩn để đánh giá rủi ro Mọi

sự sai lệch bất lợi so với dự tính đều coi là rủi ro Nguyên nhân gây ra sự sailệch là khách quan, cũng có thể do sai lầm chủ quan của con người và khácnhau trong từng trường hợp cụ thê

Rủi ro trong sản xuất kinh doanh là một dạng rủi ro và nó cũng mangđầy đủ những đặc điểm cơ bản như bất kỳ loại rủi ro nào Rủi ro trong sảnxuất kinh doanh được con người quan tâm nhiều nhất Bởi vì, trước hết kinhdoanh là một hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cho mỗi

cá nhân và lợi nhuận chính là động lực thúc đấy doanh nghiệp không ngừngphát triển hoạt động của mình Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, trong sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp thường có nhiều nhân tố tác động, ảnhhưởng và làm gia tăng bất trắc Những bất trắc thường xuyên xảy ra trong môitrường sản xuất kinh doanh và trong quản lý dẫn đến “những sai lệch bất lợi

so với kết quả dự tính hay mong chờ” của doanh nghiệp

Rủi ro trong sản xuất kinh doanh đồng thời cũng rất đa dạng và phức tạpbởi nó chịu nhiều tác động, không những từ nhân tố khách quan bên ngoài màcòn chính từ nội bộ doanh nghiệp, từ chính nền kinh tế trong nước Để cónhững chiến lược và biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả, con người cần phảinhận dạng, đánh giá và phân loại rủi ro

Trang 12

1.1.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Rủi ro lãi suất

Trong hoạt động kinh doanh, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải

sử dụng vốn vay Khi lập kế hoạch kinh doanh, tuy lãi suất tiền vay đã được

dự tính, song có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệptác động đến lãi suất tiền vay Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vaytăng đột biến, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh doanh ban đầu bịđảo lộn Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp, mức độ tiêu cực củarủi ro lãi suất cũng sẽ khác nhau

Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá là sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp không thể

dự báo trước Trong trường hợp các giao dịch của doanh nghiệp thực hiệntrên cơ sở tỷ giá ngoại tệ mà hàng hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sựbiến động có thể tạo ra rủi ro dẫn đến thua lỗ Tùy theo quy mô sử dụng ngoại

tệ, doanh nghiệp có thể chịu số lỗ do rủi ro về tỷ giá nhiều hay ít

Rủi ro biến động giá cả hàng hóa

Đối với các doanh nghiệp có các giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợpđồng cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa cóthể sẽ là một rủi ro lớn Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạmphát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày Đối với đa số doanh nghiệp sảnxuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi sảnxuất, khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sảnphẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là tính không chắc chắn và tiềm ẩn về khoản lỗ do không

có khả năng thanh toán của bên đối tác Rủi ro tín dụng có thể từ nguyên nhân

Trang 13

ra phải thanh toán tiền mua hàng, nhưng lại không thanh toán đúng hạn, hoặcthanh toán không đầy đủ, hoặc thậm chí từ chối thanh toán vì nhiều lý do Ởnước ta, do đặc điểm của nền kinh tế đang chuyển đổi, các doanh nghiệp cóđặc tính không ổn định cao, nhiều doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động

đã bị phá sản, thậm chí “biến mất” Điều này cũng làm gia tăng rủi ro tíndụng Mặt khác tỉ lệ lạm phát cao cũng góp phần gia tăng rủi ro tín dụng Một trở ngại lớn mà doanh nghiệp phải đối diện đó là không tìm được sựtài trợ tài chính từ các nguồn tín dụng tin cậy, lãi suất hợp lý Do thiếu vốn đểhoạt động, có khi doanh nghiệp phải tìm đến các khoản tín dụng “đen” nhưhoạt động cho vay nặng lãi, đây là một trong những rủi ro lớn mà các doanhnghiệp thường phải đối mặt

Rủi ro năng lực kinh doanh

Rủi ro năng lực kinh doanh là những rủi ro xảy ra do sự thiếu hiểu biết

về các kỹ năng giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp Rủi ro này phần lớnthuộc về những yếu tố chủ quan trong nội bộ doanh nghiệp Các nhân tố cóthể dẫn đến rủi ro này bao gồm:

Thiếu kỹ năng doanh nhân Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạnchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mô hình hoạt động, kỹ năng quản trịcủa doanh nghiệp chưa hoàn toàn thích hợp với yêu cầu của nền kinh tế thịtrường Hầu hết các công việc: quản lý doanh nghiệp, tổ chức điều hành hoạtđộng doanh nghiệp, công tác kế hoạch, marketing, kế toán, kỹ năng độngviên… đều chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp Một bộ phận khá lớndoanh nghiệp ở nước ta ra đời từ kết quả của sự lựa chọn bắt buộc: Một bộphận lớn những người bị mất việc làm trong quá trình đổi mới, cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước, bị tinh giản biên chế, chỉ với chút vốn ít ỏi cả về tàichính và kinh nghiệm kinh doanh đã đứng ra thành lập nên doanh nghiệp Do

Trang 14

vậy kỹ năng doanh nhân của các doanh nghiệp rất yếu Điều này tạo nênnhiều rủi ro trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Sự hiểu biết nghèo nàn về tính năng động thị trường Hiểu biết tính năngđộng thị trường là nhân tố chủ yếu để khởi đầu một hoạt động kinh doanhmới Tuy nhiên, đa số các chủ doanh nghiệp đều rất thiếu thông tin và kiếnthức về kinh doanh, thiếu năng lực để nhận biết các cơ hội và rủi ro, để từ đó

có quyết định đầu tư đúng đắn Nhiều người quyết định đầu tư dựa theo sựthành công của doanh nghiệp đang có những hoạt động kinh doanh tương tự,nhưng rõ ràng thành công của doanh nghiệp này không phải là sự bảo đảmthành công của những doanh nghiệp khác trong cùng hoạt động

Thiếu hiểu biết về cách thức chuẩn bị kế hoạch kinh doanh Kế hoạchkinh doanh là vấn đề có tính quan trọng cơ bản đối với sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp Một kế hoạch kinh doanh tốt sẽ giúp chính bản thân chủdoanh nghiệp hiểu rõ hơn về công việc của mình, đồng thời có thể nhận được

sự trợ giúp tín dụng và bắt đầu cho một dự án đầu tư Tuy nhiên đa số cácdoanh nghiệp được thành lập, nhưng không có sự chuẩn bị một kế hoạch kinhdoanh đầy đủ và cụ thể

Thiếu thông tin về thị trường Đa số các doanh nghiệp ở nước ta gặp khókhăn trong việc tìm kiếm thông tin về các cơ hội trên thị trường Mặc dùChính phủ đã triển khai một số biện pháp để khuyến khích và phát triển các tổchức dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin trợ giúp doanh nghiệp, nhưng hoạtđộng của các tổ chức này còn rất hạn chế

Rủi ro chính trị, kinh tế

Rủi ro thuộc loại này có thể là một chính sách nào đó của Chính phủ tácđộng làm khan hiếm nguồn tài chính, gây khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cậncông nghệ và đầu tư Chính sách của Chính phủ đôi khi gây nên sự bất bình

Trang 15

tạo nên sự bất lợi trong cạnh tranh trên thị trường Trong đó các tập đoàn kinh

tế lớn thường tìm cách gây ảnh hưởng đến Chính phủ để ban hành chính sách

có lợi cho mình và gây bất lợi cho doanh nghiệp

Rủi ro chính trị, kinh tế cũng có thể do tác động của sự suy thoái kinh tế,hoặc do kết cấu hạ tầng giao thông, viễn thông yếu kém,… dẫn đến chi phísản xuất của doanh nghiệp tăng lên Tình trạng cúp điện, hay ùn tắc giaothông cũng dẫn đến sự đổ vỡ kế hoạch sản xuất, kinh doanh đã được trù tính Nền kinh tế thiếu minh bạch, còn tồn tại nhiều bất bình đẳng đối vớidoanh nghiệp so với khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là trong các chínhsách về đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn

Tình trạng tham nhũng, các hoạt động kinh tế ngầm, bán hàng hóa nhậplậu… không được ngăn chặn hữu hiệu cũng tạo nên rủi ro cho những doanhnghiệp hoạt động tuân thủ luật lệ

Rủi ro văn hóa

Đây là rủi ro đến từ hàng loạt những điều không nhất quán, thiếu hòahợp giữa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với các nhân tố như:các giá trị văn hóa, thói quen, niềm tin và thái độ của nhân dân trong một đấtnước, một vùng hoặc cộng đồng kinh tế Rủi ro văn hóa thường xảy ra với cáccông ty đa quốc gia khi đầu tư vào các quốc gia khác, nhưng cũng không phải

là loại trừ đối với doanh nghiệp ở trong nước, khi triển khai hoạt động kinhdoanh tại một vùng hoặc cộng đồng kinh tế

Trang 16

Đôi khi các doanh nghiệp khởi đầu công việc với những đối tác sai Rủi

ro này khá cao trong các công ty gia đình khi các thành viên không được lựachọn một cách khách quan Hành vi thiếu trách nhiệm của một thành viên cóthể mang lại cho công ty nhiều thiệt hại

1.1.3 Rủi ro và hoạt động của doanh nghiệp

1.1.3.1 Rủi ro, tỷ suất sinh lợi và quyết định đầu tư

Tỷ suất sinh lợi là thước đo bằng số của thành quả đầu tư Tỷ suất sinhlợi đại diện cho tỷ lệ phần trăm gia tăng trong tài sản của nhà đầu tư từ kếtquả đầu tư Khi đầu tư, tất cả các nhà đầu tư đều mong muốn hoạt động đầu

tư của mình có tỷ suất sinh lợi cao nhất có thể

Trong kinh doanh, rủi ro là bạn đồng hành của tỷ suất sinh lợi Rủi ro là

sự không chắc chắn của tỷ suất sinh lợi trong tương lai Rủi ro và tỷ suất sinhlợi có mối quan hệ cùng chiều mà người ta thường gọi là sự đánh đổi giữa rủi

ro và tỷ suất sinh lợi Tỷ suất sinh lợi mà người ta mong đợi sẽ nhận được khiquyết định đầu tư được gọi là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng Người đầu tư có lý tríchỉ quyết định đầu tư khi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn mức rủi ro có thể Rủi ro, tỷ suất sinh lợi và quyết định đầu tư có mối quan hệ gắn bó mậtthiết với nhau Có thể ví quyết định đầu tư như một cỗ xe, trong đó tỷ suấtsinh lợi là động cơ còn rủi ro là bộ phanh để hãm lại Nếu cỗ xe mà không cóphanh thì khi tai nạn xảy ra sẽ càng nghiêm trọng Và như vậy, trong mộtchừng mực nào đó rủi ro có tác dụng hữu ích đối với nhà đầu tư, nó cảnh tỉnhnhà đầu tư cần phải hành động tỉnh táo, có lý trí

1.1.3.2 Rủi ro và khánh kiệt tài chính

Rủi ro nói chung thường dẫn đến kết quả là có sự thiệt hại về tài chính ởmức độ khác nhau đối với doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp do quy môvốn nhỏ bé, khi gặp rủi ro, bị sụt giảm giá trị tài sản, có thể sẽ dẫn đến tổn

Trang 17

nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính Việc khắc phục được tìnhtrạng này đối với doanh nghiệp là hết sức khó khăn

1.1.3.3 Rủi ro và phá sản doanh nghiệp

Do quy mô vốn nhỏ bé, doanh nghiệp không thể đa dạng hoá được danhmục đầu tư mà phần lớn chỉ tập trung vào một hoạt động Khi xảy ra rủi ro cóthể khiến doanh nghiệp mất toàn bộ vốn và dẫn đến phá sản Không nhữngdoanh nghiệp bị phá sản, mà đa số doanh nghiệp hoạt động không theo môhình trách nhiệm hữu hạn, do vậy chủ doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng

nợ nần, bị siết nợ, mất toàn bộ tài sản, nhà cửa…

1.1.4 Biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp

Để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp, phải tìm cách nétránh những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mấtmát có thể có Đây là những biện pháp mà qua đó nhà quản lý tìm cách pháthiện những dự án kinh doanh có nguy cơ xảy ra rủi ro cao để doanh nghiệp nétránh, không tham gia, nhờ đó không phải chịu rủi ro

Biện pháp né tránh rủi ro có thể giúp cho doanh nghiệp không phải chịubất kỳ hậu quả xấu nào mà rủi ro phát hiện được có thể gây ra nhưng cũng cóthể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội kiếm lời Trong thực tế, không phải rủi ronào cũng có thể tránh được

1.1.4.1 Biện pháp né tránh rủi ro là

- Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra: Doanh nghiệp cần cónhững thông tin cần thiết và tin cậy về đối tác, phân tích kỹ những điều kiện,tính khả thi của kế hoạch, dự án hoặc hợp đồng kinh doanh, dự báo khả năng

và mức độ nghiêm trọng cao hay thấp của những rủi ro trong quá trình thựchiện Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đi đến quyết định thực hiện hay không,nhằm tránh những rủi ro và tổn thất có thể xảy ra cho doanh nghiệp

Trang 18

- Né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro: Đây lànhóm biện pháp né tránh rủi ro được tiến hành trên cơ sở doanh nghiệp phảiphân tích, xác định những nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro cho một dự ánkinh doanh nhằm tìm cách loại bỏ những nguyên nhân đó.

1.1.4.2 Chấp nhận rủi ro

Chấp nhận rủi ro là biện pháp để không thể tránh khỏi để khong thể bỏ

lỡ cơ hội kiếm lời (với rủi ro suy đoán) Trong trường hợp này doanh nghiệpphải dự phòng nguồn lực tài chính để kịp thời bù đắp những thiệt hại có thểxảy ra để không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tuynhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể dự phòng đủ bù đắpđược các tổn thất có thể xảy ra bởi vì việc dự phòng quá lớn sẻ gây ảnh hưởngđén nguồn tài chính cần cho kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.4.3 Bảo hiểm

Bảo hiểm là một biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Bảo hiểm rủi ro có thể thựchiện dưới các hình thức như: Bảo hiểm cho hoạt động, bảo hiểm tài sản, bảohiểm lao động vv Ưu điểm của biện pháp bảo hiểm là khi rủi ro xảy ra thì nó

có thể khắc phục một cách tốt nhất hậu quả của rủi ro đó, tuy nhiên, nhượcđiểm của biện pháp này là do phải đóng một khoản phí bảo hiểm trước mắttrong khi đó nhiều người lại có xu hướng coi trọng lợi ích trước mắt hơn lợiích lâu dài, thêm vào đó, ngành bảo hiểm nước ta cũng chưa thực sự phát triểnđạt đến mức độ tạo dựng được niềm tin cho khách hàng nên nhiều khách hàngcũng như doanh nghiệp không mấy hứng thú trong việc mua và sử dụng bảohiểm phòng ngừa rủi ro

Trang 19

1.1.4.4 Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất

Ngăn ngừa tổn thất là sử dụng các biện pháp khiến cho rủi ro không thểxảy ra, nhờ vậy mà tránh được thiệt hại rủi ro mang lại Nhóm biện pháp ngănngừa tổn thất gồm:

- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy hiểm (nguyênnhân) gây ra rủi ro để ngăn ngừa tổn thất

- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro

- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa mối nguy cơ và môitrường rủi ro

1.1.4.5 Các biện pháp giảm thiểu tổn thất

Các biện pháp giảm thiểu tổn thất có thể bao gồm các phương pháp sau:

- Cứu vớt những tài sản sử dụng được

- Chuyển giao chia sẻ rủi ro bằng các hợp đồng bảo hiểm

- Thực hiện họp đồng tái bảo hiểm v.v

- Đa dạng hóa rủi ro.“Không mang tất cả trứng gà đặt vào một rổ” là mộtphương pháp quản lý tránh rủi ro hiệu quả

Một biện pháp kinh doanh là thông qua việc thành lập những doanhnghiệp cổ phần hoá, tập trung vốn từ nhiều cá nhân, đoàn thể và các tổ chứckinh tế khác nhau và dùng nó để mở rộng quy mô của doanh nghiệp, thúc đẩy

Trang 20

sự phát triển của doanh nghiệp Phương thức phân tán rủi ro này được giớidoanh nghiêp áp dụng tương đối nhiều Rủi ro về tiền vốn trên thực tế đãđược phân tán đến tất cả những người cùng đầu tư Các nhà đầu tư họ khôngtập trung đầu tư vào một dự án mà tìm kiếm khả năng đầu tư vào một số dự

án để phân tán rủi ro, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất

Phân tán rủi ro chính là việc thực hiện nguyên tắc kinh điển trong kinhdoanh “Không bỏ trứng vào một giỏ” Để phân tán rủi ro nhằm ngăn ngừa vàhạn chế rủi ro trong kinh doanh cần phải thực hiện một số giải pháp cụ thểsau:

Đầu tư vào nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau để tránh được sự cạnhtranh của các doanh nghiệp khác trong việc giành giật thị phần trong phạm vihẹp của một số ngành đang phát triển cũng như tránh gặp phải rủi ro donhững chính sách của Nhà nước với mục đích hạn chế hoạt động của một sốngành nghề nhất định trong kế hoạch cơ cấu lại một số ngành nghề kinh tế

1.2 Nội dung của quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2.1 Nhận diện phân tích rủi ro

Để quản trị rủi ro, trước hết là phải nhận diện (hay phát hiện) được rủi

ro Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ronảy sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt độngnhận diện rủi ro nhằm thu thập thông tin về các đối tượng có thể gặp rủi ro(con người, tài sản, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp), các nguồn phátsinh rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, các loại tổn thất mà rủi ro có thể gây ra chodoanh nghiệp Hoạt động nhận diện rủi ro được thực hiện thông qua việc theodõi, nghiên cứu, xem xét môi trường xung quanh và nội bộ doanh nghiệp (vĩ

mô và vi mô), toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhằm thống kê được tất cảcác rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra mà cả những rủi ro mới

Trang 21

hành phân tích rủi ro nhằm xác định nguyên nhân gây ra các rủi ro cũng nhưcác nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra cho doanh nghiệp.

1.2.1.1 Phương pháp nhận dạng (phát hiện) rủi ro

Có 3 phương pháp chủ yếu được sử dụng để phát hiện rủi ro:

Phương pháp dựa trên những rủi ro đã xảy ra trong quá khứ:

Phướng pháp này dựa trên những rủi ro doanh nghiệp gặp phải trong quá khứ

để xác định những rủi ro mà doanh nghiệp sẽ phải đối mặt trong tương lai.Việc nghiên cứu các rủi ro đã gặp phải trong quá khứ không chỉ giới hạn ởnguyên nhân gây rủi ro mà cả những nhân tố làm gia tăng xảy ra rủi ro Chođến nay vẫn là phướng pháp chủ yếu được các nhà quản lý sử dụng để pháthiện rủi ro

Phương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi

ro Để thực hiện được phương pháp này trước hết cần xây dựng lưu đồ trìnhbày các loại hoạt động của doanh nghiệp Ví dụ đối với doanh nghiệp truyềntải thì sản phẩm bắt đầu là nhận điện từ các nhà máy điện phát lên hệ thống,qua hệ thống lưới truyền tải điện cung cấp đến các phụ tải thông qua các điệnlực

Hình 1.1: Quá trình sản xuất của ngành truyền tải điện

Phương pháp hệ thống an toàn: Phương pháp này do các nhà khoa học

phát triển chương trình vũ trụ của Mỹ phát minh ra Do những rủi ro tronglĩnh vực này hầu hết chưa được biết tới trong quá khứ lại đòi hỏi phải ngănngừa tối đa nên các nhà khoa học phải xây dựng mô hình mô phỏng rủi ro

Các nhà máy phát

điện, cung cấp điện

lên hệ thống

Truyền tải điện

Truyền tải điệnQuản lý vận hành

hệ thống điện

Các điện lực nhậnđiện, cung cấp điệnđến khách hàng

Trang 22

trên cơ sở những phân tích về qui trình hoạt động và môi trường hoạt động,qua đó sẽ phát hiện những rủi ro sinh ra trong môi trường giả lập đó Các môhình như vậy thường rất phúc tạp, cần có sự giúp đỡ của máy tính Với nhữngdoanh nghiệp phạm vi hoạt động, qui mô lớn như tập đoàn đa quốc gia, việc

sử dụng phương pháp này không thể thiếu để hổ trợ phát hiện những rủi rotiềm tàng nảy sinh ở môi trường kinh doanh mới

1.2.1.2 Công cụ phát hiện rủi ro:

Bảng câu hỏi nghiên cứu phân tích rủi ro: Đây là công cụ chủ yếu

được sử dụng trong phát hiện rủi ro Các câu hỏi sắp xếp theo nguồn gốc rủi

ro, hoặc theo môi trường tác động xoay quanh các vấn đề như các rủi ro màdoanh nghiệp gặp phải, mức độ tổn thất, số lần xuất hiện rủi ro trong khoảngthời gian nhất định, những biện pháp phòng ngừa hiệu quả của chúng Đâykhông phải là các câu hỏi dùng để phỏng vấn hay khảo sát như các bảng điềutra thông thường mà là hệ thống các vấn đề cần tìm hiểu để giúp nhà quản trịđịnh hướng trong quá trình xác định rủi ro

Danh mục các nguy cơ: Liệt kê các rủi ro thường gặp Tuy nhiên nó

không thể bao quát hết các rủi ro mà các doanh nghiệp có thể gặp phải, chonên cần phải dùng kết hợp các công cụ khác

Danh mục các rủi ro được bảo hiểm: Danh mục này có thể lấy từ các

công ty bảo hiểm nhằm xác định các rủi ro nào có thể di chuyển hay chia sẻbằng các hợp đông bảo hiểm Những thống kê của các công ty bảo hiểm vềcác rủi ro có thể gặp phải cũng là cơ sở tốt cho việc xác định các rủi ro doanhnghiệp

Các hệ thống chuyên gia: Đây là qui trình phát hiện rủi ro được xây

dựng sẵn cho từng lĩnh vực nhất định, là sự kết hợp của 3 công cụ trên Tuynhiên hệ thống này không phải lúc nào cũng có sẵn, hơn nữa nó không phù

Trang 23

1.2.1.3 Phân tích rủi ro kết hợp với nhận diện rủi ro

Nhận diện được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể đếnvới doanh nghiệp tuy là quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là yêucầu khởi đầu của công tác quản lý rủi ro Cùng với việc nhận diện rủi rongười quản lý phải xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở

đó mới có thể tìm ra được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đố mới

có thể tìm ra được biện pháp phòng ngừa

Một trong nhiều cách để tìm biện pháp phòng ngừa rủi ro là dựa và lýthuyết “DOMINO” của H.W.Henrich , phương pháp đó có thể minh họa nhưsau

Hình 1.2: Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich

Nguồn: “Risk Management And Insurance” C.Arthur Wiliam Jr.Micheal, I.Smith

1.2.2 Đánh giá rủi ro, đo lường rủi ro

1.2.2.1 Phân loại mức độ nghiêm trọng của rủi ro:

Căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của rủi ro để đưa ra các giải pháp ưutiên đối phó, được tiến hành bằng các nội dung:

Trang 24

- Nhóm nguy hiểm: Bao gồm những rủi ro mà hậu quả của nó có thể đẫn

đến phá sản của doanh nghiệp

- Nhóm quan trọng: Bao gồm các rủi ro mà hậu quả của nó không phải là

nguyên nhân chủ yếu làm cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản nhưngvẫn gây ra những thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp

- Nhóm không quan trọng: Bao gồm những rủi ro có thể gây trở ngại hay

tổm thất nhất định cho doanh nghiệp

1.2.3 Xác định chỉ tiêu đánh giá mức độ nghiêm trọng

Giúp nhà quản lý quyết định doanh nghiệp có thể tự mình gánh chịu rủi

ro hay phải chuyển giao bớt rủi ro (mua bảo hiểm), nếu phải chuyển giao rủi

ro thì điều kiện bảo hiểm nào là thích hợp để vừa tiết kiệm được chi phí vừađảm bảo được an toàn cho doanh nghiệp Để đánh giá mức độ nghiêm trọnghay qui mô tổn thất của mỗi rủi ro, nhà quản lý thường sử dụng hai chỉ tiêu:Mức độ tổn thất tối đa và khả năng xảy ra tổn thất

Xác định chỉ tiêu đánh giá mức độ nghiêm trọng giúp cho nhà quản lýquyết định doanh nghiệp có thể tự mình gánh chịu rủi ro hay phải chuyển giaobớt rủi ro (mua bảo hiểm), nếu phải chuyển giao rủi ro thì điều kiện bảo hiểmnào là thích hợp để vừa tiết kiệm được chi phí vừa đảm bảo được an toàn chodoanh nghiệp Để đánh giá mức độ nghiêm trọng hay qui mô tổn thất của mỗirủi ro, nhà quản lý thường sử dụng hai chỉ tiêu mức độ tổn thất tối đa và khảnăng xảy ra tổn thất

- Mức độ tổn thất tối đa mà rủi ro có thể gây ra cho doanh nghiệp:

Tổn thất khi rủi ro xảy ra, bao gồm các thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp,thiệt hại hữu hình và thiệt hại vô hình Những thiệt hại này không chỉ baogồm những thiệt hại xảy ra ngay khi đó mà cả những thiệt hại còn tiếp diễnsau này Khi rủi ro xảy ra, nó không chỉ gây thiệt hại trực tiếp mà còn kéo

Trang 25

ra đối với doanh nghiệp không chỉ bao gồm các thiệt hại trực tiếp mà còn baogồm cả những thiệt hại gián tiếp do rủi ro gây ra Những thiệt hại trực tiếpnày không chỉ bao gồm những thiệt hại xảy ra khi đó mà cả những thiệt hạicòn tiếp diễn sau này

- Mức độ khả năng xảy ra tổn thất: Chỉ tiêu này phản ánh tần suất xuất

hiện của rủi ro, số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểmđối với doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (năm, quý,tháng, ) Chỉ tiêu này phản ánh tần suất xuất hiện của rủi ro, số lần xảy ra tổnthất hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với doanh nghiệp trong mộtkhoảng thời gian nhất định (Năm, quí, tháng )

1.2.4 Các phương pháp đo lường phân tích rủi ro

Rủi ro nói chung đối với doanh nghiệp thường được đánh giá cùng vớiviệc sơ kết, tổng kết định kỳ, thực hiện các chiến lược, kế hoạch, dự án sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu (hiện vật, giá trị) kết quả

và hiệu quả kinh doanh như về sản phẩm, hàng hóa sản xuất được…Tuynhiên để nhận biết được từng loại rủi ro, tổn thất cụ thể nhất định, doanhnghiệp cần sử dụng kết hợp các phương pháp đo lường định lượng và cácphương pháp đánh giá định tính sau đây:

a Phương pháp đo lường định lượng

Để đánh giá khả năng xảy ra tổn thất có thể thực hiện thông qua phântích lượng hóa trên cơ sở lý thuyết xác suất Ba biến số về rủi ro mà nhà quản

lý thường tính toán phân phối xác suất là số lần tổn thất mà doanh nghiệp gặpphải trong một khoảng thời gian nhất định, mức độ thiệt hại của từng tổn thất

và tổng giá trị tổn thất mà doanh nghiệp phải chịu trong một khoảng thời giancho trước

Rủi ro = Xác suất xuất hiện X mức tổn thất/kết quả

Trang 26

Có nhiều phương pháp định lượng dùng để đo lường phân tích rủi ro Đó

là các phương pháp phân tích xác suất, phân tích phương sai hoặc độ lệchchuẩn, phân tích hệ số biến thiên, phân tích độ nhạy, phân tích những nhân tốảnh hưởng, phân tích kịch bản, dưới đây trình bày một số phương phápchính được sử dụng trong đề tài này:

- Phương pháp triển khai tổn thất: Phương pháp này dựa trên số liệu

tổn thất trong quá khứ để ước lượng các tổn thất có thể xảy ra trong tương lai(nếu tình hình chung thay đổi không đáng kể thì quy luật tổn thất vẫn có thểcòn phù hợp)

- Phương pháp triển khai tổn thất dựa trên đối tượng rủi ro: Phương

pháp này được sử dụng để ước lượng các chi trả dựa trên các hoạt động có thểđược quy định trên một đơn vị chuẩn

- Ước lượng độ chính xác: Đối với rủi ro của doanh nghiệp ta không chỉ

quan tâm đến tổn thất trung bình mà còn phải chú ý đến tổn thất lớn nhấtđược ước lượng là bao nhiêu MPC là giá trị tổn thát lớn nhất nhà quản trị rủi

ro tin là có khả năng xảy ra và khả năng chi phí thực vượt quá giá trị này đượcgọi là “dung sai rủi ro” Nếu biết được phân phối xác suất của chi phí ta có thểước lượng ngay MPC

- Phân tích xác suất: Phân tích xác suất cụ thể hóa mức phân bố xác

suất cho mỗi rủi ro và xem xét ảnh hưởng của rủi ro tác động đến toàn bộ dự

án, hay hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đây là phương pháp phântích định lượng thường sử dụng trong phân tích rủi ro, đặc biệt sử dụng kỹthuất lấy mẫu Phương pháp này dựa vào sự tính toán ngẫu nhiên các giá trịtrong các phân phối xác suất nhất định, được mô tả dưới ba dạng ước lượng làtối thiểu, trung bình và tối đa Kết quả của dự án hay hoạt đông kinh doanh là

sự kết hợp của tất cả giá trị được lựa chon cho mỗi mức rủi ro Sự tính toán

Trang 27

này được lặp lại một số lần khá lớn để nhận được phân bố xác suất cho kếtquả dự án hay hoạt động kinh doanh.

b Phương pháp đo lường định tính

Trong thực tế không phải rủi ro nào cũng lượng hóa được Đối với rủi rokhó quan sát, khó lượng hóa, thay vì mô hình lượng hóa, các doanh nghiệptrên thế giới có xu hướng sử dụng phương pháp đánh giá định tính dựa trêncác ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Như vậy, phương pháp đánh giá định tính là phương pháp dựa trênnhững đánh giá của các chuyên gia để từ đó xếp hạng các rủi ro và đưa ra mộtbáo cáo tổng hợp Phương pháp này được sử dụng đối với những rủi ro dokhó lường bằng định lượng

Bảng 1.1: Khả năng đo lường của một số rủi ro

Rủi ro liên quan đến chiến

lược và thực hiện chiến lược

Rủi ro do các yếu tố bên

ngoài khác gây nên

Nguồn: Credit Suisse Group 2000

Dùng phương pháp ma trận để đo lường rủi ro:

Theo phương pháp này, người ta cần thu thập số liệu và phân tích đểđánh giá mức độ rủi ro cao hay thấp:

-Tần suất xuất hiện của rủi ro; đó là số lần xảy ra tổn thất hay khả năngxảy ra biến cố nguy hiểm đối với doanh nghiệp trong một khoảng thời giannhất định (tháng, quý, năm, )

Trang 28

- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro; đó là tổn thất, mất mát, nguy hiểm, Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro Bảng 1.2

Bảng 1.2 Ma trận đo lường rủi ro

Mức độ nghiêm trọng ThấpTần xuất rủi ro cóthể xẩy ra Cao

II và III và sau cùng là nhóm IV

Phương pháp đánh giá đơn giản nhất là lấy ý kiến chuyên gia để xếphạng rủi ro

Thông qua việc xếp hạng, các yếu tố đánh giá định tính có thể đượcchuyển thành đánh giá định lượng Công việc đánh giá trải qua ba bước:

Liệt kê và đánh giá định kỳ rủi ro

Trang 29

Chấm điểm rủi ro dựa trên các tiêu chí: mức độ nghiêm trọng, tần sốphát sinh, thời điểm có khả năng phát sinh,

Thông qua việc chấm điếm, các chuyên gia sẽ tập hợp và đưa ra nhữngchỉ tiêu để theo dõi sự biến đối của rủi ro

Phương pháp đánh giá định tính giải quyết được hai vấn đề hạn chế củaphương pháp đo lượng định lượng Một là, phương pháp này không đánh giáđược các rủi ro khó đo lường được Hai là, khi môi trường kinh doanh thayđổi phương pháp này cho kết quả nhanh hơn mô hình đánh giá định lượng vìkhi đó mô hình định lượng phải được điều chỉnh rất nhiều bước mới có thểcập nhật được kết quả

Khác với mô hình định lượng, phương pháp định tính không đưa ra mộtgiá trị tuyệt đối của tổn thất gây ra bởi một loại rủi ro nào đó mà chỉ theo dõi

sự biến đổi của các yếu tố này

Hạn chế của phương pháp định tính là nhận xét, đánh giá, xếp hạng, vàchấm điểm rủi ro đều là chủ quan Chính vì vậy đề tài này sẽ kết hợp cả haiphương pháp định tính và định lượng

Không thể phủ nhận tác dụng của việc lượng hóa các loại rủi ro nhưngkhông nhất thiết các doanh nghiệp phải lượng hóa được tất cả các rủi ro, màchỉ nên tập trung đo lường các rủi ro quan trọng Nguyên lý mà các chuyêngia quản trị rủi ro đưa ra là 80/20 nghĩa là doanh nghiệp nên dành 80% nguồnlực phân bổ cho quản lý rủi ro vào 20% rủi ro quan trọng nhất Tuy nhiênnhiều khi rủi ro quan trọng lại khó lượng hóa và khi đó doanh nghiệp cần phảilinh hoạt áp dụng phương pháp đánh giá định tính

Việc kết hợp giữa các phương pháp định lượng và định tính đều là cầnthiết trong hoạt động quản lý rủi ro của doanh nghiệp

Trang 30

1.2.5 Kiểm soát rủi ro

Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của quản trị rủi ro là phải kiểm soátđược rủi ro Đối với một quyết định đầu tư hay giao dịch kinh doanh cụ thể,

có nhiều rủi ro tiềm tàng cùng đe dọa xảy ra Các rủi ro này có thể xảy ra,nhưng cũng có thể không xảy ra, tác động của chúng có thể dao động từ rấtlớn đến rất nhỏ Chúng có thể chỉ là đe dọa, nhưng cũng có thể làm cho doanhnghiệp bị tổn thất nặng nề Do vậy vấn đề ở đây là làm thế nào kiểm soátđược rủi ro, giới hạn tác động của nó trong phạm vi cho phép

Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng những chiến lược, các chương trình hoạtđộng, các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảmthiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với doanhnghiệp Các biện pháp kiểm soát rủi ro được chia thành các nhóm sau:

- Các biện pháp né tránh rủi ro;

- Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất;

- Các biện pháp giảm thiểu tổn thất

- Các biện pháp chuyển giao rủi ro

Các biện pháp đa dạng hóa rủi ro

Trang 31

Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra: Để tránh được rủi ro,

doanh nghiệp cần có những thông tin cần thiết và tin cậy về đối tác, phân tích

kỹ về điều kiện, tính khả thi của kế hoạch, dự án hoặc hợp đồng kinh doanh,

dự báo khả năng và mức độ nghiêm trọng cao hay thấp của những rủi ro cóthể xảy ra trong quá trình thực hiện Trên cơ sở sở đó, doanh nghiệp đi đếnquyết định thực hiện hay không, nhằm tránh những rủi ro và tổn thất có thểxảy ra cho doanh nghiệp

Né tránh bằng cách loại bỏ các nguyên nhân gây ra rủi ro: Đây là

nhóm biện pháp né tránh rủi ro được tiến hành trên cơ sở doanh nghiệp phântích, xác định những nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro cho một dự án kinhdoanh, nhằm tìm cách loại bỏ những nguyên nhân đó

Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất

Ngăn ngừa tổn thất là sử dụng các biện pháp khiến cho rủi ro không thểxảy ra, nhờ vậy mà tránh được thiệt hại rủi ro mang lại Nhóm biện pháp ngănngừa tổn thất gồm:

- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy hiểm (nguyênnhân) gây ra rủi ro để ngăn ngừa tổn thất

- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro

- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa mối nguy cơ và môitrường rủi ro

Các biện pháp giảm thiểu tổn thất

Các biện pháp giảm thiểu tổn thất có thể bao gồm các phương pháp sau:

- Cứu vớt những tài sản sử dụng được

- Chuyển nợ

- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro

- Dự phòng

- Phân tán rủi ro

Trang 32

Các biện pháp chuyển giao (chia sẻ) rủi ro:

Chuyển giao rủi ro có thể thực hiện bằng cách:

- Chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác hoặcdoanh nghiệp khác

- Chuyển rủi ro thông qua con đường ký kết hợp đồng với người hoặc tổchức khác, trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tàisản cho người nhận rủi ro Ví dụ quy định rõ mốc thời gian giao nhận tài sản,giao nhận hàng hóa, giao nhận trách nhiệm; quy định về kiểm tra tình trạngtài sản khi chuyển giao

- Chuyển giao chia sẻ rủi ro bằng các hợp đồng bảo hiểm

- Thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm v.v

Đa dạng hóa rủi ro

“Không mang tất cả trứng gà đặt vào một rổ” là một phương pháp quản

lý tránh rủi ro hiệu quả Một biện pháp kinh doanh là thông qua việc thành lậpnhững doanh nghiệp cổ phần hoá, tập trung vốn từ nhiều cá nhân, đoàn thể vàcác tổ chức kinh tế khác nhau và dùng nó để mở rộng quy mô của doanhnghiệp, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Phương thức phân tán rủi ronày được giới doanh nghiêp áp dụng tương đối nhiều Rủi ro về tiền vốn trênthực tế đã được phân tán đến tất cả những người cùng đầu tư Các nhà đầu tư

họ không tập trung đầu tư vào một dự án mà tìm kiếm khả năng đầu tư vàomột số dự án để phân tán rủi ro, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất

Phân tán rủi ro chính là việc thực hiện nguyên tắc kinh điển trong kinhdoanh “Không bỏ trứng vào một giỏ” Để phân tán rủi ro nhằm ngăn ngừa vàhạn chế rủi ro trong kinh doanh cần phải thực hiện một số giải pháp cụ thểsau:

- Đầu tư vào nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau để tránh được sự cạnh

Trang 33

hẹp của một số ngành đang phát triển cũng như tránh gặp phải rủi ro donhững chính sách của Nhà nước với mục đích hạn chế hoạt động của một sốngành nghề nhất định trong kế hoạch cơ cấu lại một số ngành nghề kinh tế.Chấp nhận rủi ro

Chấp nhận rủi ro là biện pháp để không thể bỏ lỡ cơ hội kiếm lời (với rủi

ro suy đoán) Trong trường hợp này doanh nghiệp phải dự phòng nguồn lựctài chính để kịp thời bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra để không ảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.6 Tổ chức triển khai thực hiện quản trị rủi ro

Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo ra lợi thế cạnhtranh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận tối đa và ổn địnhcho mình và cho các đối tác trong kinh doanh Để có thể đạt được mục tiêu

đó, doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàngloạt chương trình, kế hoạch thực thi chiến lược đã đề ra Trong quá trình thựcthi chiến lược thường xảy ra nhiều rủi ro làm ảnh hưởng tới tiến trình đạt tớimục tiêu của doanh nghiệp Hệ thống quản lý rủi ro của doanh nghiệp đượcthiết lập nhằm vượt qua thử thách này

Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro Cũng nhưkhái niệm rủi ro, khái niệm quản trị rủi ro có nhiều cách nhìn nhận khác nhau.Theo tác giả D van Well - Stam [3], quản trị rủi ro được hiểu là toàn bộ nhữnghoạt động và phương thức nhằm mục đích đối phó với những rủi ro để duy trì

và kiểm soát các vấn đề Quản trị rủi ro, vì thế, sẽ không phải là vấn đề mới

mẻ Ai cũng phải kiểm soát các rủi ro xảy đến cho mình, ngay trong cuộcsống hàng ngày Chẳng hạn, khi người ta băng qua đường, việc đầu tiên làphải quan sát trước sau, bên trái bên phải Cũng như thế, những nhà quản trịthường xuyên phải lưu ý đến các rủi ro ngay trong các hoạt động quản trị diễn

ra hàng ngày của doanh nghiệp

Trang 34

Theo Vũ Huy Từ: “Quản trị rủi ro là quả trình tiếp cận và xử lỷ rủi romột cách hệ thống, khoa học và toàn diện thông qua các hoạt động nhận diện

và đo lường rủi ro, xây dựng và thực hiện kế hoạch, các biện pháp phòngngừa, ngăn chặn rủi ro xảy ra, tiến hành việc kiểm soát, giảm thiểu những tổnthất gây ra cho doanh nghiệp một khi xảy ra rủi ro cũng như dự phòng về tàichính để bù đắp các tổn thất đó [1]

Từ những điều nêu trên cho thấy, mặc dù thuật ngữ quản trị rủi ro cònmới mẻ trong ngôn ngữ kinh tế song những nội dung của quản trị rủi ro đãxuất hiện từ trước trong thực tiễn kinh doanh phong phú, đa dạng của conngười

Tóm lại, thuật ngữ quản trị rủi ro theo tác giả định nghĩa “Là một chứcnăng quản trị chuyên sâu nhưng lồng ghép vào mọi chức năng quản trị đãbiết, bao gồm một tập hợp các nhiệm vụ của bộ máy quản trị doanh nghiệpnhằm nhận dạng, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, nhữngảnh hưởng bất lợi do rủi ro gây ra

Như vậy, có thể tóm tắt chức năng chính của quản trị rủi ro trong sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp là:

1) Xây dựng chiến lược và chính sách quản trị RR

2) Thiết kế định hướng quản trị RR

3) Nâng cao nhận thức về quản trị RR , đào tạo về quản trị RR trong DN4) Xây dựng chính sách và cơ chế quản trị RR trong doanh nghiệp

5) Thiết kế và ra soát quy trình quản trị RR

6) Điều phối hoạt động quản trị RR

7) Xây dựng quy trình ứng phó RR, dự phòng, duy trì hoạt động DN8) Lập bảo cáo về RR và quản trị RR, thống kê lưu trữ số liệu

Trang 35

Các DN trên thế giới thường tổ chức hệ thống quản trị RR theo 2 hệthống: Hệ thống quản trị rủi ro tập trung và hệ thống quản trị rủi ro phi tậptrung.

Hệ thống quản trị rủi ro tập trung

Hệ thống quản trị rủi ro tập trung là hệ thống mà theo đó văn phòngdoanh nghiệp tập trung kiểm soát rủi ro của các hoạt động trong toàn doanhnghiệp, kể cả ở các chi nhánh, các bộ phận và các công ty con

Hệ thống quản trị rủi ro phi tập trung

Hệ thống quản trị rủi ro phi tập trung là hệ thống trong đó việc quản trị

RR chủ yếu dựa và sự kiểm soát của các chi nhánh, các bộ phận và các công

ty con

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1 Nhóm nhân tố từ bên ngoài doanh nghiệp:

Đây là các nguyên nhân mang tính khách quan, xuất phát từ môi trường

tự nhiên, chính trị, kinh tế và văn hóa mà doanh nghiệp hoạt động chúngkhông chỉ ảnh hưởng tới riêng một mình doanh nghiệp mà tới tất cả các doanhnghiệp hoạt động trong cùng môi trường đó, bao gồm các nhân tố:

- Các nhân tố có nguồn góc từ môi trường thiên nhiên đầy bất trắc:

Môi trường thiên nhiên thế giới hiện nay đang là nơi chứa đựng rất nhiềuhiểm họa, nguy cơ rủi ro, tổn thất mang tính toàn cầu Đó là những rủi ro docác thảm họa, tự nhiên như bão lụt, động đất, sóng thần, núi lửa phun, tìnhtrạng thời tiết khắc nghiệt (EL Nino, La Nina)…gây ra những bất ổn lớn vềtải sản

- Nhân tố có nguồn góc từ môi trường chính trị phức tạp và bất ổn trên thế giới: Cuối thể kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, dù cuộc chiến

tranh lạnh đã đi vào dĩ vãng, nhưng trên khắp thế giới vẫn liên tiếp xảy ra các

Trang 36

cuộc xung đột vũ trang, các cuộc chiến tranh khốc liệt, gây nên tổn thất to lớn

về người và của, để lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, xãhội cho nhiều quốc gia, dân tộc, đẩy cuộc sống của nhân dân nhiều nước vàkhu vực rơi vào thảm họa nghèo đói, chết chóc, bệnh tật, tỵ nạn… Môitrường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp vàngược lại, khi một chính thể mới ra đời sẽ có thể làm đảo lộn hoạt động củarất nhiều doanh nghiệp tổ chức: Kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa ảnhhưởng của môi trường chính trị lại càng lớn Chỉ có những nhà quản lý doanhnghiệp biết nghiên cứu kỹ, nắm vững và có những chiến lược, sách lược thíchhợp với môi trường chính trị không chỉ ở nước mình, mà còn ở các nước cóliên quan đến kinh doanh cuả doanh nghiệp thì mới có cơ hội gạt hái đượcthánh công rực rỡ

- Các nhân tố có nguồn gốc từ sự thiếu hiểu biết môi trường văn hóa,

xã hội đa dạng của các dân tộc trên thế giới:“Văn hóa bao gồm tất cả

những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh

vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và laođộng” (Định nghĩa văn hóa của UNESCO) Môi trường văn hóa- xã hội củamỗi quốc gia, dân tộc chi phối mạnh mẽ đến tâm tư tình cảm, hành vi ứng xử,

sở thích, thị hiếu của dân nước đó, các doanh nghiệp cần phải biết sâu sắc,nắm chắc và tận dụng được cơ hội trong kinh doanh của mình

- Các nhân tố có nguồn gốc từ các chính sách kinh tế và môi trương pháp lý thiếu ổn định, thiếu rõ ràng minh bạch:Chính sách phát triển kinh

tế của mỗi quốc gia thường được cụ thể hóa bằng một hệ thống các văn bảnpháp lý và cơ chế điều hành Trong thực tế nhiều hệ thống các văn bản pháp

lý và cơ chế điều hành mâu thuẫn thậm chí trái ngược với chính sách chungcủa nhà nước Sự thay đổi và tính không ổn định của các chính sách kinh tế

Trang 37

ro trong kinh doanh mà các doanh nghiệp thường mắc phải Mọi hiện tượngdiễn ra trong môi trường kinh tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát,…đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp, gây ra nhữngrủi ro bất ổn Đặc biệt các hiện tượng tỷ giá hối đoái, lãi suất thay đổi, giá cảhàng hóa biến động, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt đọng kinh doanh củacác doanh nghiệp, nhất là trong các hoạt động xuất nhập khẩu và kinh doanhquốc tế.

- Nhân tố có nguồn gốc liên quan tới sự phát triển kỹ thuật, công nghệ: Sự phát triển của kỷ thuật công nghệ luôn là động lực cho sự phát triển

của hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trong trường hợp nhất địnhchúng cũng tạo ra những rũi ro mới cho xã hội nói chung và hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp nói riêng Có thể sự phát triển nhanh của công nghệkhiến cho doanh nghiệp chịu chi phí lớn khi phải chạy theo công nghệ mới đểdành ưu thế cạnh tranh, hoặc sự phát triển quá nhanh không kèm theo cácbiện pháp ngăn ngừa những tác hại của sự phát triển đó, chẳng hạn đầu tưcông nghệ mới trình độ cao nhưng tay nghề và khả năng vận hành của côngnhân chưa đáp ứng kịp; sự phát triển của công nghệ hạt nhân nguyên tử, côngnghệ viễn thông chưa tính đến tác hại của chất thải hạt nhân, hay tình trạng bịtấn công trên mạng…

- Các nhân tố có nguồn gốc từ bên ngoài khác: Đây là các nguyên

nhân có nguồn gốc từ bên ngoài doanh nghiệp nhưng chỉ ảnh hưởng tới riêngmột số ít doanh nghiệp nào đó bao gồm các nguyên nhân có nguồn gốc tựnhiên như lốc, bão, mưa úng lụt cục bộ….và các nguyên nhân có nguồn gốc

từ hành vi con người như hành vi cạnh tranh không trung thực, làm hàng giảhàng nhái…Các nguyên nhân này thường do các chủ thể có quan hệ vớidoanh nghiệp gây nên như nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, cácđơn vị quản lý

Trang 38

1.3.2 Nhóm nhân tố từ bên trong nội bộ doanh nghiệp:

Các nguyên nhân này phần lớn mang tính chủ quan, có nguồn gốc bêntrong doanh nghiệp Chúng xuất hiện từ các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếpcủa cá nhân và doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, nhóm nguyên nhannày rất đa dạng và phức tạp, có thể khái quát một số nguyên nhân chính sau:

- Sai lầm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp về việc lựa chọn chiến lược kinh doanh: Chiến lược kinh doanh là toàn bộ các phương sách mang

tính tổng thể bao gồm: Tư tưởng, phương châm, mục tiêu nhiệm vụ, các bước

và các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược nhằm phát triểndoanh nghiệp trong một thời kỳ trương đối dài Chiến lược kinh doanh dolãnh đạo công ty đề ra trên cơ sở khảo sát, phân tích các điều kiện môi trườngbên trong và ngoài doanh nghiệp Xác định đúng đắn chiến lược kinh doanh

sẽ có tác động thúc đẩy và bảo đản sự phát triển đi lên của doanh nghiệp.Ngược laị việc lựa chọn một chiến lược kinh doanh sai lầm của lãnh đạodoanh nghiệp sẽ gây ra hậu quả nghiệm trọng, dẫn tới con đường bế tắc, sailầm dẫn đến đỗ vỡ thậm chí phá sản

- Sự thiếu thông tin kinh doanh có thể dẫn đến những quyết định sai lầm gây ra rủi ro, tổn thất trong kinh doanh: trong nền kinh tế thị trường

thông tin đóng một vai trò rất quan trọng đối với quản lý của doanh nghiệp.Lãnh đạo doanh nghiệp chỉ có thể ra các quyết định đúng đắn, đem lại hiệuquả cao cho doanh nghiệp trên cơ sở luồng thông tin chính xác, đầy đủ kịpthời về tình hình thị trường, khoa học công nghệ, đối thủ cạnh tranh, môitrường pháp luật trong nước cũng như thế giới

- Sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt: qui mô cơ cấu hợp lýcủa lao động, vốn, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn lực, năng lực quản

Trang 39

của doanh nghiệp sẽ dẫn đến các hậu quả như: chất lượng hành hóa thấp kém,giá thành cao dẫn tới không có khả năng cạnh tranh trên thi trường, gây rathiếu tin tưởng của đối tác, khách hàng…những hậu quả này là một trong cánguyên nhân chính gây ra sự những đổ vỡ thất bại trong kinh doanh của cácdoanh nghiệp

- Sự yếu kém về trình độ quản lý doanh nghiệp: Sự yếu kém về trình

độ của các nhà quản lý doanh nghiệp thể hiện ở sự thiếu kiến thức trong kinhdoanh và trong quản lý: Trình độ ngăng lực chưa đáp ứng yêu cầu cảu nhiệm

vụ được giao, Sự phối hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp chưa ănkhớp, thiếu nhịp nhàng, chính sách đãi ngộ, sa thải người lao động không phùhợp….Sự yếu kém nói trên sẽ dẫn đến những hậu quả như: Quan hệ đối tác vàkhách hàng bị xấu đi, chất lượng sản phẩm kém, hàng hóa bị trả lại, thậm chí

có thể xảy ra bạo loại đình công… Đây là yêu tố gây ra rủi ro, tổn thất nặng

nề cho doanh nghiệp

- Những nguyên nhân khác: Ngoài những nguyên nhân kể trên , sự sơ

suất, bất cẩn chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm, thậm chí thiếu trung thựccủa các thành viên trong doanh nghiệp cũng có thể là nhân tố gây ra rủi ro,tổn thất đáng kể cho doanh nghiệp

Đối với nguyên nhân khách quan đến từ bên ngoài doanh nghiệp thườngkhó hạn chế, loại bỏ bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài mà doanhnghiệp rất khó kiểm soát Còn đối với nhóm nguyên nhân chủ quan xuất phát

từ nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể kiểm soát bằng nhiều biện phápkhác nhau

Trang 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khoa học cả trong vàngoài nước, tác giả đã tổng hợp trình bày khái quát những lý luận cơ bản vềquản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh Có nhiều khái niệm về rủi ro nhưngđều có những điểm cơ bản sau: rủi ro có thể xảy ra bởi những yếu tố kháchquan của môi trường đồng thời cũng có thể xảy ra do những sai lầm chủ quancủa con người về sự kiện đó; rủi ro gắn với các tổn thất và những rủi ro gắnvới sự sai lệch so với dự tính; mọi sự sai lệch bất lợi so với dự tính đều coi làrủi ro

Việc phân loại rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên một

số tiêu chí sau: theo tính chất rủi ro có hai loại là rủi ro suy đoán và rủi rothuần túy; Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro Có 2 loại: rủi ro cơ bản và rủi

ro riêng biệt Theo nguyên nhân của rủi ro có hai loại rủi ro bởi các nguyênnhân khách quan, rủi ro bởi các nguyên nhân chủ quan; Phân loại rủi ro theophạm vi môi trường tác động có hai loại là: Môi trường bên trong bao gồmcác bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp; Môi trường bên ngoài bao gồm môitrường vĩ mô: thiên nhiên, chính trị, luật pháp, theo đối tượng rủi ro, có: Rủi

ro về tài sản, Rủi ro về nhân lực, rủi ro về trách nhiệm pháp lý; Phân loại theocác ngành lĩnh vực có hai loại rủi ro trong công nghiệp, rủi ro trong nôngnghiệp, Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro trong sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Các nhân tố bên ngoài: Nhà cung cấp, Nhu cầuthị trường, Đối thủ cạnh tranh, Các chính sách của nhà nước Các nhân tố bêntrong: Tình hình tài chính của công ty, Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, Độingũ nhân viên, Năng lực quản lý của ban lãnh đạo

Các vấn đề lý luận trên sẽ tiếp tục được đối chiếu, so sánh với thực trạngrủi ro của Truyền tải điện Nghệ An- Công ty Truyền tải điện 1 sẽ được trình

Ngày đăng: 13/09/2023, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Hình 1.2 Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich (Trang 23)
Bảng 2.1: Phân loại nhân lực theo chức danh - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.1 Phân loại nhân lực theo chức danh (Trang 42)
Bảng 2.2: Trình độ nhân lực năm 2014 - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.2 Trình độ nhân lực năm 2014 (Trang 43)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của Truyền tải điện Nghệ An - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Truyền tải điện Nghệ An (Trang 46)
Bảng 2.3: Sản lượng điện năng giao nhận trên từng đường dây các năm 2011, 2012, 2013, 2014 - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.3 Sản lượng điện năng giao nhận trên từng đường dây các năm 2011, 2012, 2013, 2014 (Trang 52)
Bảng 2.4: Tỷ lệ tổn thất điện năng - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.4 Tỷ lệ tổn thất điện năng (Trang 53)
Bảng 2.5: Chi phí truyền tải điện (Triệu đồng) - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.5 Chi phí truyền tải điện (Triệu đồng) (Trang 55)
Bảng 2.6. Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ của Truyền tải điện Nghệ an - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.6. Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ của Truyền tải điện Nghệ an (Trang 57)
Bảng 2.7. Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.7. Thống kê rủi ro có nguy cơ gây sự cố trên lưới TTĐ (Trang 59)
Bảng 2.8: Một số khóa học Truyền tải điện Nghệ An tham gia - Quản trị rủi ro trong quản lý vận hành lưới điện của truyền tải điện nghệ an  công ty truyền tải điện 1
Bảng 2.8 Một số khóa học Truyền tải điện Nghệ An tham gia (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w