Để thực hiện chủ trương trên, một trong những vấn đề quan trọng làphát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực,là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÚC
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tác giả, các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học, dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế đa được công bố.
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngoãn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỀN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA 5
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 5
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 5
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực 5
1.1.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 7
1.1.4 Khái niệm nguồn lực nông nghiệp, nông thôn 8
1.2 Những nội dung phát triển nguồn nhân lực 8
1.2.1 Số lượng nguồn nhân lực 8
1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 9
1.3 Vai trò phát triển nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 22
1.4 Kinh nghiệm phát triền nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở một số tỉnh trong nước 25
1.4.1 Kinh nghiệm của Bắc Ninh 25
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng 28
1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Thuận 30
Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA HUYỆN HOẰNG HÓA TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 35
2.1 Giới thiệu tổng quan về huyện Hoằng Hóa 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Về phát triển kinh tế- xã hội 50
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nông thôn huyện Hoằng Hóa trong thời kỳ 2009- 2014 54
2.2.1 Sự phát triển của lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn huyện Hoằng Hóa 54
Trang 42.2.2 Chất lượng của lực lượng lao động Nông thôn và Cán bộ quản lý
huyện Hoằng Hóa 56
2.2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn huyện Hoằng Hóa từ năm 2009 đến 2014 60
2.3 Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực nông thôn huyện Hoằng Hóa trong thời kỳ 2009- 2014 62
2.3.1 Những kết quả đạt được 62
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 66
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA HUYỆN HOẰNG HÓA TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 70
3.1 Mục tiêu tổng quát và định hướng phát triển kinh tế- xã hội từ năm 2015 đến năm 2020 của huyện Hoằng Hóa 70
3.1.1 Mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế, xã hội 70
3.1.2 Định hướng chủ yếu phát triển kinh tế- xã hội 70
3.2 Những giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực của huyện Hoằng Hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 74
3.2.1 Tăng cường công tác đào tạo người lao động và cán bộ quản lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 74
3.2.2 Hoàn thiện chính sách đất đai, bảo đảm thu nhập đời sống ổn định lao động nông nghiệp, nông thôn hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp .76 3.2.3 Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ 78
3.2.4 Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 80
3.2.5 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống, mở thêm nghề mới cho nông dân 83
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Phân loại đất huyện Hoằng Hóa 41
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu về dân số, lao động năm 2012 55
Bảng 2.3: Độ tuổi người làm nông nghiệp từ năm 2009- 2013 56
Bảng 2.4: Trình độ học vấn lao động nông thôn huyện Hoằng Hóa 57
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động nông thôn huyện Hoằng Hóa phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 57
Bảng 2.6: Cơ cấu kinh tế huyện Hoằng Hóa 2005-2011, so sánh với tỉnh 60
Bảng 2.7: Các kết quả đạt được so với quy hoạch 63
Bảng 2.8: Doanh thu các ngành dịch vụ thời kỳ 2005- 2011 65
Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng GTSX theo giai đoạn của huyện Hoằng Hóa 71
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu ngành theo các năm 71
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia Ở nước tatrong chiến lược phát triển, Đảng và Nhà nước xác định nguồn nhân lực làvấn đề trung tâm Đặc biệt nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa, cần có nguồn lực có chất lượng để đảm bảo nhiệm vụ này Nguồn nhânlực được đặt lên vị trí hàng đầu trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội,Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định: “Nguồn nhân lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu để biến một nước
có nền nông nghiệp lạc hậu như nước ta nói chung và huyện Hoằng Hóa nóiriêng trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơcấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần cao
Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển, với ưu thế về vị trí địa lýcùng tiềm năng về đất đai, tài nguyên và con người, trong những năm đổimới, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hoằng Hoá đã phát huy truyềnthống anh hùng cách mạng, nỗ lực phấn đấu vươn lên, tạo bước chuyển biếnmạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Lao động nông nghiệp
ở nông thôn Hoằng Hóa hiện nay chiếm 63,7 % lao động xã hội và một trongnhững thách thức lớn nhất là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của ngườilao động đang có xu hướng gia tăng Điều đó trong chừng mực nhất định đangcản trở bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn của huyện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện hoằng Hóa lần thứ
21 (nhiệm kỳ 2010- 2015) đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại
hóa nông nghiệp và nông thôn, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đổi mới quan
hệ sản xuất, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”.
Trang 8Để thực hiện chủ trương trên, một trong những vấn đề quan trọng làphát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực,
là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Hoằng Hóa nói riêng
Với những lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn thạc sỹ
kinh tế, chuyên ngành Quản trị kinh doanh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển nguồn nhân lực trong quá công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn là một vấn đề đã và đang thu hút nhiều sự quan tâmhiện nay, đã có nhiều tác giả qua tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và thựctiễn Các công trình tiêu biểu mà tác giả được biết như:
– Vương Quốc Vượng: “ Xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệphóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999
– GS.TS Nguyễn Đình Phan, TS Nguyễn Văn Phúc ( đồng chủ biên):
“ Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 2002
– TS Vũ Bá Thể, Học viện Tài Chính: “ Phát huy nguồn nhân lực conngười để công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2005
– TS Đoàn Văn Khải: “ Nguồn nhân lực con người trong quá trìnhcông nghiệp hóa ở Việt Nam” Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005
– TS Lê Mạnh hùng ( chủ biên): “ Thực trạng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998
Ngoài ra các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cũng có nhiều bài viết đăngtrên tạp chí Cộng sản, tạp chí Quản lý kinh tế…về phát triển nguồn lực chocông nghiệp hóa, hiện đại hóa…Các công trình trên các tác giả chủ yếunghiên cứu ở tầm vĩ mô trong phạm vi cả nước hoặc từng vùng tiêu biểu Tuynhiên, một đề tài riêng về phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tại huyện Hoằng Hóa cho đến nay chưa
Trang 9có nghiên cứu một cách tổng thể dưới góc độ quản lý kinh tế Vì vậy, đề tàiluận văn này là cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với huyệnHoằng Hóa
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực,trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp nông thôn ở huyệnHoằng Hóa,tỉnh Thanh Hóa
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nói trên luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, các nhân tố pháttriển nguồn nhân lực, và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn đối với phát triển nguồn nhân lực, vai trò phát triển nguồnnhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Hoằng Hóa, tỉnhThanh Hóa
- Đề xuất các giải pháp phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghệp, nông thôn huyện HoằngHóa từ năm 2015 đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện địa hóa nôngnghệp, nông thôn
- Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu phát phát triển nguồn nhân lựctrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tạihuyện Hoằng Hóa
Về thời gian: Luận văn giới hạn đánh giá thực trạng phát triển nguồnnhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn tại huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2005- 2014 và đề xuất giải pháp cho giaiđoạn 2014- 2020
Trang 105 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật củaNhà Nước, kế thừa và có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nộidung liên quan với đề tài
- Về phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp thống kê
Phương pháp phân tích so sánh để rút ra những kết luận cần thiết…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Hệ thống hóa lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực nói chung
và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn tại huyện Hoằng Hóa nói riêng
– Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chínhsách, chỉ đạo thực tiễn, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Hoằng Hóa,đồng thời có thể dùng làmtài liệu tham khảo, phục vụ công tác đào tạo cán bộ, đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực huyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Nước ta Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của huyện Hoằng Hóa trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Chương3: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của huyện Hoằng Hóa trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỀN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giáo trình Kinh tế chính trị thì: Nxb Chính trị Quốc gia“ Công nghiệphóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao độngthủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với côngnghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triểncủa công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xãhội cao”
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIPO) đã đưa rađịnh nghĩa sau: "Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong đómột bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được xây dựng để huy động
cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phươngtiện sản xuất, hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm nhịp độ tăng trưởng caotrong toàn nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế và xã hội"
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên có nhiều quan niệm khác nhau
về nguồn lực Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “ Nguồn nhân lực là tất
cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của conngười có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [8,tr.14]
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn conngười bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân[8,tr.9]
Trang 12Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bêncạnh các loại vốn vật chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế: “ Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia làtoàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [19,tr.15]
Nguồn lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực
là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lựccon người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư
có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng laođộng của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển xã hội, bao gồm các nhóm dân
cư trong độ tuổi lao động, khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội,tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thểcác yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Theo quan điểm của Kinh tế phát triển: “ Nguồn nhân lực là một bộphận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động [17,tr.18]
Nguồn lực biểu hiện trên hai mặt: Về số lượng đó là tổng số nhữngngười trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thờigian lao động có thể huy động được từ họ, về chất lượng, đó là sức khỏe vàtrình độ chuyê n môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động
Theo quy định của Tổng cục Thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (laođộng đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng laođộng nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây:
– Đang thất nghiệp;
– Đang đi học;
– Đang làm nội trợ trong gia đình;
– Không có nhu cầu làm việc;
– Những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động
Trang 13Khái niệm nguồn nhân lực dùng trong thống kê thị trường lao độngkhông tính những người tham gia lực lượng vũ trang, mặc dù họ là nhữngngười trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Tóm lại, các khái niệm về nguồn nhân lực có sự khác nhau tùy thuộc vào cách xác định quy mô nguồn nhân lực trên dân số, nhưng có đặc điểm chung là nguồn nhân lực phản ánh khả năng, sức lao động của một xã hội, vùng, địa phương ở những thời điểm nhất định Đây là bộ phận dân số đang tạo ra của cải vật chất, tinh thần chủ yếu cho xã hội, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Mặc dù có các cách khác nhau nhưng nguồn nhân lực của một quốc giaphản ánh đặc điểm quan trọng nhất, đó là:
Thứ nhất, số lượng nguồn lực;
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực;
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực
1.1.3 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển nguồn nhân lực:
Theo tác giả Nguyễn Minh Cường: “ Phát triển nguồn nhân lực đượchiểu là sự tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thểlực, đạo đức, tâm hồn…để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làmgiàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thốngcủa dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Dovậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên 3 mặt: Phát triển nhâncách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi chonguồn lực phát triển” [1,tr.202]
Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức lao độngQuốc tế: “ Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình
độ làng nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhucầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏamãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”
Trang 14Theo quan điểm của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc: “ Pháttriển nguồn nhân lực chịu tác động của năm yếu tố: giáo dục và đào tạo, sứckhỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trongquá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố luôn gắn
bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau; trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nềntảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng,môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu,nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực”
1.1.4 Khái niệm nguồn lực nông nghiệp, nông thôn
Nguồn lực nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận cấu thành của nguồnlực xã hội Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn ( theo nghĩa hẹp là nguồnlao động) là tổng thể sức lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn, baogồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và nhữngngười ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động trong khu vựcnông nghiệp, nông thôn
1.2 Những nội dung phát triển nguồn nhân lực
1.2.1 Số lượng nguồn nhân lực
Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương hay mộtquốc gia nào, câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ thêm baonhiêu người nữa trong tương lai Đây là những câu hỏi cho việc xác định sốlượng nguồn nhân lực Sự phát triển của số lượng nguồn nhân lực dựa trên hainhóm: Yếu tố bên trong bao gồm như: Nhu cầu mở rộng thị trường, mở rộngsản xuất….và những yếu tố bên ngoài như: Sự gia tăng về dân số hay hiệntượng di dân
Về số lượng nguồn lao động: Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lựckhá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, nước
ta có trên 49,2 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 90,59 triệungười (chiếm 57,3%), đứng thứ 3 ở Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số Số người trong độ tuổi
Trang 15từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người, chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61%lực lượng lao động, đây là lực lượng có thể tham gia xuất khẩu lao động Sứctrẻ là đặc điểm nổi trội, là tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam, là yếu tố rấtthuận cho việc phát triển kinh tế- xã hội.
Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế- xã hội nói chung và đối với với quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng Ở nước ta số lượng nguồn nhân lựcđược xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động, có khả năng laođộng (nam 15-60 tuổi, nữ 15-55 tuổi) Theo bộ luật lao động nước CHXHCNViệt Nam năm 1994 thì: “ Người lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi” Luật laođộng đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với nam là 60, nữ 55 Khitính toán khả năng cung cấp lực lượng lao động cho xã hội, người ta phải tínhđến các chỉ số về dân số, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số: Số dân ở độ tuổilao động, số người ăn theo, số người có việc làm, số người thất nghiệp…Sựgia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực, có nghĩa là
sự gai tăng sau 15, 20 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân lực Nhưngnhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăngnguồn nhân lực
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực bao gồm số người đang làm việctrong các ngành, các lĩnh vực kinh tế- xã hội hay số người có việc làm, sốngười thất nghiệp, người làm công việc nội trợ và học sinh trong độ tuổi laođộng hay lao động dự nguồn
1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực
Về chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những ngườithuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây:
– Sức khỏe;
– Trình độ văn hóa;
– Trình độ chuyên môn- kỹ thuật ( cấp trình độ được đào tạo);
Trang 16– Năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp( khả năng thực tế
về chuyên môn kỹ thuật);
– Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt,nhanh nhạy với công việc và xã hội, mức độ sẵn sàng tham gia lao động…);
– Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc và môitrường làm việc…;
– Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực;
– Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân ( nhu cầuvật chất và tinh thần) của người lao động
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực,
là tố chất, bản chất bên trong của nguồn lực, nó luôn có sự vận động và phảnánh trình độ phát triển kinh tế- xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư
Về chất lượng nguồn lao động: Trong tổng số 49,2 triệu người trong độtuổi lao động, chỉ có 7,3 triệu người đã được đào tạo, chiếm 14,9% lực lượnglao động Trong số những người đang theo học ở các trường chuyên nghiệptrên toàn quốc thì tỷ lệ người đang theo học trình độ sơ cấp là 1,7%, trung cấp20,5, cao đẳng 24,5% và Đại học trở lên là 53,3% Tỷ trọng lao động đã quađào tạo ở nước ta rất thấp, cụ thể là 86,7% dân số trong độ tuổi lao động chưađược đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, đáng chú ý hơn là khu vực nông thôn, nơiphần lớn người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài thì tỷ lệlao động chưa được đào tạo chiếm 92% Như vậy, đội ngũ lao động của ta trẻ
và dồi dào nhưng chưa được trang bị chuyên môn, kỹ thuật Hiện cả nước cóhơn 41,8 triệu lao động, chiếm 85,1% lực lượng lao động chưa được đào tạo
để đạt một trình trình độ chuyên môn, kỹ thuật nào đó
1.2.2.1 Những đặc trưng của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn và những nhân tố ảnh hưởng
Một là, nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong nguồn nhân lực xã hội ở nước ta.
Nước ta là một đất nước nông nghiệp, có khoảng 78% dân số sinh sống
ở các vùng nông thôn và đại bộ phận dân cư và lao động làm ăn sinh sống
Trang 17bằng nghề nông Dân số nước thuộc loại dân số trẻ Theo kết quả điều tra dân
số và nhà ở giữa năm nay, tổng dân số Việt Nam đạt gần 90,5 triệu người,trong đó nam chiếm hơn 49%, nữ chiếm gần 51% Tỷ lệ gia tăng dân số củaViệt Nam giảm từ 1,17% (2002) xuống còn 1,06% (2012) Năm 2014 tỷ lệ giatăng dân số tự nhiên là 1,27%
Do việc thực hiện đúng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nôngthôn, cơ cấu lao động trong các lĩnh vực ngành nghề có sự thay đổi rõ rệt.Tính đến 2011, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 59,6%,giảm đáng kể so với mức 70,4% của năm 2006 và 79,6% của năm 2001; Tỷtrọng lao động công nghiệp, xây dựng lần lượt ở các năm 2011, 2006 và 2001
là 18,4%, 12,5% và 7,4%; tỷ lệ lao động dịch vụ là 20,5% và 11,9% ở 3 nămtương ứng Kết quả đạt được về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn năm
2011 tuy có tiến bộ so với các năm 2001 và 2006 nhưng vẫn còn chậm và cókhoảng cách xa so với yêu cầu Trong 10 năm từ 2001-2011, tỷ trọng laođộng nông, lâm, thủy sản mới giảm được 20% từ khoảng 78% năm 2001xuống khoảng 60% vào năm 2011, bình quân mỗi năm giảm được 2%
Hai là, lao động nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Một trong những nguyên nhân khiến cho việc trồng lúa nước cũng nhưcác cây rau màu khác cần một lực lượng lao động lớn là do tính thời vụ cao(gieo trồng, thu hoạch) Những công việc cần nhiều lao động như vậy lại chỉdiễn ra trong một số tháng trong năm Tính chất thời vụ của việc canh tác lúanước đã dẫn đến tình trạng nông nhàn cao trong nông nghiệp Tính chất đặcthù của sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến lượng “cầu” về lao động nôngnghiệp có biên độ dao động rất lớn giữa các kỳ thu hoạch Kết quả là mộtlượng lao động làm nông nghiệp trở nên nhàn rỗi trong những tháng mùa khôhoặc trước và sau vụ thu hoạch Chính đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến mức
độ sử dụng lao động trong khu vực này
Trang 18Ba là, điều kiện làm việc của lao động nông nghiệp nước ta còn vất vả và nặng nhọc.
Lao động nông nghiệp chủ yếu vẫn là thủ công, trong khi có các khâucông việc như cày bừa, cấy lúa, vận chuyển vật tư và sản phẩm đều là nhữngcông việc nặng nhọc, tốn nhiều sức lực của người lao động Công cụ tuy đãđược cải tiến nhưng vẫn còn lạc hậu, vấn đề đặt ra là các Viện nghiên cứu,các doanh nghiệp, các nhà khoa học phải nghiên cứu, cải tiến chế tạo các loạicông cụ cơ khí vừa và nhỏ phù hợp với khả năng kinh tế của nông dân, trên
cơ sở đó từng bước giảm bớt các khâu nặng nhọc, độc hại đồng thời nâng caonăng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, vấn đề cơ giới hóanông nghiệp ở nước ta vẫn đang trong tình trạng mâu thuẫn giữa yêu cầu củahiện đại hóa với lực lượng lao động dư thừa quá lớn ở nông thôn, cần phải cógiải pháp hữu hiệu từng bước khắc phục
Bốn là, chất lượng lao động nông thôn.
Tuy có những bước phát triển nhưng nguồn nhân lực ở nông thôn cònnhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa, thể hiện ở một số nét chủ yếu sau:
– Trình độ, văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của người lao động ởnông thôn còn thấp: ví dụ về trình độ học vấn phổ thông năm 2004 so vớinăm 2003, nhìn chung tỷ lệ mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học của lực lượnglao động cả nước là 17,1%, giảm 3,1% Còn tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở
là 32,8%, tăng 2,6% và PTTH là 19,7% tăng 1,4%
– Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ qua đào tạo nói chung cảnước là 22,5% Trong đó tỷ lệ đã qua đào tạo nghề ( bao gồm cả ngắn hạn vàdài hạn, không phân biệt có và không có chứng chỉ tốt nghiệp) là 13,3%; tốtnghiệp THCN là 4,4%; tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên là 4,8% so vớinăm 2003 tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của cả nước tăng 1,5%, trong đó tỷ lệ
đã qua đào tạo nghề tăng 0,8%; tỷ lệ tốt nghiệp THCN tăng 0,3%; cao đẳng,đại học tăng 0,4%
Trang 19– Về sức khỏe: Sức khỏe của người lao động nó liên quan đến lượngcalo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi trường làmviệc…nhìn chung lao động nước ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầuthiết yếu hàng ngày chưa đáp ứng một cách đầy đủ Vì vậy, sức khỏe củanguồn nhân lực cả nước nói chung và của nông thôn nói riêng là chưa tốt.
– Thu nhập : Thu nhập của nông dân còn thấp, đời sống còn nhiềukhó khăn
Theo thống kê năm 2013, trong tổng số 89,7 triệu người dân Việt Namthì vẫn có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm hơn 2/3 tổng dânsố) Trong khi đó, tổng diện tích cả nước 330.951 km2, đất nông nghiệp là262.805 km2 (chiếm tới 79,4%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 101.511
km2, đất lâm nghiệp là 153.731 km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.120 km2 vàđất ở tại nông thôn là 5.496 km2 (chiếm 79,5% tổng diện tích đất ở của cả nước)
Thời gian qua, mặc dù đã có sự di chuyển mạnh mẽ về dân cư và laođộng từ nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệpsong trong tổng số 51,7 triệu lao động (năm 2013) vẫn còn tới gần 24,5 triệulao động làm việc trong khu vực nông lâm thuỷ sản (chiếm 47,4%)
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinhtế- xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sựchuyển dịch mạnh mẽ Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mấtđất sản xuất, phải tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nôngnghiệp nên rất cần được hưởng chính sách ưu đãi về đào tạo nghề Bên cạnh
đó, chất lượng lao động ở nông thôn nước ta còn quá thấp Chất lượng laođộng nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của người lao động không thể tăngnhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thônngày càng tăng Chính vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở ViệtNam đang là một yêu cầu cấp bách
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy, nếu thu nhập bình quân đầungười năm 2012 là hai triệu VND/tháng thì của khu vực nông thôn chỉ có hơn
Trang 201,5 triệu VND/tháng còn của khu vực thành thị tới hơn ba triệu VND/tháng.Theo đó, chi tiêu của khu vực nông nghiệp nông thôn bị hạn chế rất nhiều vớichi tiêu bình quân đầu người năm 2012 chỉ có 1,3 triệu VND/tháng trong khicon số này ở khu vực đô thị là 2,3 triệu VND/tháng còn của cả nước là 1,6triệu VND/tháng.
Thực tế có rất nhiều lý do khác nhau để giải thích cho những khó khăn
về tiếp cận tín dụng nói riêng, tuy nhiên những hạn chế nằm trong phương
thức sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay gắn với cái “vòng kim cô”
là thu nhập thấp, nghèo nên thiếu vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp theochiều sâu, đầu tư vào máy móc công nghệ để tăng năng suất lao động, chuyểndịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đầu tưvào con người để nâng cao trình độ
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho CNH, HĐH của đấtnước đồng thời cũng là các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa bao gồmnhững nhân tố chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Trình độ phát triển của nền kinh tế là nhân tố ảnh hưởng đến
cả chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực.
Sự phát triển kinh tế và vấn đề phát triển nguồn nhân lực có mối quan
hệ biện chứng với nhau, tạo điều kiện và làm tiền đề cho nhau cùng phát triển.Đây là yêu cầu mà cũng vừa là mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởnước ta Bởi vì khi trình độ phát triển cao về kinh tế, tức GDP/ người và đờisống của nhân dân ổn định ở mức cao sẽ có điều kiện ẩm bảo và nâng caochất lượng nguồn nhân lực Kinh tế phát triển, thiết bị công nghệ sản xuấthiện đại và nó đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải phù hợp với trình độcủa thiết bị, công nghệ đó Hơn nữa sự phát triển kinh tế đất nước cho phépcon người có điều kiện nâng cao trí lực, thể lực và tinh thần Nhà nước mới có
Trang 21điều kiện để xây dựng và phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và thực hiện cácchính sách xã hội.
Đối với huyện Hoằng Hóa, xuất phát nền kinh tế nông nghiệp, sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Lực lượng laođộng trong khu vực năm 2012 như sau:
– Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 63,7%;
– Công nghiệp và xây dựng chiếm 16,1%;
– Dịch vụ chiếm 14,7%;
– Lao động khu vực nhà nước chiếm 5,7%
Vì vậy khi chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ là động lựcthúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội
Thứ hai: Trình độ phát triển giáo dục và đào tạo ảnh hưởng quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực.
Chúng ta đều biết trí tuệ và năng lực sáng tạo là nhân tố chủ yếu củachất lượng nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo giúp cho con người lao độngnâng cao trình độ văn hóa, sự hiểu biết nói chung, trình độ nghề nghiệp, taynghề, năng lực tư duy sáng tạo, phát huy tài năng của họ để tăng năng suất,chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh…Do đó, giáo dục và đào tạođóng vai trò quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Facques Hallak (nhà kinh tế học giáo dục ở Viện Kế hoạch Giáo dụcQuốc tế) cho rằng, trong sự phát triển nguồn nhân lực có 5 yếu tố tác độngphụ thuộc lẫn nhau: Giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm,
tự do chính trị và kinh tế, trong đó giáo dục là nhân tố cơ bản đối với các nhân
Trang 22Đầu tư vào giáo dục tiểu học thu hồi 24% tổng vốn đầu tư, vào cấp II là 17%;vào đại học và cao đẳng 14%; trong khi đó đầu tư vào các ngành sản xuất vậtchất thu hồi có 13% tổng vốn đầu tư.
Ở nước ta, theo kết quả điều tra lao động và việc làm của Bộ lao Thương binh xã hội hiện tại, Việt Nam đang sở hữu một nguồn nhân lực khádồi dào về số lượng nhưng lại rất hạn chế về mặt chất lượng Nguồn nhân lựcchất lượng cao ở nước ta đang còn rất nhiều vấn đề bất cập Số lượng laođộng qua đào tạo ở trình độ từ đại học trở lên ngày một gia tăng, nhưng chấtlượng của lao động qua đào tạo, khả năng thích ứng công việc và phát huy kếtquả đào tạo của số lao động này lại rất thấp Theo kết quả khảo sát gần đây,
động-số lao động qua đào tạo phát huy được tác dụng chưa tới 40%, tình trạng bằngcấp không đúng thực chất, “bằng dởm” không phải là hiện tượng cá biệt, ngay
cả những trường hợp được học hành, đào tạo rất quy củ, bài bản một cáchnghiêm túc nhưng khi ra làm việc thực tế vẫn không đáp ứng được yêu cầu,không phát huy được tác dụng Chất lượng lao động nguồn lao động phụthuộc rất nhiều vào chất lượng của hệ thống giáo dục- đào tạo Chất lượnggiáo dục- đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, vẫn là một vấn
đề gay cấn nhất, chất lượng đào tạo đại trà chưa đáp ứng được yêu cầu củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa, thấp và thua so với trong khu vực và quốc tế
Thứ ba: Tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến nguồn nhân lực.
Tốc độ và quy mô dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượngcủa nguồn nhân lực Một trong những nguyên nhân cản trở tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế là quy mô dân số đông, tốc độ dân số tăng trưởng và pháttriển kinh tế là quy mô dân số đông, tốc độ dân số gia tăng lớn Dân số giatăng làm tăng thêm nhân khẩu ăn theo trên một lao động, làm chậm tốc độtăng GDP/người, gây sức ép về nhu cầu việc làm và các vấn đề xã hội khác.Theo số liệu của Tổ chức dân số Liên Hiệp quốc thì khi dân số tăng 1%,muốn đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập như trước phải tăng 3% GDP
Trang 23Dựa trên quy mô dân số 90,73 triệu người của năm 2014 (cũng theo sốliệu do GSO công bố), GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt2.028 USD, tương đương 169 USD/tháng Trước đó, năm 2013, tổng sảnphẩm quốc nội của Việt Nam đạt 3.584.262 tỷ đồng tính theo giá hiện hành,theo đó GDP bình quân đầu người đạt 1.900 USD, tăng so với mức 1.749USD của năm GSO cho biết sản lượng kinh tế của Việt Nam năm 2014 tăngtrưởng 5,98% so với năm 2013, cao hơn so với mục tiêu của Chính phủ đặt ra
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế và đến cuối năm 2014
tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm46,6%; trong khu vực công nghiệp- xây dựng chiếm 21,4%; khu vực dịch vụchiếm 32% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm còn 2,08%(trong đó khu vực thành thị là 3,43%; khu vực nông thôn là 1,47%); tỷ lệthiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2014 còn 2,45% (khu vựcthành thị là 1,18%; khu vực nông thôn là 3,01%)
Cùng với đó, đối tượng tham gia Bảo hiểm thất nghiệp liên tục tăng quacác năm và đến năm 2014 đã có 9,213 triệu người tham gia Bảo hiểm thấtnghiệp (tăng 15,6% so với năm 2011)
Ngoài đảm bảo tốc độ tăng cần đặc biệt chú trọng tới vấn đề chất lượngdân số, vì chất lượng dân số chính là chất lượng nguồn nhân lực
Trang 24Thứ tư: Yếu tố văn hóa.
Văn hóa là tổng thể những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong
tư duy, lối sống và ứng xử của mỗi con người và cộng đồng, đó là yếu tố tinhthần trong chất lượng nguồn nhân lực
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia có nền văn hóa riêng, mang bản sắc riêng và
có giá trị độc đáo riêng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình biến đổicách mạng về mọi mặt của đời sống con người và cộng đồng Công nghiệphóa, hiện đại hóa thực hiện được phải trong một môi trường văn hóa phù hợp
Ở nước ta truyền thống dân tộc và văn hóa Việt Nam là “ Tài sản kế thừa củacác thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau”
Văn hóa và truyền thống văn hóa dân tộc là nhân tố quan trọng để hìnhthành và phát triển nguồn nhân lực đất nước Coi trọng và gìn giữ bản sắc dântộc gắn với sự phát triển văn minh của nhân loại đó chính là môi trường vănhóa lành mạnh cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Môi trường văn hóa là cơ sở phát triển con người, việc tạo lập môitrường văn hóa phù hợp với yêu cầu Công nghiệp hóa là nhân tố ảnh hưởngđến hiệu quả, thời gian và định hướng đúng đắn sự hình thành và phát triểnnguồn nhân lực ở nước ta
Thứ năm: Các chính sách KT- XH tác động đến nguồn nhân lực.
Các chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến nguồn nhân lựcgồm: Chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách tuyển dụng, sử dụng laođộng, chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hộ laođộng Bằng hệ thống chính sách kinh tế- xã hội, Nhà nước đã thiết lập đượcmôi trường pháp lý cho sự hoạt động, phát triển nguồn nhân lực
Các chính sách của Trung ương, địa phương đã có tác dụng đến nguồnnhân lực như chính sách hỗ trợ giáo dục đào tạo, hỗ trợ y tế, chăm sóc sứckhỏe cộng đồng, những chính sách của địa phương đối với lao động và đồngbào dân tộc thiểu số tại chỗ Vậy chính sách kinh tế- xã hội là nhân tố tácđộng tích cực hoặc kìm hãm sự phát triển của nguồn nhân lực
Trang 25Thứ sáu: Trình độ phát triển y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Sức khỏe tốt thì chất lượng nguồn nhân lực ở cả hiện tại và tương laiđều có thể phát triển tăng lên, người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lạinhững lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năngtập trung khi làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em
sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em nhanhchóng đạt được những người khỏe về vật chất, lành mạnh về tinh thần, giúptrẻ em nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết thông qua giáodục ở nhà trường và hệ thống y tế Nếu như có đầu tư về y tế tốt thì sẽ đảmbảo sức khỏe cho nguồn nhân lực
Hiện nay, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng lên 72,8 năm,đứng thứ 58/177 nước Tổng chi phí chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam hiện naychỉ chiếm 5%-6% tổng GDP, tương đương khoảng 46 USD/người/năm làmức thấp hơn các quốc gia khác trong khu vực Hiện nay, cả nước vẫn cònhơn 3 triệu hộ gia đình nghèo và 1,6 triệu hộ thuộc diện cận nghèo
Ngoài những yếu tố về giáo dục và y tế thì chất lượng nguồn nhân lựccòn bị tác dụng bởi nhiều yếu tố khách quan như:
Tính năng động và sức sáng tạo của con người liên quan đến môi trườngpháp luật;
Thể chế và các chính sách, cơ chế giải phóng sức lao động, tạo độnglực để con người phát triển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mình trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói sự hình thành, phát triển nguồn nhân lực của huyện HoằngHóa cũng chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố như những nhân tố tác động đếnnguồn nhân lực của đất nước, song 6 nhân tố trên tác động chủ yếu đến pháttriển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn của huyện Hoằng Hóa
1.2.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực
a/ Về số lượng
Nguồn nhân lực cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là lực lượnglao động xã hội có khả năng cung cấp để thực hiện được những nội dung và
Trang 26nhiệm vụ của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nếu số lượng không tươngxứng với yêu cầu của sự phát triển thì không đảm bảo cho quá trình Côngnghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành một cách thuận lợi.
Số lượng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư trình độ kỹ thuật, công cụ trang bị cho người lao dộng, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, ý thức của người lao động và độ dài ngày lao động trong từngthời kỳ, từng giai đoạn khác nhau Do đó, yêu cầu về số lượng nguồn nhân lựccũng chỉ được xác định một cách tương đối, không có một công thức chung
để xác định
Kỹ thuật công nghệ thay đổi dẫn đến sự thay dổi về cơ cấu lao động.Đổi mới công nghệ sẽ tác động sự phân công lại lao động, lao động dôi ra đòihỏi phải mở rộng sản xuất, từ đó hình thành nên các ngành sản xuất mới vớicác ngành sản xuất mới các ngành phục vụ cho sản xuất khác nhau
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta Trong các văn kiện gần đây, Đảng ta đã khẳng định vai tròcủa Giáo dục - Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàngđầu Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng đểthúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huynguồn lực con người Đào tạo nguồn nhân lực là động lực quan trọng nhấthiện nay của tăng trưởng kinh tế bền vững, đáp ứng yêu cầu về số lượngkhông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để nguồn nhân lực trở thành nguồnvốn – vốn tri thức, vốn nhân lực Với mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp vào năm 2020
b/ Chất lượng
Để thực hiện thành công Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đòihỏi có vốn, kỹ thuật, tài nguyên mà còn phải phát triển một cách tương xứngnguồn nhân lực, đặc biệt đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trìnhCông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt nguồn nhân
Trang 27lực có chất lượng Do vậy, cần phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượngcao Tập trung đổi mới chương trình đào tạo tại các viện nghiên cứu côngnghệ, các Trường Đại học các Trường dạy nghề kỹ thuật Gắn kết chặt chẽgiữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, côngnghệ Từng bước hình thành đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật quản lý đểthực hiện có hiệu quả quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến thể lực, trí lực, phongcách làm việc của người lao động Đây là yếu tố quyết định đối với sự pháttriển kinh tế- xã hội cũng như quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôncủa đất nước
- Về thể lực của nguồn nhân lực: Đó là khả năng con người dùng sứcmạnh cơ bắp của mình tác động vào vật chất nào đó, đây là một yếu tố cấuthành rất quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực Nếu không đáp ứng đượcyêu cầu về thể lực thì nguồn nhân lực đó dù trình độ cao đến đâu cũng khó cóthể tác động vào vật chất, biến đổi nó theo định hướng của mình được Haynói cách khác, thể lực có mối quan hệ chặt chẽ, trực tiếp đến khả năng hoànthành công việc của người lao động
- Trí lực của nguồn nhân lực được biểu hiện ở trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn, tay nghề, phẩm chất, tâm hồn trong sáng, biết cảm nhận cáiđẹp, có văn hóa lao động công nghiệp…Những phẩm chất này của nguồnnhân lực thể hiện ở sự sáng tạo, độ nhạy cảm, tính linh hoạt sắc bén, khả năngthích ứng nhanh để học tập, áp dụng làm kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiệnđại Ở nước ta, với 93% số dân trong độ tuổi lao động biết chữ và có khoảng25% lực lượng lao động đã qua đào tạo
- CNH, HĐH ở nước ta chỉ có thể thành công khi chúng ta chuẩn bịđầy đủ trình độ nguồn nhân lực về trí lực Đảng ta đã khẳng định rằng, Giáodục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu và “….Phát triểnnhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành Chútrọng phát hiện và bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, nhanh chóng xây dựng cơ
Trang 28cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng,miền…” [12,tr.96-97] Vì vậy, bên cạnh giải quyết việc làm, chúng ta đangtừng bước chuyển nguồn nhân lực có chất lượng thấp thành nguồn nhân lựcngày càng có trình độ cao hơn cho phù hợp với tiến trình CNH, HĐH.
Về văn hóa của nguồn nhân lực: Văn hóa là cơ sở để phát triển trí tuệ,đạo đức, nhân cách của con người Việt Nam
c/ Cơ cấu nguồn nhân lực
Cơ cấu nguồn nhân lực được xét theo các mặt chủ yếu như: Cơ cấutheo trình độ, cơ cấu theo ngành nghề, cơ cấu theo vùng Cơ cấu trình độnguồn nhân lực gồm tỷ lệ lao động đã được đào tạo trong lực lượng lao động (
tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhan kỹthuật trong lực lượng lao động được đào tạo), theo cơ cấu ngành nghề
Trong thời gian qua nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu laođộng có sự chuyển biến theo hướng: Giảm tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp,tăng giá trị sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP Cơ cấu lao độngtheo ngành chuyển dịch theo hướng: lao động nông nghiệp giảm, lao độngcông nghiệp và dịch vụ tăng lên trong tổng lực lượng lao động, trong đó laođộng dịch vụ tăng với tốc độ nhanh nhất, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịchtheo hướng CNH, HĐH Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp vàthủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (tương ứng của năm 2013 là:18,38%; 38,31%; 43,31%)
Sự thay đổi cơ cấu theo ngành là cơ sở, là căn cứ để xác định nhu cầuđào tạo của cơ cấu nguồn nhân lực nhằm phù hợp hơn với yêu cầu phát triểnnguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn trong từng giai đoạn
1.3 Vai trò phát triển nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Nguồn nhân lực là tiền đề quyết định cho sự thành công của quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Trang 29Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản,toàndiện các hoạt động kinh tế- xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện vàphương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động cao Đối với nước
ta, đó là một quá trình phát triển kinh tế- xã hội từ nông nghiệp lạc hậu thànhmột xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuấttiến bộ
Ở nước ta phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn được coi là vấn
đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hộinói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), sự đónggóp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của đất nước, bảođảm an ninh lương thực, ổn định xã hội, phát huy được tiềm năng và lợi thếcủa một số nông sản chủ lực, bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết laođộng việc làm
Để có thể phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện và bềnvững, Việt Nam cần phải xây dựng một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp,phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình.Thực tiễn kinh nghiệm các quốc gia cho thấy các mô hình CNH-HĐH nôngnghiệp, phát triển nông thôn được áp dụng chủ yếu trên thế giới thành cônghay thất bại phụ thuộc nhiều vào quan điểm và chính sách của Nhà nước đốivới quá trình này Đối với các nước đang trong quá trình CNH, phát triển củakhu vực nông nghiệp nông thôn đang được coi là chìa khoá cho phát triển bềnvững, song ở nhiều nơi việc thiếu hụt các nguồn lực cũng như nhận thức chưađầy đủ về vai trò quan trọng này đã khiến quá trình phát triển nông nghiệp,nông thôn gặp nhiều khó khăn Mặc dù quá trình CNH-HĐH nông nghiệp,phát triển nông thôn diễn ra hết sức đa dạng ở những quốc gia có đặc điểm và
lộ trình phát triển không giống nhau
Thực tế các nước phát triển cho thấy, các nguồn lực thúc đẩy quá trìnhphát triển kinh tế- xã hội ( nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ….) giữa chúng có mối quan hệ
Trang 30nhân quả với nhau trong quá trình phát triển, nhưng trong đó, nguồn nhân lựcđược xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự kết hợp hài hòagiữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vữngtrong đó con người là trung tâm, kết hợp chặt chẽ giữa CNH và HĐH vớinhững bước đi thích hợp cho từng ngành kinh tế, khu vực sản xuất dịch vụ- xãhội và các vùng địa lý- kinh tế khác Do đó Phát triển nguồn nhân lực trongquá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta không chỉ đơn thuầnđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế mà còn hướng vào các yêu cầu phát triểncon người và tiến bộ xã hội, xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ, vănminh, dân giàu, nước mạnh Do vị trí đặc thù này, một số Quốc gia có chủtrương bảo đảm nguồn nhân lực cho nông thôn bằng “ Li nông bất li hương”
Đến nay, các nhà kinh tế đã khẳng định đầu tư cho con người thông quacác hoạt động giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các chương trình đảmbảo việc làm và an sinh xã hội… là sự đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khảnăng tăng trưởng kinh tế nhanh về bền vững của một quốc gia
Nguồn nhân lực có chất lượng cao là điều kiện đảm bảo cho việc thựchiện những bước nhẩy vọt và rút ngắn thời gian thực hiện CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “ Tranhthủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước
ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Pháttriển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều trithức, kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với trithức mới nhất của nhân loại”
Con đường thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở nước ta cần
và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhẩyvọt, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, ứng dụng
Trang 31những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thôngtin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mứccao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ nhất
là giống cây trồng vật nuôi, phương thức canh tác, bảo quản và nâng cao chấtlượng sản phẩm
Tri thức tức là các thành tựu khoa học, trở thành sản phẩm có giá trịkinh tế cao hơn nhiều so với các sản phẩm vật chất khác, tạo ra giá trị mớingày càng cao chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP Nhờ có sự đầu tư cho pháttriển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóngtrở thành nước công nghiệp phát triển Sự đóng góp của tri thức đã ngày càngchiếm tỷ trọng cao trong GDP bằng giá trị gia tăng mặc dù điều kiện tự nhiênrất khắc nghiệt
Nguồn lực là động lực, mục tiêu của quá trình CNH, HĐH
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt độngsản xuất kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiếntiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất laođộng xã hội cao Đối với nước ta là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tếnông nghiệp và kinh tế nông thôn
Quá trình CNH, HĐH đất nước và ngày nay trong cuộc hội nhập vàphát triển nhanh mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng vănminh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, cókhả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất”
1.4 Kinh nghiệm phát triền nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở một số tỉnh trong nước
1.4.1 Kinh nghiệm của Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh, mới được tái lập năm 1997 từ tỉnh Hà Bắc cũ, thuộcđồng bằng châu thổ sông Hồng, phía bắc giáp với Bắc Giang, phía đông giápHải Dương và Hưng Yên, phía nam và tây giáp với Hà Nội
Trang 32Theo số liệu thống kê năm 2010 tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên823km2 với tổng dân số 1.038.229 người Trong đó diện tích lớn nhất là đấtnông nghiệp chiếm 65,85%, đất Lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%;Đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; Diện tíchđất chưa sử dụng chiếm 0,84%.
Tuy là tỉnh có diện tích nhỏ nhất đồng bằng Sông Hồng và cũng là tỉnhnhỏ nhất nước, với dân số cũng chỉ hơn một triệu người, nhưng Bắc Ninh cótốc độ tăng GDP năm 2010 là 32,74%, đứng vị trí thứ nhất trong số các tỉnhcủa đồng bằng Bắc Bộ GDP bình quân theo đầu người năm 2010 đạt 20,6triệu đồng ( tương đương 1300 USD)
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 ước đạt 64,8%,dịch vụ 24,2%, nông nghiệp 11% Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, gópphần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội Tổng vốn đầu tư toàn xã hộitrong 5 năm ước thực hiện đạt trên 64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%,hàng năm đều đạt trên 50% GDP Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19, năm(2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứngthứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc Hoạt động kinh tếđối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ
Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, tạo điều kiện cho cácthành phần kinh tế phát triển, đồng thời gắn các chương trình kinh tế xã hộivới chương trình giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao độngnông nghiệp nông thôn Đẩy mạnh đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thịtrường lao động, từng bước thay đổi cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực,tăng tỷ lệđào tạo công nhân kỹ thuật, đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, cơkhí, dịch vụ Khôi phục các ngành nghề truyền thống ở nông thôn, khuyến
Trang 33khích các cơ sở tư nhân mở trường lớp dạy nghề nhất là truyền nghề truyềnthống của địa phương.
Phát triển khu công nghiệp tạo việc làm cho người dân lao động, tổchức cân đối lại lực lượng lao động giữa các khu vực thị xã, thị trấn với khuvực nông nghiệp, giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp Nhờ
đó đã tạo ra hàng vạn việc làm giúp cho hàng chục nghìn hộ gia đình sản xuất
ổn định, thu nhập ngày một cải thiện Nhiều năm qua, Bắc Ninh đặc biệt quantâm đến vấn đề dạy nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) Hàng loạt các đề
án dạy nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề mới được triển khai đồng loạt và sâurộng đến nhiều đối tượng như nông dân, phụ nữ, thanh niên Đây là điềukiện hết sức thuận lợi giúp người dân có thêm nghề mới, nâng cao thu nhập
ổn định đời sống
Bắc Ninh là một trong những địa phương đang tích cực đầu tư pháttriển hệ thống các trường, trung tâm đào tạo nghề từ mặt bằng, trang thiết bịdạy và học, đội ngũ giáo viên giảng dạy, cán bộ quản lý được bồi dưỡng kỹnăng dạy nghề, đào tạo nghiệp vụ sư phạm, bởi đây là yếu tố then chốt trongnhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cung cấp cho các doanh nghiệpđầu tư tại địa phương, vùng lân cận và ngành nghề cho nông dân Thực tếcho thấy, khi một người được học nghề, chuyện tìm kiếm việc làm ổn định làkhông khó, bởi việc làm ở nông thôn cũng như các KCN đang phát triển kháphong phú, đa dạng
Theo số liệu từ Ban Chỉ đạo Đề án 1956 tỉnh, trong giai đoạn
2010-2014 có hơn 2.600 LĐNT qua đào tạo được doanh nghiệp sử dụng; gần 220người thành lập tổ hợp tác, doanh nghiệp; tự tạo việc làm hơn 20 nghìn người
và hơn 4.650 người làm ra các sản phẩm thủ công được doanh nghiệp baotiêu Từ năm 2010 đến hết năm 2014 toàn tỉnh có 110.360 LĐNT được họcnghề, trong đó 38.614 người được hỗ trợ theo Đề án 1956 và đã có27.506/38.614 người có việc làm chiếm 71,2% Đặc biệt trong số này có gần1.600 người thuộc diện hộ nghèo; 1.134 người mất đất nông nghiệp; gần 100người có công với cách mạng và 14 người tàn tật
Trang 341.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình
từ 800 - 1.000 m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2.Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, baogồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất Toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khảnăng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở caonguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày
có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm Diện tích trồng chè và cà phêkhoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, LâmHà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, ĐơnDương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại,
có những loại giá trị phẩm cấp cao Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuydiện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thácthấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón,
độ màu mỡ thấp, hệ số sử dụng không cao Trong diện tích đất lâm nghiệp,đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc (khoảng 40%)
Đất đai và khí hậu Lâm Đồng thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, pháttriển các cây con có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới Sản xuất nông nghiệp là
cơ sở để phát triển công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ Đến nayLâm Đồng hình thành các khu chuyên canh tập trung cà phê, chè, dâu tằm,điều, rau quả, hoa…Một số ngành công nghiệp có năng lực sản xuất đáng kể,sản phẩm tăng tương đối nhanh như gạch Tuynel, chế biến điều, chè, tơ lụa,chế biến rau quả… Ngành du lịch Lâm Đồng phát triển mạnh góp phần thúcđẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển Ngoài ra việc xây dựng các khu,cụm công nghiệp, các công trình thủy điện đã thu hút được nhiều dự án đầu
tư, mở ra khả năng huy động các nguồn lực phát triển công nghiệp của tỉnh
Năm 2010 GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng, gấp 2,8 lần sonăm 2005, cơ cấu GDP: nông- lâm- thủy sản 49%, công nghiệp và xây dựng20%, dịch vụ 31% GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 15,5- 16,5 triệu
Trang 35đồng Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 17,5%; cácngành công nghiệp điện, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng có bướcphát triển mới.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm 2005- 2009 đạt 11.283
tỉ đồng, riêng năm 2010 đạt 3.050 tỉ đồng, tỉ lệ huy động vào ngân sách đạt13,4% GDP, trong đó thuế và phí đạt 8,1% GDP
Những năm gần đây, tỉnh Lâm Đồng đặc biệt chú ý đến đào tạo nghềcho thanh niên là người dân tộc thiểu số Giải quyết việc làm mới hàng nămcho trên 24.000 lao động năm 2010 Lâm Đồng có 150.000 lao động là đồngbào dân tộc thiểu số, chiếm 17% tổng số lao động của xã hội của Tỉnh, trong
đó nông nghiệp có 88.000 người ( chiếm 84%), công nghiệp 7.000 người( chiếm 6,6%), dịch vụ 10.000 người ( chiếm 9,4%) Hiện nay học sinh dântộc thiểu số chiếm 23,5% tổng học sinh của Tỉnh, chiếm tỷ lệ cao hơn so với
tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong dân số của tỉnh Trình độ học vấn của thanhniên dân tộc thiểu số như sau:
– Chưa tốt nghiệp tiểu học: 26%;
Xuất phát từ tình hình trên, tỉnh Lâm Đồng đã có chính sách hỗ trợ dạynghề cho thanh niên dân tộc thiểu số như sau:
Trang 36– Thực hiện đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề như: Dạy nghềlưu động tạo xã, dạy nghề dài hạn nội trú, dạy nghề theo các dự án, chươngtrình khuyến nông
– Năm 2004, mỗi năm Trường Đại học Kỹ thuật Đà Lạt được tỉnh giaotuyển 100 em thanh niên dân tộc học nghề dài hạn nội trú Năm 2006, tỉnhgiao cho Trường Trung cấp Kỹ thuật và Dạy nghề Bảo Lộc ( thuộc Bộ nôngnghiệp và PTNT) tuyển 50 em Mức hỗ trợ ăn, ở cho mỗi em là400.000đ/tháng từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu giáo dục đào tạo.Hiện nay co khoảng gần 300 em đang học tại 2 trường trên trong các nghề:
Cơ khí, điện, sửa chữa xe máy, trồng trọt, thú y, kế toán và du lịch
Đến tháng 7/2012, toàn tỉnh có 55 cơ sở dạy nghề, bao gồm: công lập
22 và ngoài công lập 33 đơn vị Qua 2 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cholao động nông thôn, các cơ sở dạy nghề đã đáp ứng được gần 50% nhu cầulao động qua đào tạo nghề của tỉnh Ngoài các cơ sở dạy nghề tập trung tại 2thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc, thì 7 trung tâm dạy nghề (TTDN) tại các huyện
là lực lượng chính trong việc dạy nghề cho lao động ở các xã nghèo, thônnghèo, vùng đồng bào DTTS
1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là tỉnh nhỏ so với các tỉnh phía nam của vùng kinh tếduyên hải miền Trung Diện tích tự nhiên 3.358 km2, dân số trung bình năm
2010 có 571 ngàn người, mật độ dân số trung bình 170 người/km2, phân bốkhông đều, tập trung chủ yếu vùng đồng bằng ven biển Cộng đồng dân cưgồm 3 dân tộc chính là dân tộc Kinh chiếm 76,5%, dân tộc Chăm chiếm11,9%, dân tộc Raglai chiếm 10,4%, còn lại là các dân tộc khác.Dân số trong
độ tuổi lao động có 365.700 người, chiếm khoảng 64%; tỷ lệ lao động quađào tạo đạt khoảng 40% Cơ cấu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm,thủy sản chiếm 51,99%, công nghiệp xây dựng chiếm 15%, khu vực dịch vụchiếm 33,01%
Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của NinhThuận (giá so sánh) là 10,3%/năm (cả nước 7%/năm) Hai năm 2011 và 2012,
Trang 37tốc độ tăng tưởng GDP so với cùng kỳ năm trước của tỉnh lần lượt là 10,6%
và 10,3% (cả nước tương ứng là 5,9% và 5,3%) GDP bình quân đầu ngườicủa tỉnh Ninh Thuận tăng từ 4,3 triệu đồng năm 2005 lên 12,6 triệu đồng năm
2010 Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế của tỉnh Ninh Thuận đã chuyểndịch tích cực với sự giảm dần tỷ trọng GDP ngành nông lâm thủy sản từ43,82% năm 2006 xuống còn 41,33% năm 2010 và sự tăng dần tỷ trọng củangành CN-XD (tương ứng từ 19,07% lên 22,2%) và ngành dịch vụ (từ27,75% lên 28,04%) Tuy nhiên, nông lâm thủy sản vẫn là ngành chủ chốttrong nền kinh tế tỉnh Ninh Thuận với tỷ trọng 42% tổng GDP năm 2011, cònlại ngành CN-XD (21,6%) và ngành dịch vụ (33,5%)
Cùng với nghề dệt thổ cẩm và nghề làm gốm, Ninh thuận còn chú trọngđào tạo dạy nghề và xây dựng mô hình làng nghề truyền thống khác Từnguồn kinh phí khuyến công quốc gia, Ninh Thuận đã hỗ trợ doanh nghiệp tưnhân sản xuất mây - tre - lá, đá trắng, tổ chức 5 lớp đào tạo nghề đan lát vớicác sản phẩm mây tre cho 200 lao động (120 triệu đồng) Công ty May HoàngAnh tổ chức 7 lớp đào tạo nghề may công nghiệp cho 210 lao động (189 triệuđồng) Trung Tâm khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh đã tổ chức 14lớp đào tạo nghề cho 420 lao động (hỗ trợ 372 triệu đồng) Năm 2011, SởLao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Thuận đã phối hợp với Trungtâm khuyến nông - Khuyến lâm Ninh Thuận, Trung tâm Dạy nghề Định Quán
và tỉnh Đồng Nai mở 13 lớp dạy nghề chăn nuôi, thú y, nuôi trồng thủy sảnvới tổng kinh phí gần 1.000 tỷ đồng
Số liệu tổng hợp của Ban Chỉ đạo điều tra lao động và việc làm năm
2004 của tỉnh Ninh Thuận cho thấy: Số người hoạt động kinh tế thường xuyênchia theo tình độ chuyên môn kỹ thuật sau:
– Đã qua đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp trở xuống: 26.046 người(chiếm 10,65%);
– Trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học là: 10.200 người ( chiếm4,17%);
Trang 38– Lao động chưa đào tạo là 208.220 người ( chiếm 85,18%) [51.tr.77].Như vậy, số lượng chưa qua đào tạo của tỉnh chiếm tỷ lệ rất cao, số nàytập trung chủ yếu là khu vực nông thôn Để có bước chuyển biến cơ bản vềchất lượng nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho việc chuyển dịch cơ cấu laođộng, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỉnhNinh Thuận tập trung chú trọng công tác đào tạo nghề bằng nhiều hình thứctheo phương châm đa dạng hóa các loại hình đào tạo Trong đó, các cơ sở dạynghề của nhà nước đóng vai trò trung tâm vừa đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế- xã hội ở địa phương vừa đáp ứng nhu cầu lao động ngoài tỉnh và suấtkhẩu lao động Phát triển mạnh mẽ cơ sở dạy nghề liên doanh liên kết với cácthành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh để tiếp thu phương pháp và kinhnghiệm dạy nghề tiên tiến, khai thác triệt để nguồn lực lượng từ bên ngoài Điđôi với việc huy động tối đa nguồn lực lượng công tác đào tạo, phổ cập nghềNinh Thuận thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo như: Dạy nghề theohình thức kèm cặp tại nhà máy, phân xưởng; tổ chức theo lớp học; chuyểngiao công nghệ; phổ biến kiến thức khoa học; kinh nghiệm sản xuất kinhdoanh; bồi dưỡng tập huấn; bổ túc hoàn thiện, mở rộng nâng cao kiến thứcnghề nghiệp; dạy nghề kèm bổ túc văn hóa…
Đối tượng đào tạo chủ yếu là đội ngũ lao động ở nông thôn, nhất là độtuổi thanh niên để học biết ít nhất là một nghề để họ tự tạo việc làm và gópphần thực hiện các dự án phát triển kinh tế ở địa phương: Chú trọng chuyểngiao công nghệ trong nông- lâm- ngư nghiệp, hỗ trợ làng nghề , các trung tâmbảo vệ thực vật, thú y, giống cây trồng vật nuôi phối hợp với Hội Nông dân,Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên tổ chức hướngdẫn cho nông dân kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi theo mô hình tập chung…
Từ những kinh nghiệm thực tế trong việc phát triển và sử dụng nguồnnhân lực trong quá trình xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp,
Trang 39nông thôn của ba tỉnh trên,chúng tôi thấy, Hoằng Hóa nên nghiên cứu và cóthể vận dụng một số kinh nghiệm sau:
Một là, tập trung tổ chức, cân đối lại lượng lao động giữa khu vực thịtrấn và nông thôn , đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa để từng bước kéo theo sự chuyển dịch lao động vàphân công lại lao động trong khu vực nông nghiệp và nông thôn
Hai là, tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn tạođiều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời gắn cácchương trình kinh tế - xã hội với mục tiêu giải quết việc làm cho người laođộng nhất là đổi mới nông dân
Ba là, chú trọng công tác đào tạo nghề bằng hình thức thích hợp theophương châm đa dạng hóa các lọai hình đào tạo nhằm từng bước bổ xung độingũ những người lao động được đào tạo, có chuyên môn cho các lĩnh vựcsản xuất
Bốn là, tăng cường các dịch vụ việc là trên cơ sở củng cố và phát triểncác trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn huyện nhằm tư vấn cho người laođộng nhất là thanh niên chọn nghề, học nghề và giới thiệu việc làm sau khidược đào tạo
Năm là, đào tạo cán bộ quản lý, cũng như mở rộng và phát triển ngànhnghề truyền thống của địa phương
Trang 40
Kết luận chương 1
Trong một xã hội mà dân cư nông thôn và lao động nông nghiệp chiếm đại bộ phận thì việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải diễn ra có những đặc điểm đặc thù Với các chính sách mới trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới Đảng ta đặt vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyếtđịnh quá trình phát triển Một khi chưa tạo ra được chuyển biến của khu vựckinh tế này thì không thể nói đã hoàn thành nhiệm vụ về công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Coi trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp vàkinh tế nông thôn lên sản xuất lớn và nhiệm vụ quan trọng đó là chiến lượcngắn hạn cũng như dài hạn, là cơ sở để ổn định kinh tế chính trị, xã hội,củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức Để thực hiện nhiệm vụ đó cần phải triệt để huy động các nguồn lực cầnthiết, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực Đây là yếu tố quyết định Tuynhiên, phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng
ở nước ta còn nhiều bất cập cả kể về cơ chế, về cơ cấu, về số lượng và chấtlượng….Đòi hỏi phải được đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan, chínhxác để làm cơ sở cho những chính sách giải pháp đồng bộ nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Có như vậy, chúng ta mớithực hiện được những mục tiêu đã định, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại