Về nguyên tắc, ngày nay mỗi con người, dù nam hay nữ, đều có điều kiện phát triển toàn diện hơn, không phải bó hẹp trong các khuôn mẫu cổ xưa về đàn ông và đàn bà nữa. Tuy nhiên, các quy định, quan niệm về tính cách, quy tắc của xã gội vẫn còn để lại những dư âm của nó, ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi con người. Nam tính hay nữ tính là những từ được nhắc đến nhiều trong cuộc sống hàng ngày và cũng là thuật ngữ trung tâm của các chuyên luận về giới. Chúng được sử dụng quen thuộc đến mức tạo nên nhận thức có tính phổ quát, nữ tính đối với phụ nữ, nam tính đối với nam giới là đặc tính tự nhiên, bất biến. Nói cách khác, chúng được nói đến như những đặc tính đồng nhất với giới tính sinh học, bất chấp sự biến động của các không gian và thời gian văn hóa. Nam tính, nữ tính được coi là đặc trưng tính cách của mỗi giới, từ đó nó quy định những năng lực có thể và vai trò của họ (thiên chức) đối với xã hội. Niềm tin vào đặc trưng tính cách mỗi giới như vậy đã và đang dẫn đến những hành vi phân biệt đối xử mang tính chất kỳ thị giới. Thực ra nam tính và nữ tính không phải là những đặc tính tự nhiên, mà là những khuôn mẫu về giới được tạo ra như những sản phẩm mang tính kiến tạo xã hội, mà nội hàm của chúng phản ánh những bối cảnh văn hóa đặc thù.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC
Trang 25 Nguyễn Thái Khánh Ngân B2013686
Cần Thơ, tháng 10 năm 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước khi vào nội dung của bài báo cáo, nhóm chúng em xin chân thành gửi lời cảm
ơn đến TS Nguyễn Ánh Minh, giảng viên giảng dạy học phần Xã hội học Giới, bộ môn
Xã hội học, Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy chúng em, cung cấp cho chúng em những kiến thức bổ ích và cần thiết trong suốt quá trình học tập
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng học đã cùng nhóm chúng em trải qua quá trình học tập học phần, cũng nhờ các bạn mà chúng em có được nhiều góc nhìn mới, nhiều trải nghiệm mới hơn trên con đường học vấn của mình
Do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, cho nên bài báo cáo của nhóm sẽ không tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện Kính mong sự góp ý của cô và các bạn đồng học nhằm để bài báo cáo được hoàn thiện hơn và cho nhóm chúng em có được những kinh nghiệm
Lời cuối cùng, xin trân trọng kính chúc cô Ánh Minh và các bạn có thật nhiều sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong cuộc sống
Trang 4MỤC LỤC
I TỔNG QUAN 1
II NỘI DUNG 1
1) Khái niệm cơ bản 1
1.1 Giới và giới tính 1
1.1.1 Giới tính (Sex) 2
1.1.2 Giới (Gender) 3
1.2 Định kiến giới 4
1.3 Khuôn mẫu giới (Nam tính và nữ tính) 5
2) Lý thuyết tiếp cận 6
2.1 Lý thuyết chức năng về giới của Mirriam Johnson 6
2.2 Lý thuyết phân tích xung đột theo khía cạnh giới của Janet Chafetz 6
3) Các quan niệm về “nam tính” và “nữ tính” trong xã hội 7
4) Ảnh hưởng của quan niệm “nam tính” và “nữ tính” 8
4.1 Trong lĩnh vực giáo dục 8
4.1.1 Giáo dục gia đình 8
4.1.2 Khả năng tiếp cận giáo nguồn lực giáo dục 9
4.2 Trong lĩnh vực hôn nhân 11
4.3 Trong lĩnh vực nghề nghiệp và lao động 13
4.4 Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng 14
III KẾT LUẬN 15
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 5DANH MỤC HÌNH & BẢNG
Hình 1 Đặc trưng giới tính……….……… 3
Hình 2 Đặc trưng giới……….4
Hình 3 Tỷ lệ nhập học đúng tuổi của nam và nữ năm 2010 và 2016……….5
Hình 4 Tỷ lệ bẳng cấp cao nhất của nam và nữ năm 2010 và 2016… ……… 10
Hình 5 Tỷ lệ tiếp cận giáo dục các cấp ở thành thị và nông thôn……….11
Hình 6 Phân công lao động giữa hai vợ chồng trong gia đình……….12
Hình 7 Tỷ lệ chia sẻ việc nhà theo độ tuổi và theo nơi sống ……… 13
Trang 6I TỔNG QUAN
Từ xa xưa trong lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn lịch sử đó có sự thay đổi về hoàn cảnh chính trị, kinh tế dẫn đến vai trò của giới nam và giới nữa trong gia đình hay xã hội cũng thay đổi Do đó, quan niệm về tính cách, quy tắc xử sự của mỗi người cũng biến đổi không ngừng Xã hội ngày càng văn minh, người ta công nhận quyền bình đẳng của 2 giới Trong phân công lao động, vai trò của hai giới xích lại gần nhau, hệ thống giáo dục cũng không có sự phân biệt lớn
về giới tính Về nguyên tắc, ngày nay mỗi con người, dù nam hay nữ, đều có điều kiện phát triển toàn diện hơn, không phải bó hẹp trong các khuôn mẫu cổ xưa về đàn ông và đàn bà nữa Tuy nhiên, các quy định, quan niệm về tính cách, quy tắc của xã gội vẫn còn để lại những dư âm của nó, ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi con người Nam tính hay nữ tính là những từ được nhắc đến nhiều trong cuộc sống hàng ngày và cũng là thuật ngữ trung tâm của các chuyên luận về giới Chúng được sử dụng quen thuộc đến mức tạo nên nhận thức có tính phổ quát, nữ tính đối với phụ nữ, nam tính đối với nam giới là đặc tính tự nhiên, bất biến Nói cách khác, chúng được nói đến như những đặc tính đồng nhất với giới tính sinh học, bất chấp sự biến động của các không gian và thời gian văn hóa Nam tính, nữ tính được coi là đặc trưng tính cách của mỗi giới, từ đó nó quy định những năng lực có thể và vai trò của họ (thiên chức) đối với xã hội Niềm tin vào đặc trưng tính cách mỗi giới như vậy đã và đang dẫn đến những hành vi phân biệt đối xử mang tính chất kỳ thị giới Thực ra nam tính và nữ tính không phải là những đặc tính tự nhiên, mà là những khuôn mẫu về giới được tạo ra như những sản phẩm mang tính kiến tạo xã hội, mà nội hàm của chúng phản ánh những bối cảnh văn hóa đặc thù
Để hiểu được những ảnh hưởng của quan niệm nam tính và nữ tính đối với một số khía
cạnh trong xã hội ta sẽ cùng bàn bạc và phân tích “Nghiên cứu ảnh hưởng của quan
niệm nam tính và nữ tính đến một số khía cạnh xã hội”
II NỘI DUNG
1) Khái niệm cơ bản
Trang 71.1.1 Giới tính (Sex)
Trong Khoản 2, Điều 5, Luật Bình đẳng giới, năm 2006 có nêu ra khái niệm về giới
tính như sau: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” [1]
Bên cạnh đó, trong “Phụ lục 2: Giải thích thuật ngữ trong Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành Giáo dục giai đoạn 2016-2020” trong Quyết định số 4996/QĐ-BGDĐT ngày 28/10/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nêu rõ khái niệm về giới tính (Trích theo Hướng dẫn BĐG trong chính sách và thực tiễn đào tạo giáo viên của UNESCO, 2015)
Là những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như các đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ Một người có thể là nam hoặc nữ bất kể chủng tộc, tầng lớp, tuổi tác hoặc sắc tộc
Tuy nhiên, ý nghĩa xã hội gắn liền với sinh học của một người có thể khác nhau tùy thuộc vào dân tộc của họ Một số người có thể có đặc tính sinh học của cả hai phái, nam
và nữ, bởi sự phức tạp về mặt thể chất của họ
[2]
Còn theo Doãn Thị Ngọc, trong một bài viết cũng có đề cập đến khái niệm giới như sau
Giới tính (sex) là sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Về tự nhiên, nam giới có
dương vật và tinh hoàn, còn nữ giới có âm vật và buồng trứng Hay nói một cách khác, giới tính đề cập đến một tập hợp các thuộc tính sinh học ở người và động vật Nó chủ yếu liên quan đến các đặc điểm thể chất và sinh lý bao gồm nhiễm sắc thể, biểu hiện gen, mức độ và chức năng hormone cũng như giải phẫu sinh sản và tình dục Giới tính thường được phân loại là nữ hoặc nam nhưng có sự khác biệt về các thuộc tính sinh học bao gồm giới tính và cách các thuộc tính đó được thể hiện
[3]
Như vậy, Giới tính (Sex) là một khái niệm xuất phát từ khía cạnh sinh học, chỉ sự
khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam/nữ/lưỡng tính - người có 2 bộ phận sinh dục) Cụ thể là phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú, nam giới tạo ra tinh trùng để thụ thai Những đặc điểm này là ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ Những đặc trưng cơ bản của
giới tính: Bẩm sinh, Đồng nhất, Không biến đổi
Trang 8Nguồn: Lư Phạm Thiện Duy (thiết kế và biên soạn)
1.1.2 Giới (Gender)
Trong Khoản 2, Điều 5, Luật Bình đẳng giới, năm 2006 có nêu ra khái niệm giới tính:
“Đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [1]
Cũng trong “Phụ lục 2: Giải thích thuật ngữ trong Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành Giáo dục giai đoạn 2016-2020” trong Quyết định số 4996/QĐ-BGDĐT ngày 28/10/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nêu rõ khái niệm về giới tính (Trích theo “Tài liệu Hướng dẫn về bình đẳng giới cho các ấn phẩm của UNESCO, 2012)
Giới đề cập đến vai trò và trách nhiệm của nam giới và phụ nữ được tạo ra trong gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta Khái niệm giới cũng liên quan tới những mong đợi về đặc điểm, khả năng và những hành vi, ứng xử của cả phụ nữ và nam giới (nữ tính và nam tính)
[2]
Theo Trần Thị Quế (1999) thì Giới (Gender) được đề cập như sau
Giới (gender) là thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh
xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đén giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội Những đậc trưng cơ bản của giới: Do dạy và học mà có, Đa dạng, Luôn biến đổi [4]
Trang 9Như vậy, Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ về mặt vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được
Nguồn: Lư Phạm Thiện Duy (thiết kế và biên soạn)
Ví dụ Phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán, trở thành lãnh đạo, phi công, thợ máy… Ngược lại nam giới có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký v.v Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ
và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội Chúng thay đổi từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định Vì vậy, địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị
1.2 Định kiến giới
Theo Từ điển thuật ngữ giới của Chương trình lương thực Thế giới (World Food
Programme) (trích theo Nguyễn Thị Thu Hà, 2008) thì định kiến giới được định nghĩa như sau
Trang 10Định kiến giới được hiểu là những hành động chống lại phụ nữ (hay nam giới) dựa trên cơ sở nhận thức rằng giới tính này không có quyền bình đẳng với giới tính kia
và không có được quyền lợi như nhau
[5]
Theo khái niệm vừa nêu thì định kiến về giới bộc lộ trên 02 phương diện: hành động chống đối và những hành động chống đối này được thực hiện trên cơ sở của sự nhận thức sai lầm về vấn đề giới
Trong Điều 5, Luật bình đẳng giới được thông qua năm 2006 và có hiệu lực thi hành
từ tháng 07 năm 2007 ở Việt Nam có đưa ra các hiểu về định kiến giới như sau
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ
[1]
Nhìn chung, định kiến giới được hiểu là những suy nghĩ, những quan điểm, nhận thức cố hữu của một người/một nhóm người, nhưng mang tính thiên kiến cá nhân về đặc điểm bên ngoài và tâm lý bên trong của người nam hoặc người nữ
1.3 Khuôn mẫu giới (Nam tính và nữ tính)
Trong “Phụ lục 2: Giải thích thuật ngữ trong Kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành Giáo dục giai đoạn 2016-2020” trong Quyết định số 4996/QĐ-BGDĐT ngày 28/10/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nêu rõ khái niệm (Trích theo Hướng dẫn về Bình Đẳng Giới đối với các ấn phẩm của UNESCO – 2012)
Sự khái quát hóa giản đơn về đặc điểm, tính cách, vai trò, của các cá nhân hoặc nhóm người dựa trên giới tính của họ Các khuôn mẫu có thể là tích cực hoặc tiêu cực nhưng chúng hiếm khi đưa ra thông tin chính xác về người khác
Trang 11nữ tính theo khuôn mẫu giới là sự cụ thể hóa bản sắc theo những kì vọng, mong chờ của
xã hội Nghiên cứu cho thấy, nền văn hóa khác nhau, có một sự nhất trí chung về những đặc điểm nam tính và nữ tính
2) Lý thuyết tiếp cận
2.1 Lý thuyết chức năng về giới của Mirriam Johnson
Người đề xướng chủ yếu của một lý thuyết chức năng về phái tính là Miriam Johnson Phát biểu với tư cách một nhà chức năng và theo thuyết nữ quyền, trước hết Johnson thừa nhận rằng có một xu hướng phân biệt giới tính không chủ định trong lý thuyết của Talcott Parsons về gia đình và rằng thuyết chức năng đã đặt ra ngoài lề các vấn đề về sự bất bình đẳng xã hội, sự thống trị và sự áp bức Lý thuyết này phân biệt vai trò giới, đặc biệt là chức năng của phụ nữ và đàn ông trong gia đình; qua đó, định vị nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong xã hội theo chế độ gia trưởng
Johnson cho rằng vai trò của gia đình là xã hội hoá trẻ em và tái tạo về mặt tình cảm các thành viên trưởng thành Vai trò đó được người phụ nữ đảm nhận bởi họ
có chức năng biểu đạt còn người đàn ông có chức năng duy lý công cụ; tức là, người đàn ông có chức năng về mặt kinh tế, đời sống vật chất và đối ngoại với cộng đồng xã hội, còn người phụ nữ có chức năng duy trì tình cảm của các thành viên trong gia đình Các chức năng của phụ nữ trong gia đình đã chi phối tới chức năng kinh tế của họ Phụ
nữ được hướng nghiệp tới các nghề nghiệp mang tính biểu cảm như giáo viên, y tá, bác
sĩ, đầu bếp, thợ may Trong những lĩnh vực mà đàn ông thống trị, họ có thể tham gia nhưng khó có thế chiếm được vị trí cấp cao và luôn bị ảnh hưởng bởi những trách nhiệm gia đình nặng nề Chức năng giới được truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác Các bé trai và các bé gái học hỏi vai giới từ cha và mẹ của chúng và tái tạo trong tương lai Ứng dụng lý thuyết chức năng giới này nhằm mục đích giải thích những khuôn mẫu giới ảnh hưởng lên các bé trai và bé gái trong suốt quá trình sống của chúng cũng như những vấn đề định kiến giới trong một số khía cạnh xã hội
2.2 Lý thuyết phân tích xung đột theo khía cạnh giới của Janet Chafetz
Lý thuyết gia có ảnh hưởng nhiều nhất về vấn đề phái tính từ viễn cảnh của thuyết phân tích xung đột là Janet Chafetz Bà tập trung vào sự bất bình đẳng phái tính, hay
như cách bà gọi, sự phân tầng giới tính (sex stratification) Trong việc bắt đầu từ sự
phân tầng giới tính, Chafetz bám sát thuyết phân tích xung đột: bà tìm một hình thái có
Trang 12tính chất tái diễn của xung đột xã hội và đưa vào phân tích, các điều kiện cấu trúc sản sinh ra sự xung đột ở cường độ nhiều hơn hay ít hơn
Chafetz thăm dò các cấu trúc và điều kiện xã hội có ảnh hưởng tới cường độ của sự phân tầng giới tính – hay các bất lợi của phụ nữ trong mọi xã hội và mọi nền văn hoá Các cấu trúc và điều kiện này bao gồm sự phân biệt giới tính về vai trò, ý thức hệ gia trưởng, gia đình và tổ chức lao động, các điều kiện định khuôn như các khuôn mẫu sinh sản, sự phân cách của các vị trí lao động và nội trợ, thặng dư kinh tế, tính phức tạp về
kỹ thuật, mật độ dân số, và sự khắc nghiệt của môi trường Sự tương tác giữa các yếu tố này quyết định mức độ của sự phân tầng giới tính Quan điểm của Chafetz là phụ nữ chịu đựng sự bất lợi ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng giữa các trách nhiệm nội trợ với vai trò quan trọng kinh tế gia đình
3) Các quan niệm về “nam tính” và “nữ tính” trong xã hội
Nam tính là một mô hình cụ thể của các hành vi hoặc thực hành xã hội có liên quan đến những ý tưởng về cách nam giới nên ứng xử và vị trí của họ trong quan hệ giới Cũng như nữ tính, có nhiều loại nam tính khác nhau, chúng thay đổi theo thời gian và theo các bối cảnh khác nhau [10] Trong xã hội truyền thống việc đề ra những quan niệm
về “nam tính” và “nữ tính” được diễn ra mạnh mẽ Có rất nhiều khuôn mẫu đặt ra khiến con người, đặc biệt là phụ nữ phải đối mặt với những áp lực to lớn Điều này thời kì nào cũng có Thậm chí, những khuôn mẫu như “việc nhà là của phụ nữ”, “phụ nữ thì không cần học quá cao”… đang là rào cản lớn, tước đi cơ hội của phụ nữ trong khi xét về năng lực, phụ nữ không thua kém đàn ông (Khuất Thu Hồng, 2021, trích trong [6])
Việc thiết lập khuôn mẫu giới trong xã hội cũng mang một ý nghĩa tích cực đó là giúp con người tư duy nhanh hơn, có đích đến và có những động lực tốt đẹp để hướng tới Tuy nhiên lợi ích đó là chưa đủ so với những điểm tiêu cực kéo theo như: tư duy hạn hẹp, lối mòn, sai bản chất, bỏ lỡ những ý tưởng mới, tự làm khó cho chính bản thân mình cũng như ảnh hưởng đến những người xung quanh Định kiến giới cho rằng nam giới phải quyết đoán, mạnh mẽ nên hình thành tính gia trưởng trong nam giới - là một nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình Định kiến giới tạo áp lực buộc nam giới phải uống rượu, hút thuốc lá để thể hiện nam tính Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của nam giới Định kiến giới tạo nên tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, làm cho phụ nữ tự ti, an