Các nghiên cứu ở nước ngoài ghi nhận các yếu tố độc lập liên quan với rối loạn lo âu và trầm cảm ở những bệnh nhân hiếm muộn là tuổi, giới tính, trình độ học vấn, khoảng thời gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
VŨ THỊ THU THỦY
LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN
TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN QUỐC GIA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
HÀ NỘI – 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
VŨ THỊ THU THỦY
Mã học viên: C01925
LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN
TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN QUỐC GIA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2022
Chuyên ngành : Điều dưỡng
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Trương Việt Dũng
HÀ NỘI - 2023
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Vũ Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Thăng Long
Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
Phòng Sau đại học và Quản lý khoa học Trường Đại học Thăng Long
Bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học Thăng Long
đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đến GS.TS Trương Việt Dũng, trưởng
bộ môn Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Thăng Long - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, luôn tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất tận tình, cẩn thận trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các anh chị Bác sỹ, Điều dưỡng Phòng Chỉ đạo tuyến,Trung tâm hỗ trợ sinh sản quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương đã tạo điều kiện hết sức cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại trung tâm
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, tình cảm yêu thương sâu sắc tới gia đình người thân và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin tri ân những tình cảm và công lao ấy
Hà Nội, tháng 3 năm 2023
Vũ Thị Thu Thủy
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CLCS Chất lượng cuộc sống
CDC Centers for Disease Control (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật) DASS Depression-Anxiety-Stress Scale (Thang đo trầm cảm-to âu-
Stress) HADS Hospital Anxiety and Depression Scale
FSFI Female sexual Funtion Index (chỉ số chức năng sinh dục)
IUI Intrauterine insemination (bơm tinh trùng vào buồng tử cung) IVF In vitro fertilization
UQOL The Utian Quality of life Scale (chất lượng cuộc sống)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 BỆNH HIẾM MUỘN 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Nguyên nhân gây hiếm muộn 3
1.1.3 Các xét nghiệm thăm dò chẩn đoán 5
1.1.4 Một số phương pháp điều trị hiếm muộn 6
1.2 RỐI LOẠN LO ÂU 11
1.2.1 Khái niệm lo âu 11
1.2.2 Biểu hiện lâm sàng của lo âu bệnh lý 11
1.2.3 Tiến triển và biến chứng 13
1.2.4 Chẩn đoán rối loạn lo âu bằng thang đo lo âu 13
1.3 RỐI LOẠN TRẦM CẢM 14
1.3.1 Khái niệm trầm cảm 14
1.3.2 Các biểu hiện lâm sàng 15
1.3.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán 16
1.3.4.Chẩn đoán trầm cảm bằng thang đo trầm cảm 16
1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG HIẾM MUỘN 17
1.5 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA NGƯỜI HIẾM MUỘN 18
1.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 21
Phương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 72.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 22
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 22
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 22
2.3.3 Biến số nghiên cứu 24
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.3.5.Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 43
2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 44
2.5 SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ 44
2.5.1 Sai số 44
2.5.2 Biện pháp khắc phục sai số 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 46
3.1.1 Đặc điểm về tuổi 46
3.1.2 Đặc điểm trình độ học vấn 47
3.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp 47
3.1.4 Đặc điểm về điều kiện sống và bệnh lý kèm theo 48
3.1.5 Đặc điểm hiếm muộn lịch sử điều trị hiếm muộn và tình trạng sức khỏe sinh sảncủa vợ 49
3.2 TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ TRẦM CẢM 51
3.3 YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ TRẦM CẢM 53 3.3.1 Liên quan giữa tình trạng lo âu và trầm cảm 53
3.3.2 Áp lực phải sinh con 55
3.3.3 Yếu tố tuổi liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 57
Trang 83.3.4 Yếu tố thời gian hiếm muộn liên quan đến tình trạng lo âu và trầm
cảm 59
3.3.5 Kết quả điều trị liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm ở nhóm chồng – vợ 61
3.3.6 Yếu tố chất lượng đời sống sinh dục liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 63
3.3.7 Tổng hợp các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm 67
Chương 4 BÀN LUẬN 71
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 71
4.1.1 Đặc điểm tuổi 71
4.1.2 Đặc điểm trình độ học vấn 72
4.1.3 Đặc điểm nghề nghiệp 73
4.1.4 Đặc điểm tình trạng sống sau kết hôn 73
4.1.5 Đặc điểm loại hiếm muộn 74
4.1.6 Lịch sử điều trị hiếm muộn 75
4.1.7 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đánh giá về nội tiết, sinh dục của đối tượng 75
4.2 TÌNH TRẠNG LO ÂU TRẦM CẢM 76
4.2.1 Tỷ lệ lo âu ở các cặp vợ chồng hiếm muộn 76
4.2.2 Tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn 76
4.2.3 Hệ số tương quan giữa điểm lo âu và điểm trầm cảm 77
4.3 YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LO ÂU, TRẦM CẢM 77
4.3.1 Liên quan giữa tình trạng lo âu và trầm cảm 77
4.3.2 Liên quan đến áp lực phải sinh con 78
4.3.3 Yếu tố tuổi liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 78
4.3.4 Yếu tố thời gian hiếm muộn liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 80
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 94.3.5 Kết quả điều trị liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 82
4.3.6 Yếu tố chất lượng đời sống sinh dục liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm 83
4.3.7 Tổng hợp các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm 85
KẾT LUẬN 88
KHUYẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu 24
Bảng 2.2 Thang đo đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS21 28
Bảng 2.3 Thang đo đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS21 29
Bảng 2.4 Thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống 30
Bảng 2.5 Bảng tự đánh giá chỉ số chức năng sinh dục nữ 32
Bảng 2.6 Bảng tự đánh giá chức năng sinh dục nam 38
Bảng 2.7 Triệu chứng chẩn đoán suy giảm nội tiết sinh dục – AMSDM 41
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng theo tuổi 46
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp 47
Bảng 3.3 Đặc điểm về áp lực gia đình và bệnh lý kèm theo 48
Bảng 3.4 Lịch sử tình trạng sức khỏe sinh sản của vợ 49
Bảng 3.5 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đáng giá về nội tiết, sinh dục của đối tượng 50
Bảng 3.6 Tỷ lệ và mức độ lo âu của hai nhóm vợ và chồng hiếm muộn 51
Bảng 3.7 Tỷ lệ và mức độ trầm cảm của hai nhóm vợ và chồng hiếm muộn 51 Bảng 3.8 Hệ số tương quan giữa điểm lo âu và điểm trầm cảm ở nhóm vợ và chồng 52
Bảng 3.9 Liên quan giữa tình trạng lo âu và trầm cảm ở nhóm chồng 53
Bảng 3.10 Liên quan giữa tình trạng lo âu và tình trạng trầm cảm ở nhóm vợ 54
Bảng 3.11 Áp lực phải sinh con của gia đình lên quan đến tình trạng lo âu của chồng – vợ 55
Bảng 3.12 Áp lực phải sinh con của gia đình lên quan đến tình trạng trầm cảm của chồng – vợ 56
Bảng 3.13 Tuổi liên quan đến mức độ lo âu của nhóm chồng 57
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 11Bảng 3.14 Tuổi liên quan đến mức độ lo âu của nhóm vợ 57
Bảng 3.15 Tuổi liên quan đến mức độ trầm cảm của nhóm chồng 58
Bảng 3.16 Tuổi liên quan đến mức độ trầm cảm của nhóm vợ 58
Bảng 3.17 Thời gian hiếm muộn liên quan đến tình trạng lo âu ở nhóm chồng – vợ 59
Bảng 3.18 Thời gian hiếm muộn liên quan đến tình trạng trầm cảm ở nhóm chồng – vợ 60
Bảng 3.19 liên quan giữa tình trạng lo âu và thất bại điều trị ở nhóm 61
Bảng 3.20 Liên quan giữa tình trạng trầm cảm và thất bại điều trị ở nhóm chồng- vợ 62
Bảng 3.21 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đánh giá về nội tiết, sinh dục của người chồng 63
Bảng 3.22 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đánh giá về nội tiết, sinh dục của người vợ 64
Bảng 3.23 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đánh giá về nội tiết, sinh dục của người chồng 65
Bảng 3.24 Điểm chất lượng cuộc sống (tình dục) và tự đánh giá về nội tiết, sinh dục của người vợ 66
Bảng 3.25 Tình trạng lo âu của vợ và yếu tố liên quan 67
Bảng 3.26 Tình trạng lo âu của chồng và yếu tố liên quan 68
Bảng 3.27 Tình trạng trầm cảm của vợ và yếu tố liên quan 69
Bảng 3.28 Tình trạng trầm cảm của chồng và yếu tố liên quan 70
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn 47Biểu đồ 3.2 Tình trạng sống sau kết hôn 48Biểu đồ 3.3 Mối liên quan giữa điểm đánh giá lo âu và trầm cảm của
nhóm vợ 52Biểu đồ 3.4 Mối liên quan giữa điểm đánh giá lo âu và trầm cảm của
nhóm chồng 53
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Giải phẫu tử cung và nguyên nhân hiếm muộn do tắc ống dẫn trứng 6
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe tâm thần là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với đời sống cảm xúc của con người Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe tâm thần là trạng thái trạng thái mà trong đó con người nhận thức được khả năng của bản thân, có thể đối phó với những căng thẳng thông thường, vẫn làm việc hiệu quả và đóng góp cho cộng đồng [62]
Người có sức khỏe tâm thần tốt là người có tinh thần khỏe mạnh, luôn tích cực trong suy nghĩ, biết cách kiểm soát hành vi và cảm xúc Khi đối mặt với những khó khăn thử thách, người có sức khỏe tâm thần tốt sẽ có ý chí kiên cường hơn
Hiếm muộn là một trong những vấn đề đáng lo ngại của cá nhân và xã hội, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng Hiếm muộn có thể gây ra những rối loạn về tâm thần, stress tâm lý cho người mắc[19],[44] Theo các báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới có khoảng 10%-15% các cặp vợ chồng mắc chứng hiếm muộn Ở Việt Nam, tỷ lệ hiếm muộn qua khảo sát vào khoảng 7,7% ở các cặp vợ chồng [63] Các vấn đề tâm lý xảy ra ở các cặp vợ chồng mắc chứng hiếm muộn liên quan với một số bệnh nội khoa nặng và kết quả điều trị kém Nhiều báo cáo ghi nhận rối loạn lo âu và trầm cảm xảy ra ở những phụ nữ hiếm muộn nhưng khá ít báo cáo trên người chồng [26],[29]
Lo âu và trầm cảm là hai rối loạn tâm thần thường gặp ở bệnh nhân và dân cư trong cộng đồng [11] Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn lên [11] Rối loạn lo âu ở phụ nữ hiếm muộn cũng được báo cáo trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới với tỷ lệ hiện mắc là 36,17% Phụ nữ hiếm muộn ở những nước có thu nhập thấp và trung bình là 54,2% và ở các nước có thu nhập cao là 25% [65] Một vài nghiên cứu đã chứng minh rối loạn lo âu gây
Trang 14tác động bất lợi cho khả năng sinh sản và giảm lo âu làm tăng tỷ lệ có thai [35],[47]
Trầm cảm, dù ở mức độ nặng, vừa hay nhẹ, đều có những biểu hiện đặc trưng như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, tăng mệt mỏi dù chỉ một cố gắng nhỏ [8] Kết quả phân tích tổng hợp các nghiên cứu về trầm cảm ở các cặp vợ chồng Iran mắc chứng hiếm muộn, ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng là 35,3%, trầm cảm ở nữ là 48,7% và ở nam
là 9% [50] Trầm cảm có thể đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh chứng hiếm muộn [35], [47]
Những người có bất thường về sinh sản bị rối loạn lo âu và trầm cảm chiếm tỷ lệ cao gần gấp đôi so với dân cư trong cộng đồng Hai rối loạn này ảnh hưởng đáng kể lên chất lượng cuộc sống của các cặp vợ chồng hiếm muộn và cần có sự quan tâm điều trị nhiều hơn [43],[45] Các nghiên cứu ở nước ngoài ghi nhận các yếu tố độc lập liên quan với rối loạn lo âu và trầm cảm ở những bệnh nhân hiếm muộn là tuổi, giới tính, trình độ học vấn, khoảng thời gian mắc hiếm muộn, nguyên nhân hiếm muộn, số lần điều trị hiếm muộn thất bại trước đây [29] Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu, báo cáo về rối loạn lo âu và trầm cảm trên các cặp vợ chồng hiếm muộn còn rất hạn chế Lo âu, trầm cảm là một trong những nguyên nhân gây ra sự căng thẳng tâm lý lớn và điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng thụ thai cho những cặp vợ chồng hiếm muộn
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Lo âu,
trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở các cặp vợ chồng khám, điều trị hiếm muộn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2022”, với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng khám, điều trị hiếm muộn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng khám, điều trị hiếm muộn.
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỆNH HIẾM MUỘN
1.1.1 Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một cặp vợ chồng được gọi là hiếm muộn hay vô sinh là khi chung sống với nhau và có quan hệ tình dục bình thường, không sử dụng bất cứ một biện pháp tránh thai nào trong khoảng thời gian ít nhất 12 tháng mà vẫn không có con [62]
Hiếm muộn được phân làm hai loại là hiếm muộn nguyên phát và hiếm muộn thứ phát Hiếm muộn nguyên phát khi cặp vợ chồng chưa có thai lần nào và hiếm muộn thứ phát khi họ đã từng có thai hoặc có con trước đó [62]
1.1.2 Nguyên nhân gây hiếm muộn
Một cặp vợ chồng hiếm muộn (vô sinh) có thể do người chồng, hoặc do người vợ hoặc do cả hai Sự thụ thai có thể xảy ra khi đạt được các điều kiện
đó là: (1) có sự phát triển nang noãn và phóng noãn; (2) có sự sản xuất tinh trùng đảm bảo chất lượng; (3) tinh trùng gặp được trứng và (4) sự thụ tinh và làm tổ lại niêm mạc tử cung Khi có rối loạn bất kỳ khâu nào trong chuỗi cáchoạt động sinh sản này dẫn đến kết cục bất lợi (3) Nguyên nhân hiếm muộn có thể do nội tiết yếu, bất thường về giải phẫu và chức năng cơ quan sinh dục, có thể phân như sau:
Hiếm muộn do nam giới
- Nội tiết yếu
- Bất thường giải phẫu: Tinh hoàn ẩn, giãn tĩnh mạch thừng tinh
- Bất thường chức năng cơ quan
Do bất thương tinh dịch: Thiểu tinh, tinh trùng yếu, tinh trùng dị dạng
Trang 16 Rối loạn chức năng: Rối loạn cương dương, rối loạn phóng tinh
- Các nguyên nhân khác: Chấn thương tinh hoàn, viêm niệu sinh dục
Nguyên nhân do nữ giới
- Nội tiết yếu
- Bất thường cơ quan sinh dục
Rối loạn phóng noãn: Sự phát triển và trưởng thành của nang noãn có thể bị ảnh hưởng do thiểu năng vùng dưới đồi-tuyến yên, do buồng trứng suy Với các trường hợp vô sinh do không phóng noãn, nguyên nhân do hội chứng buồng trứng đa nang chiếm tỷ lệ tới 75% Năm 1988, Polson và cộng sự nghiên cứu trên những phụ nữ khoẻ mạnh, không bị hiếm muộn, buồng trứng
đa nang đã được tìm thấy ở 22% số phụ nữ Ả Rập bình thường Gardir (1992) thấy tần suất của hội chứng này là 16% Theo Phạm Như Thảo (2004), tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong nguyên nhân vô sinh không phóng noãn
có 51,6% là do buồng trứng đa nang [10],[27] Rối loạn kinh nguyệt xảy ra ở khoảng 79% bệnh nhân buồng trứng đa nang, trong đó kinh thưa 71% và 8%
là vô kinh [32]
Vòi trứng bất thường: Tổn thương vòi trứng do viêm nhiễm, do phẫu thuật vùng chậu và vòi trứng, lạc nội mạc tử cung ở vòi trứng, bất thường bảm sinh ở vòi trứng
Nguyên nhân tại tử cung: U xơ tử cung, viêm dính buồng tử cung, bất thường bẩm sinh (dị dạng tử cung 2 sừng, tử cung có vách ngăn, không có tử cung )
Nguyên nhân do cổ tử cung: Chất nhầy kém, kháng thể kháng tinh trùng, tổn thương cổ tử cung do can thiệp thủ thuật
- Nguyên nhân khác: Tâm lý tình dục, chứng giao hợp đau, các dị dạng bẩm sinh đường sinh dục
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 17 Hiếm muộn không rõ nguyên nhân
Khoảng 10% các trường hợp vô sinh không thể tìm được nguyên nhân chính xác sau khi đã thăm khám và làm tất cả các xét nghiệm cần thiết để thăm dò và chẩn đoán
1.1.3 Các xét nghiệm thăm dò chẩn đoán
Thăm dò ở người nữ
- Xét nghiệm nội tiết: Nội tiết tố hướng sinh dục, nội tiết sinh dục
- Thăm dò phóng noãn: Đo thân nhiệt cơ sở, chỉ số cổ tử cung, chỉ số nhân đông, sinh thiết nội mạc tử cung định ngày
- Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm phụ khoa, siêu âm theo dõi sự phát triển nang noãn và phóng noãn, siêu âm thai sớm, chụp phim tử cung vòi trứng
- Phẫu thuật nội soi: Chẩn đoán các bất thường sinh dục, nội soi gỡ dính vòi trứng, buồng trứng, bơm thông vòi trứng
- Xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ phát hiện các bất thường di truyền
Thăm dò ở nam
- Xét nghiệm tinh dịch: Phân tích tinh dịch
- Chẩn đoán hình ảnh: Khảo sát bìu, tinh hoàn, mào tinh hoàn, thừng tinh qua siêu âm, chụp đường dẫn tinh
- Sinh thiết tinh hoàn, mào tinh hoàn, thừng tinh tìm sự hiện diện của tinh trùng trong trường hợp mẫu tinh dịch vô tinh
- Xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ phát hiện các bất thường di truyền
Trang 18Hình 1.1: Giải phẫu tử cung và nguyên nhân hiếm muộn do tắc ống dẫn
trứng [1]
1.1.4 Một số phương pháp điều trị hiếm muộn
1.1.4.1 Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)
- Phương pháp bơm tinh trùng vào tử cung (IUI) được hoạt động với cách thức bác sĩ dùng một ống nhỏ, đưa một lượng tinh trùng nhất định sau khi đã lọc rửa vào buồng tử cung Việc này sẽ giúp chọn được những tinh trùng tốt cũng như rút ngắn quãng đường di chuyển của tinh trùng đến với trứng, tăng khả năng thụ thai.
- Chỉ định: Nam giới : rối loạn khả năng xuất tinh như xuất tinh ngược, rối loạn cương dương, lỗ tiểu thấp…Tinh trùng không đạt chất lượng: Số lượng ít, kém di động hay tỷ lệ bất thường cao Trong tinh trùng có chứa kháng thể kháng tinh trùng Nữ giới : hiếm muộn nhưng chưa xác định được nguyên nhân Chất nhầy ở tử cung không đủ điều kiện để phục vụ quá trình thụ thai: đặc quánh lại hoặc có kháng thể có khả năng kháng tinh trùng Khả
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 19năng phóng noãn không ở trạng thái bình thường Mắc bệnh lý lạc nội mạc tử
cung mức nhẹ Viêm cổ tử cung mãn tính Trứng rụng không đều
- Quy trình: ngày 2 – 3 của kỳ kinh vợ siêu âm để kiểm tra tình trạng niêm mạc tử cung, kích thước của noãn ở hai buồng trứng. Sau đó bác sĩ sẽ tiến hành cho bệnh nhân dùng thuốc kích thích trứng Thời gian để sử dụng thuốc này sẽ khoảng 10 – 14 ngày. Sau thời gian theo dõi thấy noãn đã đủ tiêu chuẩn, bác sĩ sẽ tiêm thuốc rụng trứng Sau khi tiêm khoảng 36 giờ, người vợ
sẽ được hẹn quay lại để bơm tinh trùng.Sau khi đã có mẫu tinh dịch, bác sĩ sẽ tiến hành lọc rửa, loại bỏ đi những vi khuẩn hay kháng thể kháng tinh trùng,
bỏ đi những tinh trùng dị dạng lớn để có được tinh trùng đạt tiêu chuẩn Những tinh trùng được giữ lại phải khỏe, di động tương đối tốt và không có những bất thường quá lớn về mặt hình dạng và tiến hành bơm tinh trùng vào buồng tử cung
1.1.4.2 Thụ tinh trong ống nghiệm
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) tiếng anh là phương pháp điều trị tiến bộ nhất trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Năm 1978, Louise Brown, em bé được TTTON lần đầu tiên ra đời tại Anh [17] Hiện nay, TTTON là pương pháp điều trị vô sinh có tỷ lệ thành công cao nhất được chỉ định cho cả những trường hợp vô sinh nam, tắc vòi tử cung, lạc nội mạc tử cung, vô sinh không rõ nguyên nhân đã thực hiện bơm tinh trùng vào buồng tử cung nhiều lần thất bại, xin noãn… Ngoài ra, TTTON còn hỗ trợ cho phương pháp điều trị khác như cho noãn, chẩn đoán di truyền trước khi làm tổ Quá trình thực hiện thụ tinh ống nghiệm theo các bước như sau:
- Dùng thuốc KTBT để có nhiều nang noãn cùng phát triển và trưởng thành Theo dõi sự phát triển và trưởng thành của các nang noãn bằng siêu âm và định lượng estradiol máu để điều chỉnh thuốc Khi có nang noãn trưởng
Trang 20thành sẽ tiêm hCG Chọc hút các nang noãn qua đường âm đạo sau khi tiêm hCG 34-36 giờ
- Sau khi chọc hút sẽ:
Đưa dịch hút vào các đĩa petri đặt dưới kính hiển vi có bộ phận luôn giữ nhiệt ở 37 độ C và tìm noãn
Rửa sạch các nang noãn, loại bỏ các tế bào máu và các tế bào hạt
Chuyển các noãn vào hệ thống nuôi cấy
Đánh giá chất lượng và độ trưởng thành các noãn, ghi thời gian dự định tiến hành thụ tinh với tinh trùng
Đặt các noãn trong tủ ấm ở 37 độ C và CO2 5% giữ cho pH ổn định
Lọc rửa tinh trùng đồng thời với ngày thu lượm noãn
Sau 3-4 giờ, mỗi noãn sẽ được chuyển vào một giọt chứa khoảng 100.000 tinh trùng/ml môi trường Nếu có chỉ định ICSI thì thực hiện vào thời điểm này
Theo dõi sự thụ tinh và phát triển của phôi trong những ngày sau đó
Kiểm tra chất lượng của phôi để chọn ra những phôi tốt
- Chuyển phôi tốt nhất vào buồng tử cung sau khi thụ tinh được 2-3 ngày Thường chuyển 1-3 phôi trong 1 lần ở những phụ nữ dưới 35 tuổi, có thể chuyển tối đa 4 phôi ở những người tuổi cao hơn Trước khi chuyển phôi phải lau cổ tử cung bằng môi trường nuôi cấy
- Theo dõi và chẩn đoán thai nghén sau 2 tuần chuyển phôi Do vậy dùng thuốc KTBT theo các phác đồ khác nhau là bước đầu tiên là vô cùng quan trọng quyết định thành công của kỹ thuật TTTON
- Các yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng của buồng trứng và kết quả TTTON
Tuổi: Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ có thai giảm khi tuổi của người vợ tăng lên vì tuổi là một yếu tố tiên lượng dữ trữ buồng trứng và hơn thế nữa, tuổi là yếu tố liên quan đến chất lượng nang noãn Ngoài ra, tuổi cao của người vợ còn liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ sẩy thai và các
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 21dị tật bẩm sinh [3],[15],[31] Với những trường hợp trên 40, thì tuổi là yếu tố tiên lượng chính cho khả năng có thai [15] Theo Vũ Thị Bích Loan (2008), nghiên cứu kết quả chuyển phôi ngày 3 thì tỷ lệ có thai ở nhóm tuổi >35 là 26,8%, trong khi đó nhóm dưới 35 tuổi tỷ lệ có thai là 42,4%(OR = 1,581; CI 95%: 1,035-3,851) [3] TheoThái Thị Huyền (2013), nghiên cứu kết quả TTTON của nhóm phụ nữ tuổi ≥40, tại Trung tâm HTSS Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương cho tỷ lệ có thai lâm sàng là 16,75% [2].
Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI): BMI là một trong những yếu tố quan trọng tiên lượng đáp ứng buồng trứng khi kích thích, được tính theo công thức: BMI = Cân nặng (kg)/chiều cao x chiều cao (m2) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng BMI tăng sẽ làm tăng liều FSH, tăng số ngày kích thích buồng trứng, thu được ít nang noãn lớn và trung bình và là thông số có giá trị để dự báo số nang ≥14 mm ngày tiêm hCG [37],[566]
Tiền sử phẫu thuật ở tiểu khung: Những can thiệp vào vùng tiểu khung
có thể gây dính vùng tiểu khung, đặc biệt là phẫu thuật trên buồng trứng làm mất phần tổ chức lành của buồng trứng, do đó làm giảm dự trữ của buồng trứng, là nguyên nhân làm cho buồng trứng đáp ứng kém, thu được ít noãn Tiền sử phẫu thuật tiểu khung đặc biệt là phẫu thuật ở buồng trứng là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kích thích buồng trứng [25],[28]
Số lượng nang thứ cấp (AFC): Số lượng nang thứ cấp được đánh giá bằng siêu âm đầu dò âm đạo từ ngày 2-4 của chu kỳ kinh Các nghiên cứu đều đưa ra nhận định rằng AFC có ý nghĩa tiên lượng đáp ứng của buồng trứng vì AFC thấp dự báo số nang noãn thu được ít và nguy cơ phải hủy chu kỳ cao, thời gian và tổng liều lượng Gonadotropins nhiều hơn các trường hợp có AFC ở mức bình thường [31],[18],[22],[51],[42]
Trang 22Các bệnh nhân có số nang thứ cấp <4 nang thì tỷ lệ hủy bỏ chu kỳ cao hơn so với những bệnh có trên 4 nang thứ cấp (41% so với 6,4%), tỷ lệ
có thai thấp hơn trong TTTON [3],[57].Cùng với AMH, AFC giúp tiên lượng QKBT [33] Nguy cơ quá kích trung bình và nặng là 2,2% khi AFC <24, tăng lên 8,6% với AFC ≥24 [33]
Độ dày và dạng của niêm mạc tử cung ngày chuyển phôi: Độ dày và dạng của niêm mạc tử cung ngày cho hCG có ý nghĩa tiên lượng khả năng làm tổ và có thai Theo Nguyễn Thị Thu Phương (2006), tỷ lệ có thai lâm sàng ở nhóm có độ dày nội mạc TC >10mm cao hơn gấp 2,24 lần so với nhóm có độ dày nội mạc tử cung <10mm (p<0,01) [8] Nghiên cứu của Kuc P và cs, tỷ lệ có thai lâm sàng cao nhất ở nhóm có
độ dày nội mạc tử cung từ 12-13mm cho cả 2 phác đồ dài Agonist và phác đồ Antagonist (lần lượt là 61.6% và 58.8%) [40] Một số nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy các trường hợp khi NMTC
<7mm có tiên lượng tồi về các kết quả TTTON[3],[4],[41] Nhiều nghiên cứu đều cho kết luận nội mạc tử cung dạng 3 lá là yếu tố tiên lượng tốt cho kết quả IVF [21],[40],[64]
Chất lượng phôi Chất lượng phôi khi chuyển là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các chứng cứ đều cho thấy tỷ lệ có thai giảm khi chất lượng phôi chuyển giảm Theo Vũ Thị Bích Loan (2008) tỷ lệ có thai lâm sàng giảm từ 41,4% khi có ≥2 phôi độ 3, xuống còn lần lượt là 27,8% và 7,7% khi có một hoặc không có phôi độ 3 nào [5] Theo F Payne và cs (2005) tỷ lệ có thai khi có ≥2 phôi tốt là 42,9%, có một phôi tốt là 40%, không có phôi tốt nào là 26,1% [34],[57]
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 231.2 RỐI LOẠN LO ÂU
1.2.1 Khái niệm lo âu
Rối loạn lo âu là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh Rối loạn lo âu là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện mạn tính và khuếch tán, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát [8]
Lo âu là một trong các rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao, thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống, Lo âu là cảm xúc tự nhiên của con người, là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó Khi gặp tình trạng lo âu đối tượng thường cảm thấy bực mình, bồn chồn, và căng thẳng tinh thần Lo âu trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tâm khi xuất hiện không liên quan đến tình trạng đe dọa nào hoặc mức độ lo âu không tương xứng với mức độ đe dọa và tồn tại kéo dài Khi mức độ lo âu dẫn đến gây trở ngại cho các hoạt động thì được gọi là lo âu bệnh lý
1.2.2 Biểu hiện lâm sàng của lo âu bệnh lý
- Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý vào công việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng, hay giật mình, hay nghĩ đến những điều nguy hiểm xảy
ra với mình, cảm thấy đầu óc mình trống rỗng, cảm thấy có điều gì xấu sẽ xảy
Trang 24- Triệu chứng cơ bản: Là lo âu, hoảng sợ, thường phát sinh cấp, thời gian diễn biến bệnh lý kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, có khi xuất hiện những cơn hoảng sợ cấp, lặp đi lặp lại
- Phân biệt lo âu bệnh lý với lo âu ở người bình thường
Lo âu bệnh lý: Chủ đề (không có chủ đề rõ ràng mang tính chất vô lý,
mơ hồ), kéo dài lặp đi lặp lại, nhiều triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, lạnh tay chân, run rẩy, bất an )
Lo âu bình thường: Chủ đề (lo lắng có chủ đề, nội dung rõ ràng như ốm đau, công ăn việc làm ), xảy ra nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của chủ thể, hết lo âu khi mất tác động này, không
có hoặc có rất ít rối loạn thần kinh thực vật
- Cơn lo âu:
Những biểu hiện cơ thể như triệu chứng hô hấp (nghẹt thở, ho, nấc cục, ngáp), tim mạch (đánh trống ngực, đau vùng trước tim), tiêu hóa (nôn, buồn nôn, tiêu chảy, ứa nước bọt hoặc khô miệng), tiết niệu (đái dắt, đái nhiều), thần kinh-cơ (run, run mặt, run mí mắt), cảm giác, giác quan (cơn ngứa, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng mặt)
Các triệu chứng tâm thần: Cảm giác bi quan, lo lắng, nghi ngờ, lo sợ về quá khứ, hoảng loạn
- Trạng thái lo âu thường xuyên
- Khi lo âu trở nên một tình trạng mạn tính
Rối loạn tâm thần: chờ đợi nguy hiểm, lo lắng, lúng túng
Rối loạn cơ thể: Rối loạn giấc ngủ, khó ngủ, giấc ngủ không sâu, thức dậy 3 giờ sáng
Sự kích thích: tăng cảm xúc, hay tức giận, thay đổi khí sắc
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 25 Rối loạn chức năng: rối loạn tiêu hóa, rối loạn nước tiểu, giảm ham muốn tình dục hoặc mất
- Lo âu thể tạng: Tâm căn lo âu dưới dạng cơn ít nhiều mạnh xảy ra ở một nhân cách bị rối loạn Lo âu mạn như là một bệnh tâm căn tạo nên một thể tạng lo âu [6]
Các biểu hiện khác: tăng trương lực cơ; run; mệt mỏi; yếu; ra mồ hôi; chóng mặt; đau đầu; giãn đồng tử; đi tiểu thường xuyên; rét run[11]
1.2.3 Tiến triển và biến chứng
Cơn lo âu kéo dài, nếu không được giải quyết kịp thời, tiến triển thành tâm căn (ám ảnh sợ, Hysteria, ám ảnh)
Biến chứng thường gặp nhất là những rối loạn tâm thể: lo âu trở nên loét, hen, lo âu lan tỏa Đôi khi có thể tạo ra cơn trầm cảm, sầu uất Trên lâm sàng đi kèm loạn khí sắc chu kỳ với trạng thái lo âu mạnh
1.2.4 Chẩn đoán rối loạn lo âu bằng thang đo lo âu
Hiện nay, có nhiều thang đo đánh giá rối loạn lo âu thông qua bảng câu hỏi tự đánh giá sự hiện diện và độ nặng của các triệu chứng lo âu Bảng câu hỏi điều tra rối loạn lo âu đầu tiên được soạn thảo bởi các nhà tâm lý nhân cách Cattell và Scheier và Taylor Các bảng câu hỏi đánh giá lo âu này phổ biến trong nhiều năm, nhưng ngày nay ít được sử dụng Từ thập niên 1950, nhiều bảng đánh giá rối loạn lo âu đã được xây dựng Một đánh giá gần đây xác định có đến 145 thang đo khác nhau được sử dụng để đánh giá lo âu [13] Các công cụ sử dụng phổ biến để đánh giá rối loạn lo âu được phân thành hai nhóm [14]
Nhóm công cụ đánh giá chung: Nhằm đánh giá các mặt thường gặp của các rối loạn lo âu khác nhau
Trang 26Nhóm công cụ đánh giá chuyên biệt: Nhằm đánh giá rối loạn lo âu trong các tình huống đặc biệt trong lĩnh vực y khoa cũng như ở ngoài lĩnh vực y khoa
Cả hai nhóm công cụ được phê chuẩn có thể được sử dụng để tầm soát mục đích, hoặc đánh giá kết quả điều trị
Có nhiều thang đo lo âu thường được dùng như thang đo rối loạn lo âu STAI (State Trait Anxiety Inventory), thang đo GAD-7 (Generalized Anxiety Disorder), thang đo BAI (Beck Anxiety Inventory), thang đo Zung, thang đo
lo âu và trầm cảm bệnh viện HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale), thang đo trầm cảm, lo âu, stress DASS (Depression Anxiety Stress Scales)[13], [14], [52]
Năm 1995, Lovibon S.H và Lovibon P.F đã thiết kế thang đo đánh giá đồng thời 3 rối loạn tâm thần phổ biến là trầm cảm, lo âu và stress ký hiệu là DASS 42 Không lâu sau đó, nhóm tác giả tiếp tục cho ra đời thang đo DASS
21, là phiên bản rút gọn của DASS 42 nhằm tiện lợi cho người dùng DASS
42 thích hợp cho lâm sàng còn DASS 21 phù hợp trong nghiên cứu Các nghiên cứu cần thiết đã được tiến hành nhằm khẳng định sự nhất quán giữa DASS 42 và DASS 21 [13],[14],[52]
Trang 27tự tin, tự đánh giá thấp mình Quá trình suy nghĩ chậm chạp, ý tưởng nghèo nàn, tự cho mình có tội, bi quan Một số trầm cảm nặng, có ý nghĩ tự sát [11]
1.3.2 Các biểu hiện lâm sàng
Giai đoạn trầm cảm điển hình (major depressive period): Giai đoạn trầm cảm thường hình thành từ từ trong nhiều tuần với biểu hiện của hội chứng suy nhược và khí sắc ngày càng suy giảm sau đó xuất hiện đủ 3 triệu chứng trầm cảm: cảm xúc bị ức chế (biểu hiện bằng buồn rầu, chán nản, thất vọng ), tư duy bị ức chế (quá trình liên tưởng chậm chạp, bi quan, xấu hổ ), hoạt động
bị ức chế (bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im lìm hàng giờ ), rối loạn tâm thần khác (hoang tưởng, ảo thanh, giảm chú ý )
Trầm cảm có biểu hiện rất đa dạng về mặt tâm thần, thực thể và hành vi Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, tần suất cũng như thời gian xuất hiện các triệu chứng tùy thuộc vào từng cá nhân Có thể kể đến các triệu chứng như [4]:
- Tâm trạng buồn, lo lắng hoặc “trống rỗng” liên tục
- Cảm giác tuyệt vọng hoặc bi quan
- Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực
- Cảm giác bồn chồn, khó chịu
- Mất đi sự quan tâm hoặc thích thú với các sở thích, hoạt động
- Mệt mỏi, giảm năng lực
- Khó tập trung, ghi nhớ hoặc ra quyết định
- Khó ngủ, thức dậy sớm hoặc ngủ quên
- Thèm ăn và/hoặc thay đổi cân nặng
- Xuất hiện ý nghĩ về cái chết, tự tử
- Đau đầu, đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa
Trang 28- Đối với những trường hợp nặng có thể còn gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện được những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc người khác, …
1.3.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán
Chẩn đoán trầm cảm áp dụng các nguyên tắc chẩn đoán đã được mô tả trong bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD.10) Trong đó phải có các các triệu chứng đặc trưng như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, tăng mệt mỏi dù chỉ một cố gắng nhỏ Và thường có những triệu chứng phổ biến khác: giảm sự tập trung chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, có ý tưởng bị tội không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan,
ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng
Khi trầm cảm nặng thường có các triệu chứng sinh học sút cân, mất 5% trọng lượng cơ thể trong vòng 4 tuần Giảm dục năng, mất ngủ, thức giấc sớm
Tình trạng bệnh lý này thường kéo dài ít nhất 2 tuần
1.3.4.Chẩn đoán trầm cảm bằng thang đo trầm cảm
Có nhiều thang đánh giá trầm cảm bao gồm phỏng vấn và tự đánh giá, có thể sử dụng để tầm soát, chẩn đoán và theo dõi điều trị Mỗi thang đo đã được chứng minh có giá trị và đáng tin cậy Tùy thuộc mục đích sử dụng và cộng đồng thích hợp để quyết định thang đo nào là thích hợp cho bệnh nhân và thực hành Sau đây là các thang đo được sử dụng phổ biến: Thang đánh giá trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory) được dùng để tầm soát trầm cảm
và đánh giá biểu hiện hành vi và độ nặng của trầm cảm, giành cho độ tuổi
13-80 Thang đánh giá trầm cảm Trung tâm nghiên cứu dịch tễ (Center for Epidemiologic Studies Depression Scale) dùng cho cộng đồng chung và để tầm soát trầm cảm ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Thang đánh giá
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 29trầm cảm Hamilton (Hamilton Depression Rating Scale) dùng đánh giá trầm cảm ở các cá nhân trước, trong và sau quá trình điều trị Bộ câu hỏi sức khỏe bệnh nhân - 9 (Patient Health Questionnaire 9 – PHQ 9) cho người bệnh tự đánh giá triệu chứng trầm cảm Thang đánh giá nhanh trầm cảm tự báo cáo triệu chứng (Quick Inventory of Depression Symptomatology-Self-Report) Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress gọi tắt là thang đánh giá DASS (Depression- Anxiety-Stress Scale) là một công cụ có giá trị và đáng tin cậy dùng để đánh giá sự hiện diện của triệu chứng trầm cảm, lo âu hoặc stress Thang đánh giá DASS có giá trị ngang nhau khi sử dụng cho cả nam và nữ Phiên bản gốc là DASS-42 và phiên bản rút gọn là DASS-21 [14],[52]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến thang DASS-21, vì theo nhiều tác giả, thang DASS-21 dùng bộ câu hỏi ngắn gọn, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao khi sàng lọc Phiên bản rút gọn thang DASS gồm 21 câu hỏi gọi
là DASS-21,mỗi rối loạn được đánh giá gồm 7 câu hỏi, sau khi trả lời điểm của mỗi rối loạn trầm cảm, lo âu, stress được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần rồi nhân lên hệ số 2 Dựa trên kết quả điểm sẽ đánh giá mức
âu ở các cặp vợ chồng hiếm muộn là giới nữ, tuổi trên 30, trình độ học vấn thấp, không đi làm việc, hiếm muộn nam được chẩn đoán, khoảng thời gian hiếm muộn 3-6 năm [15] Ở Thụy Điển, ghi nhận yếu tố mang thai trước đó,
và hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan trầm cảm ở nữ hiếm muộn
và yếu tố hiếm muộn không xác định được nguyên nhân là yếu tố độc lập duy
Trang 30nhất liên quan rối loạn trầm cảm ở nam giới hiếm muộn; với rối loạn lo âu, chưa ghi nhận yếu tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn, phân tích đơn biến ghi nhận một số yếu tố nguy cơ liên quan đến lo âu ở nam giới hiếm muộn là tuổi, béo phì, hút thuốc, điều trị thụ tinh trong ống nghiệm [43] Báo cáo nghiên cứu ở Hungary ghi nhận triệu chứng trầm cảm và lo âu ở nữ hiếm muộn liên quan với tuổi, mối quan tâm xã hội, mối quan tâm giới tính và stress quan hệ
mẹ - con, lo âu tính cách liên quan với stress tài chính [43] Nghiên cứu ở Iran ghi nhận, nữ giới hiếm muộn có triệu chứng lo âu gấp 2,26 lần so với nam giới hiếm muộn, trong khi tỷ lệ trầm cảm không liên quan với giới tính, những bệnh nhân bị hiếm muộn từ 5 năm trở lên gấp 1,51 lần và 1,3 lần những bệnh nhân khác theo thứ tự về triệu chứng lo âu và trầm cảm [43] Ở Trung Quốc, nghiên cứu ghi nhận các yếu tố lâm sàng như bệnh đi kèm (giãn tĩnh mạch thừng tinh, nang mào tinh hoàn, rối loạn cương dương) là những yếu tố nguy cơ liên quan triệu chứng trầm cảm và cả hai trầm cảm và lo âu ở nam giới hiếm muộn, khoảng thời gian hiếm muộn trên 2 năm đi kèm với nguy cơ cao của triệu chứng lo âu [30] Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu ở bệnh viện Từ Dũ, trầm cảm ở bệnh nhân nữ hiếm muộn liên quan với chứng hiếm muộn do chồng, hiếm muộn do cả hai vợ chồng, chồng nghiện rượu, và
sử dụng thuốc [58]
1 .5 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA NGƯỜI HIẾM MUỘN
1.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Theo ước tính của WHO, tỷ lệ dân số thế giới bị trầm cảm năm 2015 ước tính là 4,4% Trầm cảm phổ biến ở nữ với tỷ lệ 5,1% cao hơn ở nam với tỷ lệ 3,6% Tỷ lệ lưu hành (prevalence) mắc trầm cảm thay đổi theo khu vực, từ 2,6% ở nam giới khu vực Tây Thái Bình Dương đến 5,9% ở nữ khu vực Châu Phi Tỷ lệ lưu hành rối loạn trầm cảm thay đổi theo tuổi, cao ở những người trưởng thành (7,5% ở nữ tuổi từ 55-74 năm, và 5,5% ở nam) [61]
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 31Trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn cũng được nghiên cứu Ở Iran,
tỷ lệ ở các cặp vợ chồng mắc chứng hiếm muộn chiếm tỷ lệ 35,3%, trầm cảm
ở phụ nữ hiếm muộn là 48,7% và ở nam hiếm muộn là 9% [48]
Ở Hungary, tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn được ghi nhận chiếm 44,8% [43] Ở Trung Quốc, tỷ lệ trầm cảm ở nam giới hiếm muộn là 20,8% và vừa mắc cả hai rối loạn trầm cảm và lo âu chiếm tỷ lệ 15,4% [63]
Năm 2009, Drosdzol Agnieszka và cộng sự đã báo cáo kết quả nghiên cứu cắt ngang ước tính tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở những cặp vợ chồng người
Ba Lan mắc chứng hiếm muộn, kết quả ghi nhận tỷ lệ trầm cảm nặng ở phụ
nữ hiếm muộn là 35,4%, lo âu ở nữ hiếm muộn là 15,5% [24]
Kazandi Mert và cộng sự vào 2009 đã nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Thổ Nhĩ Kỳ về tình trạng lo âu và trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn Kết quả
có sự khác biệt về tình trạng lo âu giữa các cặp vợ chồng hiếm muộn với các cặp vợ chồng không hiếm muộn (p<0,0001) Trong khi không có sự khác biệt trầm cảm giữa nam và nữ Lo âu và trầm cảm được phát hiện là độc lập khi được so sánh giữa nam và nữ (p = 0,213) 50]
Maroufizadeh Saman và cộng sự năm 2017 báo cáo nghiên cứu trên bệnh nhân hiếm muộn (nam, nữ) ở Iran ghi nhận tỷ lệ lo âu chiếm 49,6% và trầm cảm chiếm 33%, nữ giới hiếm muộn có triệu chứng lo âu gấp 2,26 lần so với nam giới hiếm muộn [48]
Trong một nghiên cứu của tác giả Maroufizadeh Saman (Iran) vào năm
2017 cho thấy, tỷ lệ trầm cảm là 33,0% (Nữ: 33,9%, Nam: 31,7%) [48], thấp hơn
so với những gì được báo cáo Al-Homaidan (Nữ: 53,8%) [16], Ramezanzadeh et
al (Nữ: 40,8%) [54], và Domar et al (Nữ: 36,7%) [23], nhưng nhất quán với những gì đã được báo cáo bởi Drosdzol và cộng sự (Nữ: 35,4%) [24] Tỷ lệ lo lắng là 49,6% trong nghiên cứu này, thấp hơn so với những gì được báo cáo bởi Ramezanzadeh và cộng sự (Nữ: 86,8%) [54] Sự khác biệt tương đối trong các báo cáo tài liệu về tỷ lệ lo âu và trầm cảm có thể do các công cụ khác nhau hoặc
do các đặc điểm nhân khẩu học khác nhau
Trang 32Một báo cáo nghiên cứu cắt ngang lo âu và trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn năm 2017, Lakatos Eniko và cộng sự ghi nhận trầm cảm chiếm tỷ lệ 44,8% và lo âu chiếm 39,6% ở phụ nữ hiếm muộn [43] Theo Yang Bin và cộng sự báo cáo năm 2017, tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở nam giới Trung Quốc bị hiếm muộn vẫn chưa chắc chắn Tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và sự kết hợp của cả hai triệu chứng tâm lý lần lượt là 20,8%, 7,8% và 15,4% ở 771 nam giới Trung Quốc hiếm muộn [63]
Maroufizadeh Saman và cộng sự năm 2017 báo cáo nghiên cứu nữ giới hiếm muộn có triệu chứng lo âu gấp 2,26 lần so với nam giới hiếm muộn, trong khi tỷ lệ trầm cảm không liên quan với giới tính, những bệnh nhân bị hiếm muộn từ 5 năm trở lên gấp 1,51 lần và 1,3 lần những bệnh nhân khác theo thứ tự về triệu chứng lo âu và trầm cảm [48],[ 49]
Một báo cáo nghiên cứu cắt ngang lo âu và trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn năm 2017, Lakatos Eniko và cộng sự ghi nhận các triệu chứng trầm cảm và lo lắng ở phụ nữ hiếm muộn có liên quan đến tuổi tác, mối quan tâm
xã hội, mối quan tâm tình dục và căng thẳng trong mối quan hệ mẫu tử Đặc điểm lo lắng cũng liên quan đến căng thẳng tài chính Mô hình của chúng tôi
có thể chiếm 58% phương sai của các triệu chứng trầm cảm và 62% phương sai của đặc điểm lo lắng Hiếm muộn thường kết hợp với căng thẳng tâm lý,
có thể vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của rối loạn [43], Phản ứng cảm xúc tiêu cực chủ yếu đối với cả hiếm muộn và điều trị hỗ trợ sinh sản (ART) thường là lo lắng (cảm giác bị đe dọa, căng thẳng, lo lắng) hoặc trầm cảm (cảm giác mất mát, buồn bã, thiếu kiểm soát)
Năm 2009, Drosdzol Agnieszka và cộng sự đã báo cáo các yếu tố nguy
cơ của trầm cảm và lo âu ở người mắc chứng hiếm muộn ở Ba Lan bao gồm: giới nữ, tuổi trên 30, trình độ giáo dục thấp, thất nghiệp, khoảng thời gian hiếm muộn từ 3-6 năm [24]
Theo Yang Bin, sự khác biệt về nhân khẩu học (tuổi tác, học vấn và thu nhập) không có tác động đáng chú ý đến sự phát triển của các triệu chứng tâm
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 33lý Các yếu tố lâm sàng như rối loạn đồng thời (giãn tĩnh mạch thừng tinh, nang mào tinh và rối loạn cương dương) được xác định là yếu tố nguy cơ liên quan đến các triệu chứng trầm cảm (OR = 1,47; KTC95% (1,14-13); p
<0,001) và cả các triệu chứng trầm cảm và lo âu (OR = 1,56; KTC 95% (1,17,= 2,08); p <0,001) Thời gian hiếm muộn kéo dài hơn 2 năm có nguy cơ cao mắc các triệu chứng lo âu (OR = 3,94; KTC 95% (1,20-12); p <0,02) Các tình trạng lâm sàng khác như loại điều trị và chất lượng tinh trùng không phải là yếu tố nguy cơ đáng kể đối với các triệu chứng tâm lý [63]
1.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Võ Minh Tuấn và cộng sự năm 2019 đã báo cáo nghiên cứu trầm cảm và các yếu tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn ở bệnh viện Từ Dũ, ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở nữ hiếm muộn là 12,2% và trầm cảm ở nữ hiếm muộn liên quan với hiếm muộn do yếu tố chồng (OR hiệu chỉnh = 3.09, 95% CI=1,44-6,63), yếu tố hiếm muộn do vợ, chồng (OR hiệu chỉnh=4,83, 95% CI=1,32-17,58) và sử dụng thuốc chống trầm cảm trước đó của vợ (OR hiệu chỉnh = 48,1, 95% CI = 4,8-47,9) [58]
Vào năm 2018, Trần Thơ Nhị đã báo cáo nghiên cứu thực trạng trầm cảm và hành vi tìm kiếm hỗ trợ ở phụ nữ mang thai, sau sinh tại huyện Đông Anh Hà Nội, kết quả tỷ lệ trầm cảm của phụ nữ trong khi mang thai là 5%, trầm cảm sau sinh là 8,2% Tỷ lệ mới mắc trầm cảm sau sinh là 6,5% [6] Mai Thị Huệ và cộng sự năm 2020 báo cáo nghiên cứu các yếu tố liên quan với trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai Việt Nam, ghi nhận phụ nữ mang thai có nguy cơ trầm cảm trước sinh là 24,5% [47]
Trang 34Phương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả nam giới, nữ giới ở các cặp vợ chồng đến khám, điều trị hiếm
muộn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia năm 2022
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Các cặp vợ chồng được chẩn đoán hiếm muộn theo tiêu chuẩn của WHO khi chung sống với nhau và có quan hệ tình dục bình thường, không sử dụng bất cứ một biện pháp tránh hai nào trong khoảng thời gian ít nhất 12 tháng mà vẫn không có con
Trường hợp nữ, nam mắc chúng hiếm muộn thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán hiệm muộn của WHO đến khám vẫn được chọn vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những cặp vợ chồng chưa có con nhưng không thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán hiếm muộn theo WHO
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu từ ngày 15/6/2022 đến tháng 15/12/2022
- Địa điểm: Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước
lượng một tỷ lệ trong quần thể:
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 35- n: Là số đối tượng nghiên cứu
- α: Mức ý nghĩa thống kê (chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, thay vào bảng ta được Z1 – α/2= 1,96)
- d: Sai số mong muốn giữa mẫu và quần thể cho phép, chọn d=0,05
- Với p là tỷ lệ lo âu ở cặp vợ chồng hiếm muộn đã được báo cáo trước
đó trong cộng đồng là 54,2% [12]
Áp dụng công thức ta tính được cỡ mẫu là 382 cặp vợ chồng
- Với p là tỷ lệ trầm cảm ở cặp vợ chồng hiếm muộn đã được báo cáo trước đó trong cộng đồng 12,2% [12]
Áp dụng công thức ta tính được cỡ mẫu là 164 cặp vợ chồng
Như vậy, tỷ lệ lo âu cao hơn nên chúng tôi lựa chọn đưa vào tính cỡ mẫu nhằm đạt được cỡ mẫu bao trùm (n=382)
Kỹ thuật chọn mẫu
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
- Tất cả nam, nữ giới ở các cặp vợ chồng được chẩn đoán hiếm muộn đến khám, điều trị tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia đủ tiêu chuẩn chọn bệnh được phỏng vấn và thu thập theo mẫu phiếu nghiên cứu được thiết kế trước cho đến khi đủ số lượng đối tượng cho nghiên cứu
Trang 362.3.3 Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu
biến
Phương pháp thu thập
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
1 Giới tính Chia hai giới gồm giới nam và giới
nữ
Biến định danh
Phiếu phỏng vấn
Tính tuổi trung bình theo năm dương lịch, độ lệch chuẩn, của nhóm nghiên cứu và của từng giới
nam và nữ
Biến định lượng
Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
6 Tình trạng
kinh tế
chia hai giá trị là đủ sống và tương đối giàu có, được xác định dựa vào đánh giá chủ quan của người
bệnh
Biến định danh,
Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 37Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
10 Tiền sử nội
ngoại khoa Chia hai giá trị là có và không có
Biến định danh
Phiếu phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn
Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng đến khám, điều trị hiếm muộn
Biến định lượng
Đánh giá lo
âu và phân mức độ lo âu dựa vào thang
tính bằng số nam giới hiếm muộn
bị rối loạn lo âu chia cho tổng số
nam giới trong nghiên cứu
Biến định lượng,
Đánh giá lo
âu và phân mức độ lo âu dựa vào thang
được phân thành 4 mức độ gồm lo
âu nhẹ, vừa, nặng và rất nặng
Biến định danh
Mức độ lo âu dựa vào tổng kết điểm các câu trả lời, rồi
Trang 38nhân hệ số 2
Đánh giá trầm cảm và phân mức độ trầm cảm dựa vào thang đo DASS-21
16
Tỷ lệ trầm
cảm ở nam
hiếm muộn
tính bằng số nam giới hiếm muộn
bị rối loạn trầm cảm chia cho tổng số nam giới trong nghiên cứu
Biến định lượng
Đánh giá trầm cảm và phân mức độ trầm cảm dựa vào thang đo DASS-21
2
Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm
* Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở nữ hiếm muộn
Phân tích các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm ở nữ hiếm muộn dựa trên phân tích các yếu tố nhân khẩu học, tiền sử sản khoa của hai nhóm (nhóm nữ hiếm muộncó lo âu, trầm cảm và nhóm nữ hiếm muộn không có lo
âu, trầm cảm)
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 39- Liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học (bao gồm yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, điều kiện sống)với lo âu, trầm cảm ở nữ hiếm muộn
- Liên quan giữa tiền sử hiếm muộn (khoảng thời gian hiếm muộn, loại hiếm muộn) với lo âu, trầm cảm ở nữ hiếm muộn
* Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở nam hiếm muộn
Phân tích các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở nam hiếm muộn dựa trên phân tích các yếu tố dịch tễ, tiền sử của hai nhóm (nhóm nam hiếm muộn không có lo âu, trầm cảm và nhóm nam hiếm muộn có lo âu, trầm cảm)
- Liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học (bao gồm yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, điều kiện sống) với lo âu, trầm cảm ở nam hiếm muộn
- Liên quan giữa tiền sử hiếm muộn (khoảng thời gian hiếm muộn, loại hiếm muộn) với lo âu, trầm cảm ở nam hiếm muộn
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.4.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
Đối tượng tập huấn (điều tra viên): 04 người điều dưỡng, nữ hộ sinh làm việc tại trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia Nội dung tập huấn: mục tiêu nghiên cứu, quy trình triển khai nghiên cứu, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc và làm việc
Nghiên cứu viên và điều tra viên giới thiệu về mục đích của nghiên cứu và cách trả lời phiếu điều tra Cặp vợ chồng đồng ý tham gia nghiên cứu kí vào phiếu đồng ý và được phát phiếu điều tra để tự điền
- Chọn toàn bộ các cặp vợ chồng hoặc nữ hay nam được chẩn đoán hiếm muộn thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh, chủ nhiệm đề tài phối hợp với điều tra viên (nữ
hộ sinh/ điều dưỡng) ở Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia thu thập mẫu nghiên
Trang 40cứu Điều tra viên giới thiệu mục đích nghiên cứu Nếu đối tượng hiếm muộn đồng ý tham gia nghiên cứu thì điều tra viên tiến hành thu thập mẫu
- Sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời xong, điều tra viên kiểm tra xem các câu hỏi đã được trả lời đầy đủ chưa, nếu còn thiếu hay sai sót cần hướng dẫn đối tượng nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện phiếu nghiên cứu
- Đánh giá lo âu, trầm cảm bằng thang DASS-21, trong nghiên cứu này chỉ sử dụng phần đánh giá lo âu và trầm cảm, không đề cập đến phần Stress Mỗi rối loạn lo âu hoặc trầm cảm có 7 câu hỏi Mỗi câu hỏi có 4 phương án trả lời theo thang Likert (từ 0: không đúng với tôi chút nào cả; 1: đúng với tôi phần nào hoặc thỉnh thoảng mới đúng; 2: đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng; 3: hoàn toàn đúng với tôi hoặc hầu hết thời gian là đúng) Người trả lời đọc kỹ và lựa chọn một trong 4 phương án trả lời phù hợp với mình nhất tại thời điểm hiện tại như sau:
+ Đánh giá lo âu:
Bảng 2.2 Thang đo đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS21
A 2 Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở gấp, khó thở dù
chẳng làm việc gì nặng) 0 1 2 3
A 3 Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay ) 0 1 2 3
A 4 Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi
hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười 0 1 2 3
A 5 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 0 1 2 3
Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp)
0 1 2 3
Thư viện ĐH Thăng Long