TỔNG QUAN
KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIÊM GAN B
Viêm gan vi rút là thuật ngữ chỉ các bệnh viêm gan do các loại vi rút như A, B, C, D, E, G gây ra Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), khoảng
Vào năm 2019, trên toàn thế giới có khoảng 71 triệu người nhiễm vi rút viêm gan C và hơn 296 triệu người mắc vi rút viêm gan B mạn tính Mỗi năm, viêm gan vi rút gây ra khoảng 1.000.000 trường hợp tử vong, chiếm khoảng 2,7% tổng số ca tử vong toàn cầu.
Bệnh viêm gan B (VGB) có diễn biến cấp tính ở khoảng 85 - 90% người lớn, trong khi trẻ nhỏ lây nhiễm trực tiếp từ mẹ có nguy cơ mạn tính lên đến 90% Người bệnh thường bắt đầu với triệu chứng như sốt nhẹ, chán ăn, khó tiêu, đầy bụng và rối loạn tiêu hóa Sau 7 - 10 ngày, vàng da xuất hiện và sốt sẽ giảm Các triệu chứng lâm sàng thường thuyên giảm sau 4 - 6 tuần Trong trường hợp thể tối cấp, bệnh diễn biến nhanh chóng có thể dẫn đến hôn mê và tử vong ở hơn 95% bệnh nhân Thể mạn tính chiếm khoảng 10%, trong đó có 40% có nguy cơ phát triển xơ gan và ung thư gan nguyên phát.
Chẩn đoán xác định: Xét nghiệm có rối loạn chức năng gan (AST, ALT tăng, bilirubin tăng, prothrombin giảm) Huyết thanh chẩn đoán xác định viêm gan vi rút
Bệnh nhân có thể có các chỉ số sau: HBsAg, anti-HBs (trong giai đoạn cấp có IgM anti-HBs), HBeAg, anti-HBe (trong giai đoạn cấp có IgM anti-HBe), và anti-HBc (trong giai đoạn cấp có IgM anti-HBc) [60].
1.1.1.3 Định nghĩa người tiếp xúc gần, người nhà người bệnh
Người tiếp xúc gần là những cá nhân có sự tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, bao gồm việc chăm sóc, làm việc chung hoặc sinh hoạt chung như ăn uống và ngủ trong cùng một không gian với người đang mắc bệnh.
Người nhà người bệnh là những thành viên trong gia đình có mối quan hệ thân thiết với bệnh nhân, bao gồm cả những người có quan hệ huyết thống hoặc gắn bó chặt chẽ với họ.
1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm gan B
1.1.2.1 Nguồn truyền nhiễm vi rút viêm gan B
- Nguồn lây: Người bệnh, người mang vi rút không triệu chứng
- Thời gian ủ bệnh: Từ 1- 4 tháng, có thể ngắn khoảng 2 tuần và hiếm khi k o dài trên 6 tháng
Tất cả những người có HBsAg (+) đều có khả năng lây truyền bệnh viêm gan B, đặc biệt là trong giai đoạn vi rút đang hoạt động mạnh mẽ với nồng độ vi rút cao trong máu Khả năng lây truyền này tồn tại cả ở giai đoạn cấp tính lẫn mạn tính.
1.1.2.2 Đường lây truyền vi rút viêm gan B Đường lây truyền chính của vi rút viêm gan B là qua đường máu, đường sinh dục và từ mẹ sang con Nồng độ vi rút tập trung cao ở trong máu, huyết thanh và các vùng bị tổn thương; mức độ trung bình ở tinh trùng, dịch âm đạo và nước bọt; mức độ thấp hoặc không tìm thấy ở trong các dịch khác của cơ thể [7], [37] Đường lây truyền của vi rút viêm gan B cơ bản giống với đường lây truyền của vi rút HIV nhƣng khả năng nhiễm bệnh cao hơn từ 50 đến 100 lần Vi rút viêm gan B có thể tồn tại ngoài cơ thể người ít nhất 7 ngày Trong thời gian này, vi rút viêm gan B có thể vào cơ thể và gây nhiễm trùng [7], [32]
1.1.2.3 Tác nhân gây bệnh viêm gan B
Vi rút viêm gan B, thuộc họ Hepadnaviridae, có cấu trúc ADN chuỗi kép, hình cầu nhỏ với đường kính 40 nm Vi rút này được bao bọc bởi 3 lớp màng dày khoảng 7 nm, với vỏ capxit hình hộp có đường kính khoảng 27 - 28 nm, chứa lõi chứa bộ gen của vi rút.
Vi rút viêm gan B (VGB) có ba loại kháng nguyên chính: HBsAg, HBeAg và HBcAg, tương ứng với ba loại kháng thể: Anti-HBs, Anti-HBe và Anti-HBc Việc xét nghiệm để phát hiện các kháng nguyên và kháng thể này đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh, xác định thể bệnh cũng như theo dõi diễn biến của bệnh.
1.1.2.4 Tính cảm nhiễm và miễn dịch
- Mọi người đều có tính cảm nhiễm với HBV
Sau khi hồi phục từ viêm gan cấp tính, người bệnh sẽ có kháng thể bảo vệ Tuy nhiên, cần theo dõi nồng độ kháng thể để đánh giá thời gian bảo vệ này.
1.1.3 Tiêu chuẩn c ẩn đo n nhiễm vi rút viêm gan B
Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm viêm gan vi rút B trong nghiên cứu đƣợc xây dựng dựa trên hướng dẫn trong quyết định số 4283/QĐ-BYT ngày 08/08/2016 của
Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu “Định nghĩa trường hợp bệnh truyền nhiễm”
- Cấp tính: xác định đƣợc kháng thể IgM kháng kháng nguyên lõi của vi rút viêm gan B (anti-HBc IgM dương tính) Có thể HBsAg dương tính
Mạn tính viêm gan B được xác định khi có kháng nguyên bề mặt HBsAg và kháng thể tổng hợp toàn phần anti-HBc dương tính đồng thời với anti-HBc IgM âm tính, hoặc khi HBsAg dương tính kéo dài hơn 6 tháng.
1.1.4 Các biện pháp xét nghiệm phát hiện vi rút viêm gan B
Theo hướng dẫn xét nghiệm vi rút viêm gan B của BYT theo quyết định số 1868/QQD-BYT ban hành ngày 24/4/2020 [5], có các biện pháp xét nghiệm sau:
Bảng 1.1 Các xét nghiệm vi rút viêm gan B Xét ng iệm Mục đíc xét ng iệm Kỹ t uật xét ng iệm
X t nghiệm định tính để chẩn đoán nhiễm HBV
X t nghiệm định tính để chẩn đoán nhiễm
HBV - Miễn dịch đánh dấu anti-HBs Xét nghiệm định tính xác định sự xuất hiện kháng thể trung hoà anti-HBs
X t nghiệm định lƣợng xác định mức kháng thể trung hoà anti-HBs, đánh giá đƣợc mức miễn dịch bảo vệ
- Miễn dịch đánh dấu anti-HBc total Xác định phơi nhiễm HBV - Test nhanh (RDTs)
- Miễn dịch đánh dấu anti-HBc IgG Xác định phơi nhiễm HBV - Miễn dịch đánh dấu anti-HBc IgM Xác định nhiễm HBV cấp - Miễn dịch đánh dấu
- Xác định khả năng lây truyền vi rút ở người nhiễm HBV
- Xác định giai đoạn bệnh trong quản lý lâm sàng
- Miễn dịch đánh dấu anti-HBe
- Xác định sự chuyển đảo huyết thanh HBeAg
- Xác định giai đoạn bệnh trong quản lý lâm sàng
- Miễn dịch đánh dấu Định tính HBV
DNA Khẳng định có HBV lưu hành trong máu - Nucleic axit testing
Tải lượng HBV Xác định mật độ HBV lưu hành trong máu - Nucleic axit testing
Kiểu gen HBV Xác định kiểu gien HBV, đột biến kháng thuốc
- Giải trình tự, các kỹ thuật sinh học phân tử khác
1.1.5 Hàn vi nguy cơ lây n iễm nhiễm vi rút viêm gan B
Hành vi nguy cơ lây nhiễm vi rút viêm gan B bao gồm quan hệ tình dục không an toàn, sử dụng chung các dụng cụ có thể truyền vi rút qua đường máu như bơm kim tiêm, dụng cụ phẫu thuật, dao cạo râu, bàn chải đánh răng, và khuyên tai Ngoài ra, việc không tiêm vắc xin phòng ngừa cũng làm tăng khả năng lây nhiễm vi rút này.
1.1.6 Phòng chống bệnh viêm gan B Đường lây truyền chủ yếu của HBV là đường máu và các chế phẩm từ máu, từ mẹ sang con, qua đường tình dục Vì vậy phòng ngừa nhiễm HBV gồm các biện pháp chính nhƣ sau:
1.1.6.1 Sàng lọc và phòng ngừa nhiễm HBV trong truyền m u
Mục ti u an toàn truyền máu:
Để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, việc đảm bảo an toàn tối đa trong truyền máu và các chế phẩm từ máu là rất quan trọng, nhằm phòng ngừa lây nhiễm virus HBV.
- Bổ sung kỹ thuật sinh học phân tử vào sàng lọc HBV nhằm nâng cao hiệu quả chất lƣợng an toàn truyền máu phòng lây nhiễm HBV
TÌNH HÌNH BỆNH VIÊM GAN B TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Tình hình bệnh viêm gan B trên Thế giới
Viêm gan vi rút B mạn tính là một bệnh truyền nhiễm phổ biến toàn cầu, với HBV là nguyên nhân chính gây bệnh gan mạn tính ở người Tình hình nhiễm vi rút VGB có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng địa lý, và hiện đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới Tỷ lệ nhiễm bệnh ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và vệ sinh môi trường Hiện nay, ước tính có khoảng 296 triệu người trên thế giới đang sống chung với vi rút VGB.
Khoảng 25% người nhiễm vi rút viêm gan B (VGB) có thể phát triển thành viêm gan mạn tính, xơ gan hoặc ung thư gan nguyên phát Tỷ lệ HBsAg ở những người có yếu tố nguy cơ cao như truyền máu, tiêm chích và quan hệ tình dục không an toàn cao gấp 10 lần so với dân cư nói chung.
Theo CDC Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 300.000 người nhiễm vi rút VGB, chủ yếu là người trẻ, trong đó 1/4 có triệu chứng vàng da và vàng mắt Khoảng 8-10% trong số này sẽ khỏi bệnh nhưng trở thành người mang HBsAg mạn tính Tỷ lệ nhiễm vi rút VGB có thể thay đổi tùy thuộc vào tầng lớp xã hội và yếu tố nguy cơ Tại Trung Quốc, Senegal và Thái Lan, tỷ lệ nhiễm vi rút VGB khá cao.
Hình 1.2 Bản đồ nhiễm HBV trên Thế giới năm 2006
(Nguồn : Theo trung tâm kiểm soát và ph ng ngừa dịch bệnh ở oa [1]
Sự phân bố nhiễm HBV được xác định bằng các mức độ dịch lưu hành
Trong mỗi khu vực địa lý, tỷ lệ nhiễm vi rút VGB và cách thức lây truyền có sự khác biệt rõ rệt so với các vùng khác
Dịch tễ học của vi rút VGB đƣợc phân chia theo 6 khu vực địa lý theo
TCYTTG: Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Tây Thái Bình
Vùng dịch ưu hành cao (≥ 8%) là khu vực có tỷ lệ người mang HBsAg từ 8% trở lên và hơn 60% người đã từng phơi nhiễm với virus viêm gan B (VGB) Lây truyền virus VGB chủ yếu xảy ra trong thời kỳ sơ sinh và trẻ nhỏ, dẫn đến nguy cơ cao trở thành người nhiễm virus.
VGB mạn tính ảnh hưởng đến khoảng 45% dân số toàn cầu, chủ yếu tập trung ở các khu vực như Châu Á, Châu Phi, một phần Trung Đông và lưu vực sông Amazon.
* Vùng dịch ưu hành trung bình (2-7%): Là vùng có tỷ lệ người mang
Tỷ lệ HBsAg dao động từ 2-7%, trong khi tỷ lệ người từng phơi nhiễm với virus viêm gan B (VGB) đạt từ 20-60% Các khu vực chịu ảnh hưởng bao gồm một phần Nam Âu, Đông Âu, Nga, cùng với một phần Nam và Trung Mỹ Sự lây truyền chủ yếu xảy ra tại những khu vực này, ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, nhưng phần lớn trường hợp nhiễm HBV mạn tính lại xảy ra ở trẻ nhỏ.
Vùng dịch lưu hành thấp (< 2%) chỉ có khoảng 12% dân số thế giới sinh sống, chủ yếu ở các quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ, Châu Úc và New Zealand Tại đây, tỷ lệ người mang HBsAg dưới 2% và tỷ lệ người từng phơi nhiễm với virus viêm gan B (VGB) dưới 20% Lây truyền chủ yếu ở khu vực này là qua quan hệ tình dục không an toàn, sử dụng kim tiêm bị nhiễm máu chứa virus VGB, và ở những người nghiện chích ma túy.
Hình 1.3 Các khu vực dịch tễ vi rút viêm gan B trên Thế giới [64]
1.2.2 Tình hình bệnh viêm gan B tại Việt Nam
Việt Nam là nước nằm trong khu vực có tỷ lệ nhiễm HBV cao, ước tính có
Châu Mỹ, Đông và Nam Á, cũng như khu vực Đông Địa Trung Hải ở Châu Âu, có tỷ lệ nhiễm vi rút VGB ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), Việt Nam được xếp vào vùng có tỷ lệ lưu hành cao của vi rút VGB, với nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm trung bình khoảng 15%, tương đương với khoảng 10-12 triệu người mang mầm bệnh Hầu hết các trường hợp lây nhiễm vi rút VGB tại Việt Nam xảy ra qua đường mẹ truyền sang con Với tỷ lệ phát triển dân số hiện nay khoảng 1,8%, hàng năm có một số lượng đáng kể trẻ em có nguy cơ nhiễm vi rút này.
Mỗi năm, có khoảng 2 triệu phụ nữ mang thai, trong đó khoảng 360.000 người bị nhiễm vi rút viêm gan B (VGB) với HBsAg (+) Đặc biệt, khoảng 1/3 trong số này cũng mang HBeAg (+), làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho con lên đến 85% Điều này dẫn đến việc khoảng 100.000 trẻ em hàng năm bị nhiễm vi rút VGB từ mẹ.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người mang HBsAg (+) trong dân cư ở một số tỉnh, thành phố tại Việt Nam khá cao, với tỷ lệ cụ thể như sau: Thành phố Hồ Chí Minh 12,6%, Quảng Bình 8,7%, Hải Phòng 18,0%, Lào Cai 10-22,8%, Hà Nội 12,5%, Huế 16,8-28,0%, và Thanh Hóa 10,5-20,5%.
Nghiên cứu về tình hình nhiễm virus viêm gan B (VGB) tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm ở các nhóm nguy cơ cao như sau: người hiến máu có tỷ lệ nhiễm từ 2,1% đến 18,1%, người nghiện chích ma túy từ 10,7% đến 38,0%, phụ nữ mại dâm là 9,6%, và bệnh nhân viêm gan, xơ gan có tỷ lệ nhiễm cao nhất, từ 49,7% đến 87,6%.
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI TÌNH TRẠNG NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B
1.3.1.Một số yếu tố đặc điểm nhân khẩu học
Các yếu tố môi trường và đặc điểm cá nhân như lứa tuổi, giới tính, dân tộc, cùng với các điều kiện kinh tế xã hội như đói nghèo và trình độ học vấn, đều ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm virus VGB trong cộng đồng.
Mối liên quan giữa nhiễm vi rút viêm gan B với tuổi
Nghiên cứu của Baha và cộng sự năm 2011 cho thấy người trên 40 tuổi có nguy cơ nhiễm vi rút VGB cao gấp 2,5 lần so với người dưới 40 tuổi Tại Việt Nam, một nghiên cứu năm 2017 tại tỉnh Quảng Bình chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm vi rút VGB cao nhất nằm trong nhóm tuổi lao động 20-50, chiếm 65,42%, với sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p