ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và thời gian nghiên cứu
Những người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đến khám ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn
Khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa bệnh viện Thanh Nhàn
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08/2022 đến tháng 01/2023
Tất cả bệnh nhân ngoại trú từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn của ADA 2021 cần đáp ứng ít nhất một trong bốn tiêu chí chẩn đoán.
• Đường máu huyết thanh lúc đói (nhịn ăn > 8 -14 giờ) ≥ 7 mmol/l (126mg/dL)
• Đường máu huyết tương sau 2 giờ sau khi uống 75g đường Glucose khan ≥ 11,1 mmol/l (Nghiệm pháp tăng đường huyết)
• Đường máu huyết thanh bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l có kèm theo các triệu chứng của tăng đường huyết (khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút)
• HbA1c (định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) ≥ 6,5%
- Bệnh nhân được chỉ định dùng insulin dạng bút tiêm hoặc bơm tiêm
- Bệnh nhân có sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp đối thoại trực tiếp
- Bệnh nhân sử dụng máy bơm insulin tự động
- Bệnh nhân ĐTĐ không có khả năng tự tiêm, tự chăm sóc
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Cỡ mẫu nghiên cứu: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ:
Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu
Z 2 1-α/2: Hệ số tin cậy với mức xác suất 95% →Z= 1,96
∆: Khoảng sai lệch mong muốn
P: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về tiêm insulin Theo nghiên cứu của Vũ Thuỳ Linh (2017), tỉ lệ này là p = 30% [11] Chúng tôi chọn ∆=0,05
Cỡ mẫu ước tính là n = 322 bệnh nhân
Nhưng thực tế chúng em thu được 336 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2022 đến hết tháng 01/2023, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn toàn bộ bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ Nghiên cứu được thực hiện theo các bước cụ thể nhằm đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của dữ liệu thu thập.
Bước 1: Sàng lọc bệnh nhân: chọn lọc các bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ (phụ lục 1)
Bước 2: Tiếp cận bệnh nhân: tìm kiếm sự đồng ý tham gia nghiên cứu
Bước 3: Thu thập thông tin chung, thông tin về sức khỏe của người bệnh Bước 4: Khảo sát kiến thức người bệnh bằng bộ câu hỏi (phụ lục 2)
Bước 5: Đánh giá thực hành tiêm insulin của bệnh nhân (phụ lục 2 )
Bước 6: Phân tích và xử lý số liệu
Thư viện ĐH Thăng Long
2.2.4.1 Quy trình khảo sát các đặc điểm bệnh nhân tiêm insulin
Thu thập thông tin về đặc điểm của bệnh nhân là một bước quan trọng trong quá trình khám và điều trị Thông tin này được lấy từ bệnh án và qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, bao gồm các dữ liệu về nhân khẩu học và tình trạng sức khỏe của họ.
- Thông tin cơ bản của bệnh nhân: mã hồ sơ, mã bệnh nhân, tên, tuổi, giới tính, trình độ, số điện thoại, địa chỉ liên hệ
Thông tin sức khỏe của bệnh nhân bao gồm loại đái tháo đường (ĐTĐ) mà họ mắc phải, tiền sử gia đình liên quan đến bệnh, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, thời gian điều trị bằng insulin, loại insulin đang sử dụng và các tác dụng không mong muốn khi tiêm insulin.
- Thông tin về việc cập nhập kiến thức của bệnh nhân: người cung cấp kiến thức, thời gian cung cấp
2.2.4.2 Quy trình khảo sát kiến thức về tiêm insulin
Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức về việc sử dụng insulin, bao gồm kiến thức về bơm và bút tiêm insulin, được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi ITQ (Injection Technique Questionnaire) đã được phê duyệt tại Hội thảo khuyến nghị chuyên gia (FITTER) Bộ câu hỏi này đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình Việt Nam theo ý kiến của các chuyên gia Để đánh giá mức độ kiến thức, điểm cắt được xác định với mức trả lời đạt là ≥ 70% và chưa đạt là 20 lần Liên tục
Bảo quản insulin chưa sử dụng ở đâu? Đúng = bảo ngăn mát tủ lạnh nhiệt độ 2- 8 o C Danh mục
Bảo quản insulin đã sử dụng ở đâu? Đúng = bảo quản ở nhiệt độ phòng <
Insulin đã sử dụng dùng bao lâu kể từ ngày mở lắp? Đúng = dùng trong 1 tháng Sai = dùng đến khi hết thuốc hoặc không biết
C Kiến thức về sử dụng dụng cụ tiêm Ông/bà có biết chiều dài của kim tiêm đang sử dụng? Đúng = biết chiều dài của kim đang sử dụng
Danh mục Ông/bà có sử dụng lại kim bút tiêm? Đúng= không sử dụng lại
Sai= sử dụng lại Nhị phân
Số lần ông/bà sử dụng lại 1 chiếc kim của bút?
Phân theo tần suất sử dụng lại
Danh mục Ông/bà có sử dụng lại kim bơm tiêm? Đúng= không sử dụng lại Sai= sử dụng lại Nhị phân
Thư viện ĐH Thăng Long
Biến số Định nghĩa Loại biến
Số lần ông/bà sử dụng lại 1 chiếc bơm tiêm?
Phân theo tần suất sử dụng lại Danh mục
D Kiến thức về vị trí tiêm
Vị trí tiêm insulin có thể được thực hiện ở bụng, mông, đùi và cánh tay, với yêu cầu người tiêm phải biết ít nhất 3 trong 4 vị trí này Mức độ thường xuyên tiêm vào một vị trí cần được đánh dấu từ 1 đến 4, phản ánh tần suất sử dụng Ngoài ra, việc luân chuyển vị trí tiêm là cần thiết; nếu có, thì được coi là đúng, ngược lại sẽ là sai.
Nhị phân Ông/bà mô tả về cách luân chuyển vị trí các mũi tiêm?
Ông/bà có bao giờ kiểm tra vị trí tiêm của mình trước khi tiêm không? Nếu có, hãy chọn câu trả lời "Đúng".
Không=sai Nhị phân Ông/bà có bao giờ phát hiện được các cục hoặc khối ở lớp mỡ dưới da không? Đúng= có hoặc không thấy
Sai = không biết hoặc không quan tâm
Nhị phân Ông/bà có bao giờ tiêm vào vùng xuất huyết hoặc các cục hoặc khối dưới da không? Đúng = không bao giờ tiêm
Sai = đôi khi hoặc thường xuyên tiêm
Những vấn đề liên quan Đau khi tiêm Cảm nhận đau khi tiêm của người bệnh Nhị phân
Tần suất và mức độ liên tục của đau khi tiêm có thể khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra đau Người bệnh cần nhận biết rõ nguyên nhân để có thể quản lý và giảm thiểu cảm giác đau hiệu quả hơn.
Biến số Định nghĩa Loại biến đến tiêm insulin
Chảy máu nơi tiêm Các xuất huyết dưới da xuất hiện sau khi NB tiêm
Tần suất chảy máu Chia theo mức độ thường gặp: luôn luôn, thường, đôi khi, hầu như không Danh mục Ông/bà có thấy thuốc chảy ra từ chỗ tiêm sau khi rút kim không?
Thuốc chảy ra từ vị trí tiêm
Tần suất ông/bà gặp thuốc chảy ra từ chỗ tiêm sau khi rút kim?
Chia theo mức độ thường gặp: luôn luôn, thường, đôi khi, hầu như không Danh mục
Có bị hạ đường máu trong 6 tháng gần đây không
Hạ ĐM khi glucose giảm dưới
Bao nhiêu lần phải nhờ sự hỗ trợ của người khác
Số lần phải nhờ người khác giúp đỡ để xử lý hạ ĐM Danh mục
F Thực hành bằng bơm tiêm
Rửa tay trước tiêm Đúng: có mô tả rửa tay bằng xa phòng hoặc chất sát trùng trước tiêm Nhị phân Trộn thuốc và kiểm tra (thuốc đục) Đúng: mô tả được việc lắc trộn insulin dạng đục trước khi lấy thuốc Nhị phân Sát trùng lắp lọ thuốc Đúng: có mô tả việc làm sạch nút cao su bằng bông tẩm cồn Nhị phân
Lấy không khí vào bơm tiêm bằng lượng thuốc Đúng: mô tả được việc lấy không khí tương đương lượng insulin cần tiêm
Nhị phân Đâm kim và đẩy không khí vào trong lọ thuốc Đúng: bơm đẩy hết không khí vào trong lọ thuốc Nhị phân
Thư viện ĐH Thăng Long
Biến số Định nghĩa Loại biến
Dốc ngược lọ insulin và lấy thuốc theo đúng liều chỉ định * Đúng: người bệnh có thể rút lượng thuốc đúng theo yêu cầu (kiểm tra trực tiếp) Nhị phân
Sát trùng vị trí tiêm Đúng: có mô ta việc sát trùng vị trí tiêm Nhị phân
Véo da vị trí tiêm bằng 2- 3 ngón tay Đúng: dùng 2 hoặc 3 ngón tay véo và nhấc nhẹ da làm tăng độ dày lớp mỡ dưới da
Nhị phân Đâm kim qua da và đẩy hết thuốc trong bơm tiêm Đúng: đâm qua da 1góc 45 o (kim > 8 mm) ở mọi vị trí riêng vùng bụng ở
NB có BMI >25 sẽ tiêm vuông góc
Rút kim và thả véo da Đúng: buông véo da khi đã rút kim khỏi da Nhị phân
Bỏ bơm tiêm vào hộp riêng Đúng: bơm phải bỏ vào hộp riêng không được vất chung rác sinh hoạt Nhị phân Quan sát lấy thuốc Đúng = lấy đúng lượng thuốc theo yêu cầu Sai = không đúng
Quan sát véo da khi tiêm Đúng = véo da đúng + thời gian véo đúng
Quan sát vị trí tiêm Đánh giá vị trí tiêm có các biến chứng liên quan Danh mục
Thực hành bằng bút tiêm
Rửa tay trước tiêm Đúng: có mô tả rửa tay bằng xa phòng hoặc chất sát trùng trước tiêm Nhị phân Trộn thuốc và kiểm tra (thuốc đục) Đúng: mô tả được việc lắc trộn insulin dạng đục trước khi lấy thuốc Nhị phân
Vệ sinh đầu bút tiêm trước lắp kim Đúng: có mô tả việc làm sạch nút cao su bằng bông tẩm cồn Nhị phân
Lắp kim vào bút Đúng: đưa kim thẳng Nhị phân
Biến số Định nghĩa Loại biến
Trước khi tiêm, cần thực hiện kiểm tra thuốc bằng cách test 1 đơn vị insulin để xác định có thuốc trên đầu kim hay không Đồng thời, việc chỉnh liều thuốc phải được thực hiện đúng theo y lệnh, đảm bảo liều lượng chính xác theo yêu cầu.
Sát trùng vị trí tiêm Đúng: có mô ta việc sát trùng vị trí tiêm Nhị phân
Véo da vị trí tiêm bằng 2- 3 ngón tay Đúng: dùng 2 hoặc 3 ngón tay véo và nhấc nhẹ da làm tăng độ dày lớp mỡ dưới da
Nhị phân Đâm kim qua da Đúng: đâm qua da 1góc 45 o (kim > 8 mm) ở mọi vị trí riêng vùng bụng ở
NB có BMI >25 sẽ tiêm vuông góc
Bơm thuốc và lưu kim 5- 10 giây Đúng: lưu kim 5-10s sau khi đẩy pittông quay về 0 Nhị phân
Rút kim và thả véo da Đúng: buông véo da khi đã rút kim khỏi da Nhị phân
Tháo bỏ và xử lý kim đã dùng Đúng: bơm phải bỏ vào hộp riêng không được vất chung rác sinh hoạt Nhị phân
Quan sát lấy thuốc Đúng = lấy đúng lượng thuốc theo yêu cầu Sai = không đúng
Quan sát véo da khi tiêm Đúng = véo da đúng + thời gian véo đúng
Quan sát vị trí tiêm Đánh giá vị trí tiêm có các biến chứng liên quan Danh mục
Thư viện ĐH Thăng Long
Các tiêu chí đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
2.4.1 Đánh giá kiến thức sử dụng insulin
Bệnh nhân được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi gồm 84 câu Đáp án của bộ câu hỏi được trình bày trong phụ lục Với những câu hỏi có nhiều phương án trả lời, bệnh nhân cần trả lời từ 2 phương án trở lên mới được tính là đúng
Bảng 2.2: Định nghĩa các mức độ về kiến thức của bệnh nhân Đặc điểm Định nghĩa
Kiến thức chưa đạt Trả lời đúng < 70% câu hỏi
Kiến thức đạt Trả lời đúng ≥ 70 % câu hỏi
2.4.2 Đánh giá thực hành sử dụng bút tiêm insulin và bơm tiêm insulin
Bảng 2.3: Phân loại các mức độ kỹ thuật của bệnh nhân
Kỹ thuật chưa đạt Thực hiện đúng < 70% thao tác
Kỹ thuật đạt Thực hiện đúng > 70% thao tác
2.4.2 Đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI
Theo khuyễn cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO dành riêng cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương [51]
Phân tích số liệu
- Tất cả số liệu thu thập về được kiểm tra thông tin, làm sạch thông tin, những thông tin còn thiếu thu thập lại cho đầy đủ
- Toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm SPSS 20,0
- Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng cách xem xét lại toàn bộ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
- Các số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
- Phần mô tả: thể hiện tần số của các biến số trong nghiên cứu các biến liên tục được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn nếu có phân phối chuẩn, trung vị và khoảng tứ phân vị nếu có phân phối không chuẩn Các biến không liên tục được mô tả theo tỷ lệ phần trăm.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được thông qua đề cương tại Hội đồng khoa học Trường đại học Thăng Long
- Đây là nghiên cứu mô tả hoàn toàn không có hoạt động can thiệp vào đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng tham gia nghiên cứu được điều tra viên giải thích cụ thể về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Những thông tin mà đối tượng cung cấp đều được đảm bảo giữ kín chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ nhằm giúp đảm bảo sức khỏe cho bệnh nhân chứ không có mục đích khác.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Các hạn chế và sai số có thể gặp trong nghiên cứu:
+ Sai số lựa chọn, chọn mẫu chủ đích không phản ánh được đặc điểm đại diện của quần thể
+ Sai số thông tin: để khắc phục, thông tin số liệu đều phải được kiểm tra trước và sau khi nhập vào máy
+ Bộ công cụ tự xây dựng chưa được chuẩn hóa: độ tin cậy chưa cao
Thư viện ĐH Thăng Long
Sơ đồ nghiên cứu
Bước 2: Thu thập thông tin về đặc điểm của bệnh nhân thông qua bệnh án và qua phỏng vấn trực tiếp
Bước 3: Phỏng vấn kiến thức người bệnh bằng bộ câu hỏi ITQ có chỉnh sửa
Bước 4: Sử dụng bảng kiểm đánh giá thực hành sử dụng bơm tiêm và bút tiêm insulin kèm theo mô tả kỹ thuật của từng bước
Bước 5: Tổng hợp kết quả và phân tích số liệu Bước 1: Lựa chọn các BN thỏa mạn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của nhóm người bệnh nghiên cứu
Nghiên cứu 336 bệnh nhân đái tháo đường đang kiểm soát đường máu bằng tiêm insulin tại khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2023 cho thấy những đặc điểm chung quan trọng.
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ người bệnh theo giới (n36)
Trong nghiên cứu của chúng tôi nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 60,7%
Thư viện ĐH Thăng Long
Bảng 3.1: Nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu (n36)
Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của người bệnh là 66,27 ± 11,03, với độ tuổi thấp nhất là 26 và cao nhất là 90 Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 71,1%, trong khi nhóm tuổi từ 40 đến 60 chiếm 27,1%.
3.1.2 Đặc điểm trình độ học vấn
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n36)
Tiểu học, dưới tiểu học 19 5,7
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn dưới phổ thông trung học và phổ thông trung học, chiếm tỷ lệ lần lượt là 42,9% và 35,1% Trong khi đó, tỷ lệ người có trình độ học vấn trên phổ thông trung học là 22,0%.
Thư viện ĐH Thăng Long
Biểu đồ 3.2: Phân bố theo nơi ở của nhóm NB nghiên cứu (n36)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, người bệnh chủ yếu sinh sống ở thành thị với tỷ lệ là 93,5%, nông thôn là 6,5%
3.1.4 Biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người bệnh có biến chứng và loại biến chứng (n36)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 336 bệnh nhân tiểu đường đã được khảo sát, trong đó 155 bệnh nhân (46,0%) mắc biến chứng mạn tính Cụ thể, có 28 bệnh nhân (18,1%) bị biến chứng mạch máu lớn, 81 bệnh nhân (52,3%) bị biến chứng mạch máu nhỏ, và 46 bệnh nhân (29,6%) gặp cả hai loại biến chứng này.
Thư viện ĐH Thăng Long
3.1.5 Chỉ số HbA1C ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Chỉ số HbA1C của đối tượng nghiên cứu (n36)
Chỉ số HbA1C n Tỉ lệ %
HbA1c trung bình của các bệnh nhân là 9,72 ± 2,09 Hầu hết đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có chỉ số HbA1C ≥ 7% với tỷ lệ 94,6%
3.1.6 Chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.4 Chỉ số BMI của đối tượng nghiên cứu (n36)
Chỉ số BMI n Tỉ lệ %
Trong nghiên cứu của chúng tôi có chỉ số BMI trung bình là 22,77± 3,36 trong đó đối tượng nghiên cứu có BMI từ 18,5 - 23 chiếm nhiều nhất với tỷ lệ là 48,5%
Bảng 3.5 Thời gian mắc bệnh đái tháo đường (n36)
Thời gian mắc bệnh Số người bệnh (n) Tỉ lệ %
Thời gian mắc bệnh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 10,72 ± 7,63, thời gian mắc bệnh ≥ 10 năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với tỷ lệ 52,7%
Thư viện ĐH Thăng Long
3.1.8 Thời gian đã tiêm insulin
Biểu đồ 3.4 Phân nhóm theo thời gian đã tiêm insulin (n36)
Thời gian tiêm insulin trung bình là 6,40 ± 5,98 năm, với khoảng thời gian tối thiểu là 0,08 năm và tối đa là 32 năm Trong nghiên cứu, phần lớn đối tượng có thời gian tiêm insulin từ 1 đến dưới 5 năm (46,7%) và trên 10 năm (30,7%).
Bảng 3.6: Dụng cụ tiêm insulin (n = 336)
Dụng cụ tiêm insulin Số người bệnh (n) Tỉ lệ %
Tỷ lệ bệnh nhân dùng cả bút tiêm và bơm tiêm là 39,3% Số bệnh nhân chỉ dùng bơm tiêm chiếm 33,0% Còn lại 27,7% bệnh nhân chỉ dùng bút tiêm
Thư viện ĐH Thăng Long
3.1.10 Người hướng dẫn người bệnh tiêm insulin
Biểu đồ 3.5 Người hướng dẫn NB tiêm insulin (n36) Nhận xét:
Bác sĩ là đối tượng hướng dẫn tiêm insulin nhiều nhất cho bệnh nhân với tỷ lệ là 52,7%, theo sau là điều dưỡng với tỷ lệ 36,9%
3.1.11 Khả năng tự tiêm insulin
Biểu đồ 3.6 Khả năng người bệnh tự tiêm insulin (n36)
Hầu hết đối tượng nghiên cứu tự tiêm Insulin với tỷ lệ 86,9%, tỷ lệ không tự tiêm insulin là 13,1%
Thư viện ĐH Thăng Long
3.1.12 Các tai biến gặp phải khi tiêm
Bảng 3.7 Tai biến gặp phải khi tiêm (n36)
STT Tai biến n Tỉ lệ %
2 Xuất huyết vị trí tiêm 62 18,5
3 Loạn dưỡng mỡ dưới da 21 6,3
4 Nhiều vết kim đâm vùng tiêm 50 14,9
5 Thuốc chảy ra từ chân kim 58 17,3
Tai biến thường gặp nhất khi tiêm là hạ đường huyết, chiếm 31,0% với số lần hạ đường huyết trung bình là 0,95 ± 1,9 Đau khi tiêm đứng thứ hai với tỷ lệ 22,6%, trong khi loạn dưỡng mỡ là tai biến ít gặp nhất, chỉ chiếm 6,3%.
Kiến thức và thực hành về tiêm insulin của đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu
❖ Kiến thức về bảo quản và sử dụng insulin
Bảng 3.8 Kiến thức về sử dụng Insulin của đối tượng nghiên cứu (n36)
STT Nội dung Đúng Không đúng n % n %
1 Bảo quản Insulin mới chưa dùng 295 87,8 41 12,2
2 Bảo quản Insulin đang tiêm 69 20,5 267 79,5
3 Thời gian hết hạn insulin sau khi mở 297 88,4 39 11,6
4 Làm ấm insulin bảo quản trong tủ lạnh trước khi tiêm 250 74,4 86 25,6
5 Lăn trộn đều Insulin dạng đục trước khi sử dụng 277 82,4 59 17,6
6 Biết tên loại insulin đang sử dụng 245 72,9 91 27,1
7 Thời gian NB ăn sau khi tiêm Insulin 307 91,4 29 8,6
8 Tuân thủ sử dụng Insulin 211 62,8 123 36,6
Khi khảo sát kiến thức về sử dụng insulin, tôi nhận thấy rằng đối tượng nghiên cứu có hiểu biết đúng nhất về thời gian ăn sau khi tiêm insulin, đạt tỷ lệ 91,4% Tiếp theo, 88,4% người tham gia nắm rõ thời gian hết hạn của insulin sau khi mở Ngoài ra, kiến thức về thời gian bảo quản insulin cũng được ghi nhận.
Thư viện ĐH Thăng Long insulin mới chưa dùng (87,8%) Kiến thức sai nhiều nhất là về bảo quản insulin đang tiêm (79,5%)
❖ Kiến thức về dụng cụ tiêm
Bảng 3.9 Kiến thức về dụng cụ tiêm của đối tượng nghiên cứu (n36)
STT Nội dung Đúng Không đúng n % n %
1 Chiều dài kim của dụng cụ tiêm 78 23,2 258 76,8
2 Sử dụng kim bút tiêm (sử dụng 1 lần) 94 28,0 242 72,0
3 Sử dụng bơm tiêm (sử dụng 1 lần) 198 58,9 138 41,0
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về dụng cụ tiêm còn thấp, với chỉ 23,2% hiểu đúng về chiều dài kim tiêm và 28,0% biết cách sử dụng bút tiêm Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về sử dụng bơm tiêm lại cao hơn, đạt 58,9%.
❖ Kiến thức về vị trí tiêm insulin
Bảng 3.10 Kiến thức về vị trí tiêm của đối tượng nghiên cứu (n = 336)
STT Nội dung Đúng Không đúng n % n %
1 Xác định vị trí tiêm insulin 98 29,2 238 70,8
2 Luân chuyển vùng tiêm insulin 43 12,8 293 87,2
3 Nhận biết các bất thường của vùng tiêm 283 84,3 53 15,7
4 Xác định độ rộng vùng tiêm 116 34,5 220 65,5
Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ người có kiến thức đúng về vị trí tiêm insulin cao nhất là nhận biết các bất thường của vùng tiêm, đạt 84,3% Ngược lại, tỷ lệ người có kiến thức sai về việc luân chuyển vùng tiêm là 87,2%.
Bảng 3.11 Đánh giá về kiến thức chung của người bệnh về tiêm insulin( n= 336)
Kiến thức n Tỷ lệ % Đạt 125 37,2
Nhận xét: có 125 người (37,2%) có kiến thức đạt về tiêm insulin, còn đa số 211 người
Thư viện ĐH Thăng Long
3.2.2 Thực hành về tiêm Insulin
Bảng 3.12 Thực hành về tiêm Insulin (n36)
STT Nội dung Đúng Không đúng n % n %
1 Rửa tay trước khi tiêm 92 27,4 244 72,6
2 Vệ sinh đầu lọ thuốc trước khi lấy thuốc 62 18,5 274 81,5
3 Lấy không khí bằng lượng insulin cần tiêm vào lọ thuốc trước khi tiêm 156 46,4 180 53,6
4 Lấy đúng liều thuốc insulin 297 88,4 39 11,6
5 Sát trùng vị trí tiêm 47 13,9 289 86,1
6 Kỹ thuật véo da vị trí tiêm 255 75,9 81 24,1
7 Góc đâm kim qua da 108 32,0 228 67,9
8 Phân loại kim tiêm sau sử dụng 95 28,3 241 71,7
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hành đúng trong kỹ thuật lấy liều thuốc insulin đạt 88,4% và kỹ thuật véo da vị trí tiêm đạt 75,9% Tuy nhiên, có tới 72,6% bệnh nhân không rửa tay trước khi tiêm, 81,5% không vệ sinh đầu lọ thuốc trước khi đâm kim, và 86,1% không sát trùng vị trí tiêm.
Bảng 3.13 Đánh giá chung về thực hành chung của người bệnh về tiêm insulin
Thực hành n Tỷ lệ % Đạt 123 36,6
Nhận xét: có 123 người (36,6%) có thực hành đạt về tiêm insulin, còn 213 người (63,4%) thực hành chưa đạt
Thư viện ĐH Thăng Long
3.2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành
❖ Một số yếu tố liên quan đến kiến thức
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu với kiến thức của NB (n36)
Kiến thức của người bệnh ĐTĐ p
> 60 tuổi 150 62,8 89 37,2 Trình độ học vấn
Người có trình độ học vấn từ THPT trở xuống có tỷ lệ kiến thức không đạt cao hơn (67,6%) so với người có trình độ học vấn trên THPT (45,9%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05, OR=2.89) Tỷ lệ không đạt này không bị ảnh hưởng bởi giới tính, độ tuổi hay phân bố nơi ở (p > 0,05).
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đặc điểm về bệnh học với kiến thức của NB (n = 336) Đặc điểm về bệnh học
Kiến thức của người bệnh ĐTĐ p
Liên quan tới biến chứng mắc ĐTĐ, mức độ HbA1c, thời gian mắc bệnh, khác biệt về mặt kiến thức không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05
Thư viện ĐH Thăng Long
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đặc điểm về tiêm insulin với kiến thức của NB (n = 336) Đặc điểm về tiêm insulin
Kiến thức của người bệnh ĐTĐ p
Số lần tiêm mỗi ngày
Người hướng dẫn tiêm Điều dưỡng 79 64,2 44 35,8
Liên quan đến việc sử dụng dụng cụ tiêm insulin, số lần tiêm mỗi ngày và thời gian tiêm insulin là những yếu tố quan trọng Người hướng dẫn tiêm cũng đóng vai trò thiết yếu trong quá trình này Tuy nhiên, sự khác biệt về mặt kiến thức giữa các cá nhân không có ý nghĩa thống kê, với giá trị p > 0,05.
❖ Một số yếu tố liên quan đến thực hành
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với thực hành (n = 336)
Thực hành của người bệnh ĐTĐ p OR
Nữ giới có tỷ lệ thực hành không đạt (67,6%) cao hơn nam giới (56,8%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05, OR = 2,10) Ngoài ra, những người có trình độ học vấn ≤ THPT có khả năng thực hành không đạt cao hơn (67,9%) so với những người có trình độ học vấn > THPT (47,3%), cũng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05, OR = 3,26).
Thư viện ĐH Thăng Long
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm về bệnh học với thực hành (n = 336) Đặc điểm về bệnh học
Thực hành của người bệnh ĐTĐ p
Liên quan tới biến chứng mắc ĐTĐ, mức độ HbA1c, thời gian mắc bệnh, khác biệt về mặt thực hành không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đặc điểm về tiêm insulin với thực hành (n = 336) Đặc điểm về tiêm insulin
Thực hành của người bệnh ĐTĐ p OR
Số lần tiêm mỗi ngày
Người hướng dẫn tiêm Điều dưỡng 77 62,6 46 37,4
Liên quan đến dụng cụ tiêm insulin, số lần tiêm hàng ngày và thời gian tiêm insulin, người hướng dẫn tiêm cho thấy rằng sự khác biệt trong thực hành không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Thư viện ĐH Thăng Long
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của nhóm tham gia nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của đối tượng là 66,27 ± 11,03, với độ tuổi thấp nhất là 26 và cao nhất là 90 Đặc biệt, 71,1% đối tượng trên 60 tuổi, trong khi nhóm tuổi từ 40 - 60 chiếm 27,1% So với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019) tại khoa Nội Tiết bệnh viện Bạch Mai, có tuổi trung bình 57,21 ± 15,38, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ tuổi cao hơn, có thể do nhóm nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng bao gồm cả bệnh nhân ĐTĐ type 1.
Trong nghiên cứu về phân bố giới tính ở bệnh nhân tiêm insulin, chúng tôi ghi nhận nữ giới chiếm 60,7% và nam giới 39,3%, với tỷ lệ nữ/người bệnh nam là 1,55 lần Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019) tại bệnh viện Bạch Mai, nơi tỷ lệ nữ giới là 53,7% và nam giới 46,3% Tương tự, Bùi Thị Hoài Thu (2016) tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng cho thấy tỷ lệ nữ là 58,3% và nam 41,7% Sự phân bố này có thể được giải thích bởi tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nữ thường cao hơn so với nam trong cộng đồng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 42,9% đối tượng có trình độ học vấn dưới PTTH, trong khi 35,1% đạt trình độ phổ thông trung học Tỷ lệ đối tượng có trình độ trên PTTH là 22,0%, cho thấy kết quả này tương tự như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến.
Hồng (2019) [7] đối tượng có trình độ học vấn dưới PTTH chiếm 48,7 %, phổ thông trung học 32,3% và trên phổ thông trung học chiếm 18,9% Tác giả Vũ Thu Thủy
(2014) trình độ học vấn tiểu học và trung học cơ sở là 58,5%, phổ thông trung học là 31,7%, cao đẳng đại học chiếm 9,8% [21]
Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu ở thành thị chiếm 93,5%, trong khi chỉ có 6,5% sống ở nông thôn Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019), với tỷ lệ 44,3% ở thành thị và 55,7% ở nông thôn Sự khác biệt này có thể do bệnh viện chúng tôi thuộc Sở Y Tế Hà Nội, chủ yếu tiếp nhận bệnh nhân từ khu vực nội đô, trong khi bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện Trung ương, thu hút nhiều bệnh nhân từ các vùng nông thôn miền Bắc.
4.1.4 Biến chứng mạn tính đái tháo đường
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 155 bệnh nhân (46%) mắc biến chứng mạn tính do đái tháo đường, trong đó 28 bệnh nhân (18,1%) có biến chứng mạch máu lớn, 81 bệnh nhân (52,3%) có biến chứng mạch máu nhỏ, và 46 bệnh nhân (29,6%) mắc cả hai loại biến chứng Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019), trong đó 63,7% bệnh nhân có biến chứng mạn tính và 63,3% có biến chứng mạch máu nhỏ Đái tháo đường type 2 thường được phát hiện muộn, với 77,1% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có thời gian mắc bệnh từ 5 năm trở lên, cho thấy rằng sau 5 năm, bệnh nhân có nguy cơ cao mắc nhiều biến chứng mạn tính.
Chỉ có 5,4% bệnh nhân đạt được mục tiêu HbA1c dưới 7%, với mức HbA1c trung bình là 9,72 ± 2,09 Một số bệnh nhân có mức HbA1c cao nhất lên tới 16,8% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019), trong đó chỉ có 9,5% bệnh nhân đạt được mục tiêu này.
NB đạt mục tiêu HbA1C < 7% và HbA1C trung bình 9,99 ± 2,21% So với các nghiên cứu trên thế giới, con số này khá cao Theo Luis Eduardo Calliari cùng cộng sự ở
Thư viện ĐH Thăng Long
Brasil có HbA1c trung bình 8,45 ±1,8, khu vực Mỹ Latinh có HbA1c trung bình 8,34 ± 1,8, toàn cầu có HbA1c trung bình 8,47 ±2,1 [41]
HbA1C là tiêu chí quan trọng để đánh giá kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ), và việc giảm HbA1C có thể giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến bệnh Theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2020, mục tiêu HbA1C cho người bệnh ĐTĐ là 7% Điều này cho thấy cần nỗ lực hơn trong việc phối hợp điều trị thuốc và quản lý giáo dục cho bệnh nhân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số BMI trung bình được ghi nhận là 22,77± 3,36, với BMI thấp nhất là 16,41 và cao nhất là 42,98 Đối tượng nghiên cứu có 48,5% thuộc nhóm BMI trung bình (18,5 ≤ BMI < 23), 22,0% thừa cân (23 ≤ BMI < 25), 19,9% béo phì (BMI > 25) và 9,5% gầy (BMI < 18,5) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Huệ năm 2013, nhưng khác với một số nghiên cứu quốc tế, như của Lori Berard và Brett Cameron (Canada) với BMI trung bình 31,6 ± 12,7, và Luis Eduardo Calliari ở Brasil với BMI trung bình 28,6 ± 6,1 So với các nước Mỹ Latinh và châu Âu, chỉ số BMI của người Việt Nam thấp hơn Chỉ số BMI là yếu tố quan trọng trong việc áp dụng kỹ thuật tiêm insulin, vì sự thay đổi của BMI có thể ảnh hưởng đến kỹ thuật đưa kim qua da.
Thời gian mắc bệnh trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 10,72 ± 7,63 năm, với phần lớn người tham gia có thời gian mắc bệnh tiểu đường (ĐTĐ) vượt quá mức trung bình này.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân mắc ĐTĐ dưới 5 năm là 22,9% và từ 5 đến 10 năm chiếm 24,4%, với thời gian mắc bệnh trung bình là 10 năm và tỷ lệ 52,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019) với thời gian mắc bệnh trung bình 10,65 ± 7,76 năm và Nguyễn Thị Ngọc Hân với 9,2 ± 5,3 năm Tuy nhiên, thời gian mắc bệnh của chúng tôi thấp hơn so với một số nghiên cứu quốc tế, như của Lori Berard (2015) với 14,7 ± 10,0 năm và De Coninck (2010) với 13,9 ± 10,6 năm Sự khác biệt này có thể do thời gian chẩn đoán bệnh tại Việt Nam thường muộn hơn, dẫn đến thời gian mắc bệnh ngắn hơn.
4.1.8 Thời gian điều trị insulin
Thời gian trung bình sử dụng insulin trong nghiên cứu của chúng tôi là 6,40 ± 5,98 năm, gần giống với kết quả của Nguyễn Tiến Hồng (2019) với thời gian 5,09 ± 5,52 năm Nghiên cứu của Vũ Thùy Linh cũng cho thấy những kết quả tương tự.
Nghiên cứu năm 2017 cho thấy 61,9% bệnh nhân sử dụng insulin dưới 3 năm, với thời gian sử dụng trung bình là 3,9 ± 4,8 năm Theo Calliari (2018), thời gian trung bình sử dụng insulin ở Brasil là 9,8 ± 8,5 năm, ở Mỹ Latinh là 8,2 ± 7,9 năm, và trên toàn thế giới là 8,7 ± 8,9 năm Điều này cho thấy thời gian sử dụng insulin trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu khác Insulin là thuốc hiệu quả trong việc kiểm soát đường huyết, đặc biệt khi bệnh nhân không đáp ứng tốt với thuốc viên Các loại insulin analog hiện nay mang lại hiệu quả điều trị cao và giảm nguy cơ hạ đường huyết so với insulin người Tuy nhiên, việc chỉ định insulin tại các tuyến cơ sở vẫn còn hạn chế do tâm lý e ngại và lo sợ tiêm của bệnh nhân, dẫn đến việc họ thường tiếp cận điều trị muộn hơn so với các nước khác trên thế giới.
4.1.9 Khả năng tự tiêm insulin
Kết quả nghiên cứu cho thấy 86,9% đối tượng có khả năng tự tiêm insulin, tuy nhiên không phải ai cũng có kiến thức và thực hành đúng Khoảng 13,1% người bệnh không thể tự tiêm, trong đó 87,5% cần sự hỗ trợ từ người nhà và 12,5% phải nhờ đến nhân viên y tế.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019), tại Thư viện ĐH Thăng Long, có 82,4% bệnh nhân có khả năng tự tiêm insulin, trong khi 17,6% cần sự trợ giúp từ người nhà hoặc nhân viên y tế Tương tự, nghiên cứu của Bùi Thị Hoài Thu (2016) tại Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy 74,1% bệnh nhân tự tiêm insulin, còn 25,9% không tự tiêm được Trong số những bệnh nhân không tự tiêm, 16,6% do thiếu kiến thức, 3,7% vì sợ đau và 3,7% gặp khó khăn trong việc lấy đúng liều tiêm Tỷ lệ bệnh nhân có khả năng tự tiêm insulin cao cho thấy công tác hướng dẫn sử dụng insulin đã đạt được kết quả tích cực.
4.1.10 Tai biến liên quan đến tiêm insulin
Việc áp dụng kỹ thuật tiêm insulin không đúng có thể dẫn đến nhiều tai biến cho người bệnh, từ cảm giác khó chịu đến nguy cơ hạ đường huyết nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng nếu không được xử lý kịp thời Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 31,0% bệnh nhân gặp hạ đường huyết trong 6 tháng trước, với trung bình 0,95±1,9 lần, và có bệnh nhân gặp hạ đường huyết lên tới 10 lần, điều này cho thấy cần cảnh giác với những trường hợp nhiều lần hạ đường huyết Nguyên nhân có thể do liều insulin không phù hợp, chế độ ăn uống hoặc kỹ thuật tiêm chưa đúng Tỷ lệ hạ đường huyết trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019) với 62,2% và Vũ Thùy Linh (2017) với 44,8%, có thể do bệnh nhân ở thành phố có hiểu biết tốt hơn và thường xuyên tái khám Ngoài ra, 22,6% bệnh nhân cảm thấy đau khi tiêm, trong khi tỷ lệ loạn dưỡng mỡ chỉ chiếm 6,3%, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu quốc tế như tại Thổ Nhĩ Kỳ (48,8%), Tây Ban Nha (64,4%) và Trung Quốc.
Kiến Thức Và Thực Hành Của Nhóm Tham Gia Nghiên Cứu
* Kiến thức về bảo quản sử dụng insulin
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 87,8% đối tượng chưa sử dụng kiến thức bảo quản insulin ở nhiệt độ 2 - 8 độ C đúng cách, trong khi chỉ có 12,2% bảo quản sai Đối với insulin đang sử dụng, 79,5% được bảo quản ở nhiệt độ 2 - 8 độ C, còn 20,5% bảo quản ở nhiệt độ phòng Đặc biệt, trong số insulin được bảo quản trong tủ lạnh, có 74,4% bệnh nhân thực hiện làm ấm thuốc trước khi tiêm Theo nghiên cứu của tác giả M.Patil và cộng sự tại Ấn Độ, trong số 225 bệnh nhân ĐTĐ với độ tuổi trung bình là 50, có 74,67% người bệnh bảo quản insulin đúng cách ở nhiệt độ 2 - 8 độ C.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, 19,5% bệnh nhân bảo quản insulin ở nhiệt độ phòng, trong khi 5,77% giữ ở nhiệt độ dưới 0°C Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của M Patil, cho thấy insulin nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng theo khuyến cáo của nhà sản xuất, không cần thiết phải giữ trong tủ lạnh Việc làm ấm insulin trước khi tiêm là quan trọng để đảm bảo chất lượng Đặc biệt, 88,4% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thức được thời hạn sử dụng của insulin sau khi mở nắp, trong khi nghiên cứu của Vũ Thùy Linh chỉ ghi nhận 16,2% Điều này cho thấy bệnh nhân của chúng tôi có kiến thức tốt về bảo quản insulin, nhờ vào sự nhắc nhở thường xuyên từ nhân viên y tế trong các lần khám hàng tháng.
Thư viện ĐH Thăng Long
Việc lăn trộn insulin đục trước khi tiêm là rất quan trọng để kiểm soát đường máu ổn định, theo tác giả P.Kaiser, cần thực hiện 20 lần lăn trộn đối với insulin dạng trộn sẵn hoặc insulin NPH Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 82,4% người tham gia lăn trộn đều insulin trước khi tiêm, trong khi 17,6% không thực hiện đúng cách Một nghiên cứu khác của Anders H Frid trên 13.289 đối tượng từ 423 trung tâm ở 42 quốc gia cho thấy 36,2% người tham gia chỉ lăn trộn insulin ≤5 lần trước tiêm Những kết quả này chỉ ra rằng nhiều người vẫn chưa chuẩn bị insulin đúng cách, dẫn đến việc kiểm soát đường máu chưa hiệu quả.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, khoảng 27,1% bệnh nhân không biết loại insulin mà họ đang sử dụng Kết quả này cho thấy sự thiếu hiểu biết về thuốc insulin, và thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Vũ Thùy Linh (2017).
Một nghiên cứu cho thấy 72,0% bệnh nhân không nhận biết loại insulin họ đang sử dụng, chỉ biết thời điểm tiêm trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ Điều này dẫn đến việc một số bệnh nhân bỏ bữa sau tiêm và gặp triệu chứng hạ đường huyết Do đó, việc hướng dẫn bệnh nhân về loại thuốc tiêm và thời gian tác dụng là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết Trong nghiên cứu, 91,4% bệnh nhân có kiến thức đúng về thời gian ăn sau tiêm, giúp cải thiện kiểm soát đường huyết Bệnh nhân thường ăn sau khi tiêm 30 phút đối với insulin tác dụng thường, trong khi nghiên cứu của P.Kaiser cho thấy thời gian trung bình ăn sau tiêm là 10 phút.
* Kiến thức về dụng cụ tiêm
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 111 (33,0%) người tiêm insulin bằng bơm tiêm, 93 (27,7%) sử dụng bút tiêm, và 132 (39,3%) áp dụng cả hai loại dụng cụ Tại Việt Nam, kim bút tiêm thường có chiều dài từ 5-6mm, trong khi kim của bơm tiêm có kích thước khác.
Nghiên cứu cho thấy có đến 76,8% người dùng không biết chiều dài kim tiêm mình đang sử dụng, điều này ảnh hưởng đến kỹ thuật tiêm và có thể dẫn đến nguy cơ tiêm vào bắp thịt, gây biến động đường máu cho bệnh nhân Mặc dù kích cỡ kim tiêm là yếu tố quan trọng, nhiều bệnh nhân thường không chú ý đến điều này, dẫn đến tiêm sai và biến chứng Chiều dài kim tiêm quyết định kỹ thuật tiêm; kim dài ≥ 12 mm không nên sử dụng cho người lớn và kim ≥ 8 mm không nên dùng cho trẻ em Ngoài ra, chiều dài kim cũng ảnh hưởng đến góc đâm qua da, với kim dài ≥ 8 mm thường đâm qua da ở góc 45 độ đối với bệnh nhân có cân nặng bình thường.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 72% bệnh nhân chỉ sử dụng bút tiêm, trong khi 41% bệnh nhân sử dụng bơm tiêm tái sử dụng đầu kim, điều này không tuân thủ hướng dẫn tiêm an toàn.
Một nghiên cứu năm 2016 đã khảo sát 13.289 bệnh nhân tại 423 trung tâm trên 42 quốc gia, cho thấy 55,8% người bệnh sử dụng lại kim bút tiêm insulin và 38,5% sử dụng bơm tiêm Trong số những người dùng lại kim bút tiêm, 41,2% cho biết họ làm vậy để tiện lợi, trong khi 23,3% vì lý do tiết kiệm Đối với bơm tiêm, 26,1% người dùng để lại vì tiện lợi và 38,4% vì tiết kiệm Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ loạn dưỡng mỡ ở nhóm sử dụng lại kim tiêm cao hơn so với nhóm không sử dụng lại Một nghiên cứu khác của Nguyễn Tiến Hồng (2019) cho thấy 98% người dùng kim bút tiêm và 81,1% người dùng bơm tiêm đã tái sử dụng đầu kim Nghiên cứu của Misnikova (2011) chỉ ra rằng việc tái sử dụng kim tiêm nhiều lần làm tăng cường độ đau và nguy cơ nhiễm khuẩn tại vị trí tiêm insulin Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ sử dụng lại bơm kim tiêm cao hơn nhiều so với các nghiên cứu quốc tế.
Thư viện ĐH Thăng Long đối mặt với nhiều thách thức trong việc mua bút và kim tiêm do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế và hệ thống bảo hiểm hiện tại tại Việt Nam.
* Kiến thức về vị trí tiêm
Vùng bụng là vị trí nhiều người lựa trọn nhất, theo tác giả Anders H Frid năm
Nghiên cứu năm 2016 trên 13.289 bệnh nhân tại 423 trung tâm ở 42 quốc gia cho thấy 86% người bệnh chọn tiêm insulin ở vùng bụng, và kết quả của chúng tôi cho thấy tỉ lệ này lên tới 94%, chứng tỏ bụng là vị trí tiêm thuận lợi Tuy nhiên, 87,2% bệnh nhân vẫn chưa biết luân chuyển vùng tiêm và 70,8% không xác định đúng vị trí tiêm, dẫn đến nguy cơ loạn dưỡng mỡ và kiểm soát đường máu kém Nghiên cứu của tác giả Vardar tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy 76,9% bệnh nhân tiêm insulin lâu năm gặp loạn dưỡng mô mỡ, trong khi tỉ lệ này chỉ 23,8% ở những người luân chuyển vị trí tiêm hàng tuần Việc luân chuyển tất cả các vị trí tiêm (bụng, đùi, cánh tay, mông) mỗi tuần sẽ giúp giảm nguy cơ loạn dưỡng mỡ Đáng khích lệ, 84,3% bệnh nhân đã nhận biết được các bất thường tại vùng tiêm, từ đó điều chỉnh kỹ thuật tiêm cho phù hợp.
Những sai sót trong việc sử dụng insulin đã chỉ ra sự thiếu sót trong việc tư vấn và cung cấp kiến thức cho bệnh nhân ĐTĐ Người bệnh thường chỉ nhận được hướng dẫn cơ bản về tiêm insulin, trong khi những thông tin quan trọng như loại thuốc tiêm, loại bơm tiêm, vị trí tiêm cụ thể, cách luân chuyển vị trí tiêm, phương pháp thải bỏ và bảo quản thuốc, cũng như các tác dụng phụ và cách phòng tránh lại không được đề cập đầy đủ Đây là một lỗ hổng kiến thức lớn cần được khắc phục thông qua các chương trình tư vấn và hướng dẫn cho bệnh nhân mỗi lần tái khám.
4.2.2 Khả năng thực hành tiêm insulin
Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 72,6% đối tượng không rửa tay trước khi tiêm, 81,5% không sát trùng đầu lọ thuốc, và 86,1% không sát trùng vị trí tiêm Tại các bệnh viện ở Hà Nội, 55,6% điều dưỡng viên không rửa tay trước khi tiêm, 36% sử dụng panh không đảm bảo vô khuẩn, và 34% không sát khuẩn ống thuốc trước khi lấy thuốc Nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy 50,2% không rửa tay trước tiêm và 64,2% không sát trùng đầu lọ thuốc Tại Ấn Độ, 22,5% đối tượng không sát trùng vị trí tiêm, với một số nghiên cứu khác ghi nhận tỷ lệ 27% Những con số này cho thấy việc không tuân thủ quy tắc rửa tay và sát trùng trước khi tiêm vẫn còn cao, tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng do kỹ thuật tiêm không an toàn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người lấy sai liều thuốc chỉ chiếm 11,6%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hồng (2019) với tỷ lệ 12,0% ở bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Bạch Mai Việc tiêm insulin với liều thuốc đúng theo yêu cầu của bác sĩ rất quan trọng để duy trì mức đường huyết ổn định Thiếu liều thuốc có thể dẫn đến tăng đường huyết, trong khi lấy liều cao hơn chỉ định có thể gây hạ đường huyết nghiêm trọng Do đó, bệnh nhân không nên tự điều chỉnh liều thuốc tại nhà mà cần có sự giám sát và đánh giá từ bác sĩ điều trị.
Thư viện ĐH Thăng Long
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân áp dụng kỹ thuật véo da đúng đạt 75,9%, tương tự như nghiên cứu của Lori Berard (Canada) với tỷ lệ 69,7% và Nguyễn Tiến Hồng (2019) với 64,7% Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Selcuk Dagdelen (Thổ Nhĩ Kỳ) chỉ đạt 52,3% Việc áp dụng đúng kỹ thuật véo da giúp làm dày lớp mỡ dưới da, giảm nguy cơ tiêm vào bắp Độ dày lớp mỡ dưới da và chỉ số BMI có mối liên hệ chặt chẽ; người có BMI cao thường có lớp mỡ dày hơn, từ đó giảm nguy cơ tiêm insulin vào mô cơ so với người có BMI thấp Đối với những người có cân nặng bình thường hoặc thiếu cân, cần thận trọng khi sử dụng kim tiêm dài vì nguy cơ tiêm bắp rất cao.