1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh hủa phăn, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay

105 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 590,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình nghị sựchính thức, chính phủ của nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, đã coi vấn đề chống đói nghèo như là một trong những ưu tiên hàng đầu trongchính s

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề đói nghèo đã xuất hiện và tồn tại như một thách thức lớn đốivới sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Trong chương trình nghị sựchính thức, chính phủ của nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển,

đã coi vấn đề chống đói nghèo như là một trong những ưu tiên hàng đầu trongchính sách của mình

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một quốc gia nhỏ, địa hình chủ yếu

là miền núi, không có đường biển, kinh tế lạc hậu, chậm phát triển so với cácnước trong khối ASEAN Lào cũng là một quốc gia đa dân tộc Phần lớn cácdân tộc thiểu số sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới

Đói nghèo là một hiện tượng có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau

Nó có thể là nguyên nhân của sự bất ổn định không chỉ về kinh tế, mà còn có thểdẫn tới sự bất ổn định về chính trị – xã hội Chính vì lý do đó, ở Lào, việc xóađói, giảm nghèo được Đảng và Nhà nước ưu tiên hàng đầu và được xác định lànhiệm vụ chung của toàn xã hội Giải quyết tốt vấn đề xóa đói giảm nghèo(XĐGN) có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển đất nước

Quá trình thực hiện chính sách XĐGN ở Lào nói chung, ở tỉnh HủaPhăn nói riêng, trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất cơbản Tuy nhiên, chính sách của Nhà nước đối với vấn đề này còn nhiều bấtcập, hiệu quả chưa cao Ở Lào vẫn chưa định hướng rõ về việc xây dựngmột mô hình XĐGN mang tính bền vững Quá trình thực hiện chính sáchnày còn nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra, cần được giải quyết Nhìnchung, cách tiếp cận và phương thức giải quyết vấn đề đói nghèo đang cónhiều khác biệt ở phạm vi quốc gia và quốc tế ở mỗi địa phương, mỗi tỉnhviệc nhận thức và thực hiện chính sách XĐGN cũng còn có sự khác biệt

Trang 2

Hủa Phăn là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc Lào Đây cũng là mộttỉnh nghèo điển hình, với hệ thống cơ sở hạ tầng còn rất yếu kém, nềnkinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp Trong thời gian qua, bêncạnh những thành tích đã đạt được, việc thực hiện chính sách XĐGN trênđịa bàn tỉnh đã bộc lộ những vấn đề mà việc xử lý và giải quyết nó khôngchỉ có ý nghĩa đối với tỉnh, mà nó còn có ý nghĩa đối với các địa phươngkhác trên cả nước

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách XĐGN ở nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung, và thực hiện chính sách XĐGNtrên địa bàn tỉnh Hủa Phăn nói riêng, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp

bách Để góp phần thực hiện nhiệm vụ này, việc lựa chọn vấn đề "Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị học là việc làm

có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đói nghèo và XĐGN không chỉ là một vấn đề kinh tế, chính trị - xãhội, đồng thời nó còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn sâu sắc, mà không mộtquốc gia nào không quan tâm Do vậy, đây là vấn đề thu hút sự quan tâm củacác nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước ở những mức độ khác nhau

Cụ thể, ở Việt Nam, liên quan đến chủ đề XĐGN đã có một số côngtrình nghiên cứu được tiến hành như:

- Báo cáo phát triển của Việt Nam (2001), Tấn công nghèo đói.

- Báo cáo phát triển của Việt Nam (2002), Thực hiện cải cách để tăng trưởng và giảm nghèo nhanh hơn.

- Báo cáo phát triển Việt Nam (2004), Nghèo.

- ThS Lương Văn Quang (2005), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xóa đói giảm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 3

- ThS Nguyễn Cảnh (2007), Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới.

- TS Nguyễn Thị Phương Thủy, Chính sách dân tộc ở Việt Nam.

- PGS, PTS Nguyễn Văn Bách, PGS Chu Tiến Quang, Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,

số cuộc hội thảo cũng đã được tiến hành, nhưng mức độ bao quát vấn đề cũngcòn hạn chế Cụ thể, có một số tài liệu có liên quan đến đề tài như:

“Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hủa Phăn từ 2005

-2010 và từ 2005 đến 2020” của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hủa Phăn.

- Nghị quyết Đại hội VIII (2003), Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Nhân dân Cách mạng Lào

- Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Tỉnh ủy tỉnh Hủa Phăn.

- Số liệu thống kê dân số và nhà ở của tỉnh Hủa Phăn

Trang 4

- Đấu tranh với sự nghèo đói của Lào, tài liệu số 14 (2007).

Có thể nói, các công trình trên đã có những đóng góp nhất định về mặt

lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, vấn đề "thực hiện chính sách XĐGN", chưađược nhiều người nghiên cứu Các tác giả cũng chưa đưa ra một mô hìnhXĐGN thực sự khoa học, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển củađất nước

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc phân tích quá trình thực hiện chính sách XĐGN ở tỉnh HủaPhăn, luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện quá trình hoạch định

và thực hiện chính sách này trên địa bàn tỉnh nói riêng và trên phạm vi cảnước nói chung

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề XĐGN

- Phân tích việc thực hiện chính sách XĐGN ở Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào

- Đánh giá quá trình thực hiện chính sách XĐGN tại tỉnh Hủa Phăn, từ

đó đưa ra những đề xuất cho việc hoàn thiện quá trình thực hiện chính sáchXĐGN trên địa bàn tỉnh và trên phạm vi cả nước

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu việc thực hiện chính sách XĐGN ởLào nói chung, qua nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Hủa Phăn trong giai đoạn từnăm 2001 đến năm 2005

4 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Các chính sách và chu trình thực hiện chính sách XĐGN nói chung và

về mô hình XĐGN nói riêng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Cay sỏn Phôm Vi Hản, các quan điểmcủa Đảng Nhân dân cách mạng (NDCM) Lào; chính sách và những kinhnghiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới; kếthừa những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước

Mác-có liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách XĐGN ở tỉnh Hủa Phăn

- Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu là vấn đề thực hiện chính sáchXĐGN, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận vàthực tiễn; phân tích tổng hợp, lịch sử và lôgic, tổng kết thực tiễn, thống kê, sosánh, tham khảo ý kiến của các cán bộ, chuyên gia

- Đóng góp về khoa học của luận văn

+ Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề thực hiện chính sáchXĐGN ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung, ở tỉnh Hủa Phăn nóiriêng

+ Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chínhsách XĐGN ở tỉnh Hủa Phăn trong thời gian tới

6 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảocho các cơ quan lãnh đạo, quản lý thực hiện chính sách ở địa phương vàtrung ương

- Luận văn có thể giúp chính quyền tỉnh Hủa Phăn tham khảo, vận dụngtrong quá trình thực hiện chính sách XĐGN, dùng làm tài liệu tham khảo vàhọc tập ở trường chính trị tỉnh Hủa Phăn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ KHUÔN KHỔ ĐỂ GIẢI QUYẾT ĐÓI NGHÈO

1.1.1 Tác động của đói nghèo đến đời sống chính trị - xã hội

Nghèo đói tác động đến đời sống chính trị - xã hội của mọi quốc giatrên thế giới Mặc dù là vấn đề được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm,nhưng cho đến nay trên thế giới vẫn còn khoảng 1,2 tỷ người nghèo đói, vớimức thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày; khoảng 2,7 tỷ người có thu nhập thấphơn 2 USD/ngày Cũng theo các số liệu thống kê, mỗi ngày có khoảng 25.000người chết đói; cứ 4 phút có 1 người chết do đói Trước thực trạng đó, côngcuộc chống đói nghèo đã được phát động ở mỗi quốc gia Trên phạm vi toàncầu, cộng đồng quốc tế đã nhất trí lấy ngày 17-10-1987 làm ngày hội chốngđói nghèo quốc tế [22, tr.4]

Trong những năm gần đây, việc thúc đẩy các chương trình XĐGNnhằm thu hẹp khoảng cách phát triển đã trở thành một yêu cầu bức xúc trongchính sách phát triển của mỗi quốc gia Cùng với quá trình toàn cầu hóa, lợiích của các quốc gia đã không được phân phối một cách đồng đều Điều nàycàng làm tăng thách thức, mở rộng thêm hố ngăn cách giàu - nghèo giữa cácnước cũng như giữa các tầng lớp dân cư ở mỗi nước Trong khuôn khổquốc gia, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển sẽ bảo đảm

ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững, góp phần bảo đảm hòabình và hợp tác giữa các nước

Trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày cànglớn, không kể nước giàu hay nước nghèo, thì việc hỗ trợ đưa các nước nghèo,các nước đang phát triển vươn lên cũng là một trong những ưu tiên trong

Trang 7

chính sách phát triển, chính sách viện trợ của cộng đồng thế giới XĐGNnhằm thu hẹp khoảng cách phát triển ở mọi trình độ đã và đang là mối quantâm hàng đầu của tất cả các nước Đây cũng là một chủ đề quan trọng đượcđặc biệt nhấn mạnh tại các diễn đàn hợp tác toàn cầu cũng như khu vực.

Tuy nhiên, trên thế giới hiện vẫn còn nhiều quốc gia nghèo đói, mứcthu nhập bình quân đầu người còn khá thấp, sự phân hóa giàu - nghèo ngàyngày càng tăng, đời sống nhân dân cực kỳ nghèo khổ, gây ra tình trạng bấtbình đẳng Các nghiên cứu cũng cho thấy, nghèo đói gián tiếp gây ra sự xungđột giữa các sắc tộc, giữa các tôn giáo Nghèo đói cũng dẫn đến các tệ nạn xãhội như buôn bán người, sự lan tràn của các loại bệnh dịch AIDS (HIV), tìnhtrạng buôn lậu ma túy Tại một số nước châu Phi, tình trạng tranh giành quyềnlực giữa các phe nhóm chính trị, sự xung đột quyền lực giữa các sắc tộc cũng

có nguyên nhân sâu xa từ tình trạng đói nghèo

Trong phạm vi khu vực, ở một số quốc gia thuộc khối ASEAN, tìnhtrạng nghèo đói vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản Sự chênh lệch vềtrình độ phát triển giữa các nước thành viên và giữa các vùng trong mỗi nướcđang tiếp tục gia tăng Hiện nay, GDP bình quân đầu người của các nướcASEAN phát triển nhất cao hơn gấp hàng chục lần so với các nước kém pháttriển nhất (Chẳng hạn so sánh Singapore với Lào, Campuchia) Khoảng cáchnày có nguy cơ cao hơn trong bối cảnh các quốc gia này đang phải đối mặtvới tình hình bệnh tật, lạm phát, giá xăng dầu tăng, đe dọa sự ổn định và sựphát triển bền vững của cả khu vực

Tóm lại, nghèo đói có thể là một nhân tố quan trọng tác động đến sự ổnđịnh, sự phát triển bền vững của các quốc gia Nó tác động tiêu cực đến đờisống chính trị - xã hội Trong một xã hội có nhiều người nghèo thì xã hội đóluôn tiềm ẩn những nguy cơ dẫn đến sự bất ổn định về chính trị – xã hội

Trang 8

Người dân sống ở quốc gia đó thiếu niềm tin vào đội ngũ lãnh đạo vào nănglực cầm quyền của chính quyền.

1.1.2 Chính sách xóa đói giảm nghèo

- Chính sách (công) là gì:

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công Nhà kinh tế họcngười Anh, Frank Ellis, cho rằng: Không có một định nghĩa duy nhất về thuậtngữ "chính sách công" phù hợp với tất cả mọi người

Theo cách hiểu được nói đến nhiều nhất, chính sách là các chủ trương, cácbiện pháp của một đảng phái hoặc chính phủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,

xã hội, là sách lược và kế hoạch cụ thể, nhằm đạt một mục đích nhất định

Tuy vậy, cũng còn có nhiều cách cắt nghĩa khác nhau Theo FrankEllis, chính sách là "nghệ thuật của chính phủ" tạo ra các điều chỉnh và canthiệp cần thiết Chính sách công ngụ ý sự can thiệp của nhà nước vào xã hội

Từ đó, ông nêu ra định nghĩa: "Chính sách được xác định như là một đườnglối hành động mà chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể

cả các mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp đểtheo đuổi mục tiêu đó" [5, tr.12]

Trong khi đó, E.Anderson, một nhà nghiên cứu người Mỹ lại cho rằng,chính quyền là cơ quan thực hiện sự ủy quyền của dân, thực hiện ý chí củamọi người Vì thế, nó là một thể chế cộng đồng điển hình nhất, hoạt động của

nó là hoạt động công cộng vì lợi ích của cộng đồng Chính quyền có khả nănghuy động nguồn lực của toàn xã hội và tác động đến các bộ phận của xã hộivới những mục đích nhất định Những tác động này được gọi là chính sách

Theo E.Anderson, hoạt động của chính quyền chính là chính sách công

Từ đây, ông định nghĩa: "Chính sách công là những hoạt động mà chínhquyền chọn làm và không làm" [5, tr.13]

Một số quan điểm khác lại cho rằng, chính sách công là một chuỗi cáchoạt động nằm trong hệ thống với một trật tự xác định Hệ thống này có mục

Trang 9

tiêu dài hạn hay ngắn hạn, được xây dựng trên cơ sở pháp lý và loại trừ cácyếu tố ngẫu nhiên Như vậy, chính sách công là hệ thống hoạt động có tínhtoán và có mục tiêu của chính quyền tác động đến cuộc sống của người dân.

Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, chính sách công(Politique Pub lique) là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớtnhững vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của nhà nước Chínhsách công cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò của người cha đối với cuộcsống của nhân dân Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọingười; tạo ra an toàn tài chính và bảo vệ an toàn Tổ quốc [5, tr.13]

Các tác giả của Tập bài giảng chính trị học của Viện Chính trị học cho rằng:

Chính sách là tập hợp những văn bản theo một hướng xác địnhđược quyết định bởi những chủ thể cầm quyền nhằm quy định quátrình hành động của những đối tượng nào đó, để giải quyết nhữngvấn đề mà nhóm chủ thể đối tượng đó quan tâm theo một phươngthức nhất định để phân bổ giá trị [8, tr.135]

Cho dù có thể có những các cách hiểu khác nhau, song nhìn chung, mộtcách cô động nhất có thể xem chính sách công là chương trình hành động củanhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể Hoặc chính sách công là chuỗicác văn bản, được quyết định bởi chủ thể nắm quyền lực nhà nước, nhằm quyđịnh mục đích và cách thức, hành động của những đối tượng liên quan, đểgiải quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm

Qua các cách hiểu như trên, có thể khái quát như sau: "Chính sách công

là một hệ thống bao gồm tổng thể những tác động có ý thức (tự giác, không ngẫu nhiên) của nhà nước đến đời sống nhân dân", nhằm đạt được các mục

tiêu mà nhà nước đã đặt ra trong quá trình quản lý xã hội

Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chấtcủa đường lối, nhiệm vụ cụ thể Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứvào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, vừa giữ vững mục

Trang 10

tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linhhoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

Ở các nước do một đảng lãnh đạo (Việt Nam, Lào, Trung Quốc), chínhsách còn được hiểu là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà nướcnhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng tác động đến các lĩnh vực của đờisống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu trong mỗi thời kỳ khác nhau Trongnhiều trường hợp, các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng cũngđược coi là chính sách

Chính sách công bao hàm các vấn đề cơ bản như sau:

Thứ nhất, chính sách công là các "chương trình" bao gồm các mục

tiêu và biện pháp liên quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, được luận giảikhoa học Điều đó giúp phân biệt chính sách với các quyết định nhất thời,mang tính tình thế

Thứ hai, "tính định hướng, cụ thể" của chính sách công phân biệt rõ

giữa định hướng, chính sách và biện pháp theo mức độ cụ thể hóa

Thứ ba, "tính hợp pháp" của chủ thể ra chính sách (Nhà nước): Đặc

tính này khẳng định khả năng cưỡng chế của bộ máy quyền lực Nó là tiêu chíchính thể hiện sự khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổchức trong khu vực tư nhân hay của các đảng chính trị, của các đoàn thể xãhội vốn là những chủ thể không nắm quyền lực công cộng, mặc dù có ảnhhưởng nhất định đến quyền lực đó

Thứ tư, "tính hệ thống", "tính lịch sử": Các chính sách luôn phụ thuộc

vào các chính sách, chế tài liên quan Mỗi chính sách có giới hạn trong mộtthời gian, không gian nhất định

Thứ năm, chính sách phụ thuộc vào bộ máy, cơ chế, đội ngũ cán bộ

thực hiện chính sách Bộ máy càng gọn nhẹ, cơ chế làm việc càng minh bạch,

Trang 11

không chồng chéo, sự phối hợp giữa các bộ phận rõ ràng, thì việc triển khaichính sách bao giờ cũng thuận lợi hơn.

Thứ sáu, việc thực hiện chính sách phụ thuộc vào tính đúng đắn của

chính sách, sự chỉ đạo vận dụng chính sách vào thực tiễn của từng địaphương Nhiều chính sách được đưa ra theo ý muốn chủ quan, hoặc do nóngvội, không thực tiễn, sẽ khó có thể được thực hiện một cách thành công

- Mỗi chính sách được triển khai trên thực tế phải trải qua một chu trình với nhiều công đoạn khác nhau:

Chu trình chính sách là tất cả các công việc từ đầu đến cuối của mộtchính sách, kể từ khi nảy ra ý tưởng tới việc định hình, kiểm nghiệm, sửa đổihoặc hủy bỏ nó Việc thực hiện chính sách công diễn ra theo một lôgic, trật tự

và đặc biệt có tính kế thừa rất cao

Quá trình thực hiện chính sách công chính là việc lần lượt thực hiện cácbước sau: (1) Thiết lập nghị trình hành động; (2) Lập chính sách hay ra quyếtđịnh; (3) Triển khai chính sách; (4) Đánh giá chính sách hay phân tích tácđộng của chính sách và cuối cùng là những phản hồi đối với các chính sáchđang được áp dụng, từ đó có thể dẫn tới việc xem xét lại hay chấm dứt chínhsách công đó

Như vậy, chính sách công là một chu trình khép kín Quá trình hìnhthành chính sách công trên thực tế là quá trình các chủ thể lợi ích đưa ra yêucầu của mình và các chủ thể chính sách căn cứ vào yêu cầu lợi ích của xã hội

để điều chỉnh các mối quan hệ lợi ích phức tạp ấy Cụ thể các bước trong chutrình như sau:

Bước 1: Xác lập nghị trình.

Xác lập nghị trình thực chất là xác định vấn đề gì cần được quan tâm,

ra chính sách Đó là các yếu tố đầu vào của hệ thống chính sách

Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của cả một hệthống Ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị Quá trình tạo ra

Trang 12

được một "sản phẩm đầu ra" phải trải qua nhiều công đoạn Trước hết, đó làphải xác định được vấn đề của chính sách Vấn đề của chính sách nằm trongcác nhu cầu chính sách (hay còn gọi là nhu cầu chính trị) Các nhu cầu nàyxuất phát từ lợi ích của cá nhân, các nhóm xã hội, của các đảng chính trị,thậm chí là của các quốc gia cần được đáp ứng

Trong thời điểm mà những vấn đề nêu trên trở thành bức xúc, trong khi

xã hội vẫn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm dân cư, cáclực lượng chính trị, xã hội khác nhau thì làm sao có thể lựa chọn được vấn đềđúng cho chính sách? Điều này liên quan đến yếu tố đầu vào thứ hai là thôngtin Ai là người có khả năng cung cấp thông tin, diễn giải về các vấn đề cho

hệ thống chính sách?

Các thông tin đến được với các nhà khoa học từ các nguồn khác nhau:

từ truyền miệng, qua dư luận, thông qua những kiến nghị bằng văn bản qua hệthống chính quyền, thông qua truyền thông đại chúng, từ các kết quả nghiêncứu khoa học, từ hoạt động vận động hành lang, và từ nguồn thu thập thôngtin chính thức của hệ thống các cơ quan hoạch định chính sách

Vấn đề đặt ra ở đây là cho dù một vấn đề xã hội thực sự bức xúc hoặcmột sáng kiến chính sách rất tốt, nhưng nếu không có cách nào để đưa nó vàotrong chương trình nghị sự, thì nó sẽ không thể trở thành chính sách được.Đây là quá trình thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước rất phứctạp thông qua hệ thống chính trị và hệ thống xã hội, mà kết quả phụ thuộc rấtnhiều vào năng lực chủ quan của các lực lượng chính trị, của xã hội và củacác nhà hoạch định chính sách

Bước 2: Xây dựng và ban hành chính sách

Từ tất cả các thông tin trên, hệ thống hoạch định chính sách phải xácđịnh được vấn đề nào cần đặt vào chương trình nghị sự Điều này đòi hỏi cácnhà hoạch định cần có một tầm nhìn dài hạn Họ phải dự báo trong thời gian 5

Trang 13

năm, 10 năm, hoặc 20 năm tới, tình hình kinh tế - xã hội sẽ phát triển như thếnào; các nguồn lực được sử dụng như tài chính, nguồn nhân lực và các cơ sởvật chất khác, để việc thực thi chính sách đạt kết quả tốt Chính sách có thểđem lại lợi ích và thiệt hại tiềm năng cho các đối tượng nào liên quan Trên cơ

sở đó, cơ quan hoạch định chính sách tiến hành các bước sau:

+ Thu thập, phân tích thông tin

+ Phát triển các phương án giải quyết vấn đề

+ Xây dựng liên minh chính trị

+ Đàm phán, thỏa hiệp và thông qua chính sách

+ Các vấn đề chính trị đặt ra trong quá trình ra chính sách

Cụ thể, trong quá trình hoạch định chính sách phải tiến hành thu thập,nắm bắt thông tin để đưa ra được các chính sách bám sát vào những vấn đềcủa thực tiễn sinh động, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương

Các chính sách cũng phải đạt mục tiêu phát huy tính đoàn kết, thống nhấtgiữa các dân tộc, thuyết phục được người dân tự giác trong quá trình thực hiện

Bước 3: Triển khai chính sách.

Sau khi chính sách được soạn thảo, ban hành, triển khai, quá trình tiếptheo là các chủ thể triển khai chính sách; các đối tượng chính chịu sự tác độngcủa chính sách, diễn giải chính sách; các vấn đề về cưỡng chế và khuyếnkhích việc thực hiện chính sách

Bước 4: Tổng kết đánh giá chính sách.

Khâu quản lý chính sách có đạt được những mục tiêu đặt ra hay khôngphải được thể hiện trong công đoạn tổng kết, đánh giá Vì vậy, tổng kết đểđánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai và các tác động thực tế củachính sách Việc đánh giá chính sách được thực hiện trên một số khía cạnhnhư: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật, đánh giá toàn diện, phân tích chiphí lợi nhuận, phân tích từ góc độ thông tin, những hạn chế của chính sách,

Trang 14

những kinh nghiệm được rút ra để phục vụ cho việc đề xuất, soạn thảo nhữngchính sách mới phù hợp hơn.

* Chính sách xoá đói giảm nghèo:

Quan niệm về nghèo đói: Nghèo đói là tình trạng của con người thể

hiện ở các mặt như: thiếu các đồ dùng thiết yếu để sinh sống hàng ngày, chủyếu là thiếu cơm ăn, áo mặc và thiếu các dụng cụ trong gia đình, cuộc sốnghàng ngày phụ thuộc vào tự nhiên Đây là những hộ gia đình có mức thu nhậpthấp, không đủ tiền để mua cơm ăn, áo mặc, mua thuốc chữa bệnh, mua sách

vở cho con em đi học, sống trong những túp lều nhỏ, cuộc sống bấp bênh, lúc

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dướimức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở vào thời điểm nhất định

Những quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh ba khía cạnh chủ yếucủa người nghèo là: không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tốithiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng; thiếu

cơ hội trong việc lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

- Vậy khi nói tới XĐGN thì công việc cần làm có nghĩa là gì? XĐGNchính là quá trình làm cho người nghèo từ khổ cực vươn lên đủ ăn, đủ dùng;người - gia đình đủ ăn, đủ dùng thì khá giàu, người - gia đình khá giàu thìgiàu thêm, giảm sự chênh lệch, giảm khoảng cách tiếp cận các nguồn lực giữangười giàu và người nghèo

Trang 15

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh: "Xóa đói phải tiến tới giảm nghèo

và tăng giàu, đó là một cửa ải cần vượt qua, phải tiến tới giàu có, vì "Dân giàuthì nước mạnh"" [21, tr.65]

Như vậy XĐGN tức là xóa bỏ tình trạng thiếu thốn phương tiện tiếpcận các dịch vụ như: tăng thu nhập hàng năm, có nhiều cơ hội thu nhập, cónhiều tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày, có tiền chữabệnh, có tiền mua sách vở cho con em đi học, cuộc sống ấm no đủ chất dinhdưỡng, sức khỏe dồi dào

Chính sách XĐGN là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Lào Nó thể hiện những cam kết và tính nhất quán củaĐảng và Nhà nước trong việc giải quyết đói nghèo trên phạm vi toàn quốc

Trong điều kiện hiện nay, chính sách XĐGN là một hệ thống các chínhsách tác động trực tiếp đến người nghèo, nhằm mục đích phát triển các lĩnhvực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở các vùng dântộc, nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh

Ý nghĩa của chính sách XĐGN:

Từ khi thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước Lào luôn coi việc thựchiện chính sách XĐGN là vấn đề có ý nghĩa chiến lược Đây không chỉ là vấn

đề đạo lý, công bằng xã hội, mà nó còn thể hiện sự nhất quán giữa lý thuyết

và thực tế cuộc sống Chính sách XĐGN nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế

xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, từng bước cải thiện vànâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa các khu vực nàytừng bước ổn định cuộc sống và sau đó vươn lên làm giàu cho mình Chính vìvậy, trong thực tế, các nội dung, nhiệm vụ của chính sách XĐGN thườngđược tiến hành xen kẽ với nội dung, nhiệm vụ trong một hệ thống chính sáchchung của Đảng và Nhà nước Trong nhận thức không thể có sự tách bạchmột cách tuyệt đối

Trang 16

Chính sách XĐGN không phải là một chính sách riêng rẽ, mà là một bộphận hữu cơ trong hệ thống chính sách Nó chỉ có thể được thực hiện thôngqua quan sát tình hình thực hiện mọi chính sách kinh tế - xã hội một cáchđúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể và những đặc điểm của từng vùng,từng dân tộc

Chính sách XĐGN đặt con người vào vị trí vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của quá trình phát triển Đồng bào các dân tộc là chủ thể và đóng vaitrò quyết định trong việc tổ chức thực hiện các chính sách của Đảng và Nhànước vào điều kiện cụ thể ở địa phương mình Vì vậy phát triển nguồn nhânlực có chất lượng cao cả về trình độ học vấn, nghề nghiệp, đạo đức lối sống,sức khỏe là một yêu cầu cấp bách hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa vùng dân tộc, miền núi Do đó, một trong những ưu tiên đầu tiêntrong chính sách đầu tư phát triển miền núi là phải đầu tư cho phát triển conngười, tạo ra sức mạnh nội lực ở cộng đồng các dân tộc, để nhanh chóng đưamiền núi thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hòa nhịp với nhịp độ phát triển chungcủa đất nước

Các chính sách XĐGN một mặt cần chú ý đầy đủ đến những đặc điểm

tự nhiên, lịch sử, xã hội, phong tục tập quán, văn hóa của từng vùng, từng dântộc; mặt khác, nó phải tôn trọng lợi ích, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc

1.1.3 Người nghèo và các đặc trưng của người nghèo

- Ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, người nghèo chủ yếu là

những nông dân với trình độ học vấn thấp, khả năng tiếp cận thông tin và kỹnăng chuyên môn bị hạn chế Theo các số liệu thống kê, tính đến năm 2005,trên toàn quốc có khoảng 70-75% người nghèo làm việc chủ yếu trong ngànhnông nghiệp

Số hộ nghèo có ít đất, hoặc không có đất để sản xuất đang ngày càngphổ biến, đặc biệt là ở khu vực miền Bắc, nơi địa bàn chủ yếu là núi đá

Trang 17

Những hộ này không thể sống dựa vào số đất hiện có một cách lâu dài, trongkhi đó, những cơ hội việc làm để làm gia tăng thu nhập cho các đối tượng này

từ các khoản thu phi nông nghiệp dường như lại không có

Các hộ nghèo cùng thường rơi vào các đối tượng có nhiều con nhỏ,hoặc có ít lao động Nhóm này thường có tỷ lệ nghèo cao hơn và đặc biệt dễ

bị tổn thương khi phải gánh chịu thêm những chi phí về y tế và giáo dục.Nhìn chung, các hộ nghèo thường bị rơi vào vòng nợ nần luẩn quẩn

Các hộ nghèo đều rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn mang tínhthời vụ và những biến động bất thường xảy ra đối với gia đình hay với cộngđồng Họ là những người có thể bị tách biệt về địa lý và về xã hội

Các nghiên cứu thực tế ở Lào cũng cho thấy, tỷ lệ nghèo đói trong cácnhóm dân tộc ít người vùng cao có giảm, nhưng tốc độ không nhanh bằngngười Lào Lúm Các dân tộc ít người gặp phải nhiều bất lợi đặc biệt Nhữngbất lợi này cần được giải quyết thông qua Chương trình phát triển dân tộcthiểu số

Những người dân nhập cư thành thị cũng là đối tượng gặp phải nghèođói Do không có hộ khẩu, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tới cácdịch vụ công cộng và trở thành người sống tách biệt

Trong số những người nghèo thì trẻ em lại là đối tượng chiếm phần lớnhơn Số trẻ em này ít có khả năng được đến trường và lại tiếp tục bị rơi vàovòng nghèo đói

Một cách vắn tắt, các đặc trưng chính của những người nghèo ở Lào đó

là những nông dân có trình độ văn hóa tương đối thấp, đông con, ít có điềukiện sử dụng các nguồn lực vật chất như đất đai và ít có điều kiện sử dụng các

cơ sở hạ tầng xã hội Đây cũng chính là các đặc trưng của người nghèo ở Làocũng như người nghèo nhiều nước đang phát triển

- Người nghèo thường có trình độ học vấn tương đối thấp

Trang 18

Giáo dục là một trong những chiến lược quan trọng nhằm đào tạo đượcnhững con người có trình độ nhận thức cao, có khả năng hòa nhập vào cộngđồng, có cơ hội tham gia vào quá trình sản xuất với chất lượng cao Giữa trình

độ học vấn và đói nghèo luôn có một quan hệ tỷ lệ nghịch Tỷ lệ nghèo sẽgiảm xuống khi trình độ học vấn tăng lên [1, tr.21]

Theo Báo cáo về tình hình phát triển thế giới năm 2000 - 2001, hiệngần 90% số người nghèo trên thế giới là những người chỉ có trình độ phổthông cơ sở hoặc thấp hơn Trong nhóm đối tượng này, những người chưahoàn thành chương trình giáo dục tiểu học có tỷ lệ nghèo cao nhất Ngược lại,rất hiếm có trường hợp một người tốt nghiệp đại học lại thuộc diện nghèo đói.Bản thân các hộ nghèo cũng hiểu được rằng, trình độ học vấn là chìa khóaquan trọng để thoát khỏi nghèo đói Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ rarằng, những vấn đề lớn hơn liên quan đến việc tiếp thu kỹ năng, các kiến thứcchung và việc có được các nguồn thông tin là đặc biệt quan trọng

Các hộ thường được xếp vào nhóm khá giả hơn nếu những ngườitrưởng thành trong gia đình được đi học Họ biết được rằng cần phải cótrình độ học vấn cao hơn mức phổ thông cơ sở để có cơ hội kiếm được mộtcông việc ổn định

Ở những vùng nông thôn, các hộ thường gắn tầm quan trọng của họchành với khả năng nhận biết những cơ hội mới và nắm bắt được các kỹ thuậtmới Các hộ nông thôn nghèo cũng đánh giá cao sự biết đọc, biết viết cũngnhư khả năng tính toán, ngôn ngữ và kỹ thuật Việc tiếp xúc với các cán bộkhuyến nông, quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng, tiếp cận với thôngtin và với các phương tiện thông tin đại chúng đã trở thành những lĩnh vực ưutiên quan trọng đối với các hộ nghèo

- Các đặc điểm về nhân khẩu học.

Trang 19

Theo Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000: Tấn công nghèo đói,

các nhà tài trợ cho Việt Nam cho rằng, trong các phân tích định lượng đều cómột số vấn đề liên quan đến thành phần và quy mô hộ, tương quan với mứcsống của các hộ, các thông tin cho thấy:

+ Các hộ có nhiều trẻ em thường thuộc vào nhóm các hộ nghèo

+ Các hộ mới tách ra khỏi gia đình bố mẹ và trở thành những hộ mớithường được xếp vào loại nghèo

+ Các hộ bị mất đi lao động trưởng thành chính trong gia đình do bịchết hay bỏ việc cũng thường được coi là nghèo Đây thường là những hộ cóphụ nữ làm chủ hộ

Các hộ nghèo thường có nhiều trẻ em nhỏ Những hộ này không chỉ có

ít lao động hơn so với số miệng ăn trong gia đình, mà còn phải trả các chi phígiáo dục lớn hơn Họ cũng hay phải chịu thêm các chi phí khám chữa bệnh,gây bất ổn định cho kinh tế gia đình Số trẻ em trên mỗi người lao độngthường là cao nhất đối với nhóm hộ nghèo nhất, và tỷ lệ này giảm dần khimức chi tiêu bình quân đầu người tăng lên Tuy nhiên, có thể các số liệu này

đã đánh giá quá mức tác động của quy mô gia đình đối với tình trạng nghèođói bởi khi xét mức chi tiêu bình quân đầu người, chúng ta đã giả định rằngnhu cầu của các thành viên gia đình là như nhau và không tính đến những khácbiệt trong nhu cầu tiêu dùng của trẻ nhỏ và thiếu niên, cũng như chưa xem xétđến tính kinh tế theo quy mô trong tiêu dùng ở những hộ đông người [9, tr.24]

+ Các hộ mới tách trong giai đoạn đầu thường trải qua nghèo đói dothiếu đất Cũng giống như các hộ có nhiều trẻ em, nghèo đói trong trường hợpnày phần nào là vấn đề chu kỳ cuộc sống gia đình và sẽ giảm dần theo thờigian khi các hộ bắt đầu có thu nhập dư thừa, mua sắm thêm tài sản, tạo lậpcách kiếm sống ổn định và có thu nhập khá hơn Tuy nhiên, khả năng pháttriển kinh tế gia đình một cách ổn định của các hộ mới lập này đang ngày

Trang 20

càng bị bó hẹp vì họ chỉ được phân cho những mảnh đất nhỏ hơn, với chấtlượng thấp hơn Các hộ mới lập thường phải nhờ vả rất nhiều vào gia đình haibên để được sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, ở đây có một điều rõ ràng

là các hộ có diện tích đất nhỏ đến mức không cho phép họ có khả năng trangtrải những nhu cầu tiêu dùng tối thiểu, cũng có rất ít cơ hội làm ăn phi nôngnghiệp Mức tăng thu nhập dưới dạng tiền công ở các vùng nông thôn thườngrất thấp và không có một địa điểm được nghiên cứu nào, mà ở đó các hộ lạicho rằng, lao động làm mướn có thể đem lại nguồn thu nhập thay thế ổn địnhtrong bối cảnh ruộng đất ngày càng ít đi [1, tr.25]

+ Những hộ mất đi một thành viên gia đình đã trưởng thành cũng rất dễ

bị tổn thương Những hộ này bị mất lao động trưởng thành thường do bị chết,

bỏ gia đình đi, hoặc tách ra khỏi hộ Và những người này thường được cộngđồng xếp vào nhóm hộ nghèo đói nhất Đây thường là những hộ do phụ nữlàm chủ, phụ nữ sống độc thân phần lớn là nghèo hơn so với nam giới sốngđộc thân

- Khả năng tiếp cận các nguồn lực.

Đối với các hộ nghèo, diện tích đất và chất lượng đất là yếu tố quantrọng quyết định đến mức sống của họ Các hộ sống ở khu vực nông thônnghèo là những hộ có đất đai ít hoặc chất lượng kém, nên không đáp ứngđược nhu cầu tiêu dùng của họ, đặc biệt là những hộ mới lập gia đình, những

hộ di cư hoặc dời chuyển để tìm vùng đất mới Các hộ nghèo có thể có đủ đấtđai, song đất này thường nằm quá xa, dẫn đến việc đồng áng đòi hỏi phải cónhiều lao động hơn số lao động hiện có trong hộ Cơ cấu đất đai của các hộthường khác nhau tùy theo từng thôn Tuy nhiên, các hộ nghèo thường có tỷ

lệ phần đất ở trung du, đồi lớn hơn so với đất trồng được lúa và đất được chiacũng thường dốc hơn và nằm ở xa hơn [1, tr.26]

Trang 21

Các hộ nghèo thường bị rơi vào vòng nợ nần luẩn quẩn Rất nhiều hộrơi vào tình trạng nợ nần do phải đi vay để trang trải các khoản chi tiêu khẩncấp như: chi phí cho y tế, mua lương thực hoặc phải đi vay để đầu tư vào một

vụ kinh doanh bị thất bại Đó là nguyên nhân khiến cho cuộc sống của các hộnghèo bị kém đi [1, tr.28]

- Nguy cơ dễ bị tổn thương và bị cô lập.

Người nghèo, đặc biệt là trẻ em nghèo, cảm thấy rất dễ bị tổn thương,hoặc có nguy cơ bị tổn thương bởi những khó khăn theo thời vụ, hoặc bởinhững đột biến xảy ra đối với hộ gia đình và những cuộc khủng hoảng xảy ravới cộng đồng là một khía cạnh quan trọng của nghèo đói Những hộ nghèo ítvốn hoặc ít đất đai (hoặc cả hai) và những hộ chỉ có khả năng trang trải đượccác chi tiêu lương thực và phi lương thực thiết yếu khác đều rất dễ bị tổnthương trước mọi biến cố khiến họ hoặc phải bỏ thêm chi phí, hoặc bị giảmthu nhập Thông thường, một thành viên của gia đình đau ốm vẫn được xemnhư một biến cố, nghiêm trọng nhất làm đảo lộn sinh hoạt của gia đình vàphải hàng năm sau, các hộ mới có thể phục hồi lại được Các hộ nghèo nhấtphải dành khoảng 30% chi tiêu phi lương thực cho chi phí y tế Một vụ mùathất bát, hoặc một khoản đầu tư không thành công cũng có thể gây ra sự căngthẳng về mặt kinh tế cho các hộ gia đình Tình trạng không an toàn không chỉđơn thuần là vấn đề kinh tế Do thiếu thông tin về các quy hoạch phát triển đôthị và giải phóng mặt bằng nên nhiều hộ không thể biết được thời gian họ cònđược phép sống ở khu vực cư trú hiện tại, đường sá công cộng, đi được mộtmùa khô cũng là những nguy cơ đe dọa an toàn thể chất, vật chất và có thểgây ra hỏa hoạn Tệ nạn nghiện ma túy ngày càng gia tăng cũng đang là mối

lo lắng của các hộ gia đình ở các khu thành phố, thị xã, thị trấn, những trẻ em nhànghèo bị trẻ em nhà giàu lôi kéo ăn cắp, ăn cướp, nghiện ma túy, đặc biệt là trẻ emnghèo ở nông thôn đang phải sống trong cảm giác không an toàn [1, tr.29]

Trang 22

Các hộ nghèo luôn có cảm giác bị cô lập về xã hội Qua phân tích phản

ứng và cách thức chống chọi của các hộ nghèo trong những thời điểm khókhăn của các hộ nghèo, chúng ta thấy rằng các mạng lưới hỗ trợ phi chínhthức có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hộ nghèo Ở các làng, bản vùngsâu vùng xa, vùng cao, mức độ các quan hệ xã hội là khá cao và được đặctrưng bởi các quan hệ hỗ trợ tương hỗ Do các làng bản này khá tương đồng

về các điều kiện kinh tế và xã hội, nên họ luôn sẵn sàng tình nguyện giúp đỡngười khác khi có khả năng, vì trong tương lai có thể họ cũng phải cần đến sự

hỗ trợ tương tự Điều này có thể giải quyết được phần nào những bất lợi củacuộc sống ở vùng sâu vùng xa

Một số nhóm hộ nghèo có cảm giác bị tách biệt về xã hội với thế giớibên ngoài, với các tổ chức đại diện cho họ và phục vụ họ Một số bị cô lậpliên quan đến vấn đề dân tộc, những khác biệt về ngôn ngữ, tiếng nói và vănhóa, cùng với những khó khăn về khả năng tiếp cận về địa lý, làm nhữngngười dân thuộc các dân tộc ít người có quan hệ giao lưu rất hạn chế với thếgiới bên ngoài và hầu như không có điều kiện tiếp xúc với những sáng kiếnhay những thông tin mới

Ở thành phố, thị trấn, thị xã tình trạng tương tự cũng xảy ra với một sốngười nhập cư sống ở các khu nhà tạm

Ngoài ra, việc bị cô lập cũng chứa đựng trong đó yếu tố về giới Côngviệc của phụ nữ bận rộn, vất vả hơn nhiều so với nam giới và do đó họ ít có

cơ hội tiếp xúc với xã hội, học hỏi hoặc tham dự các cuộc họp của cộng đồng

Các hộ nghèo nằm ở vị trí địa lý cách biệt và bị gạt ra bên lề xã hội.

Mặc dù các làng bản nhìn chung đều có mạng lưới đường bộ hoặc đườngthủy, song việc được sử dụng các dịch vụ giao thông lại là vấn đề phức tạp.Một số người dân sống trong các làng bản không có điều kiện sử dụngđược giao thông cơ giới Giữa mức sống và khả năng được sử dụng các

Trang 23

dịch vụ giao thông vận tải có mối quan hệ tỷ lệ nghịch rõ rệt Số nhữngngười không được sử dụng các dịch vụ giao thông vận tải luôn thuộc nhómnghèo nhất, nhiều gấp 5 lần so với những người thuộc nhóm hộ giàu nhất.

Ở các bản, làng không có giao thông cơ giới, tỷ lệ người nghèo nhiều gấphơn 1,5 lần so với các bản, làng có hệ thống giao thông như vậy Những kếtquả điều tra này cho thấy, cần tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ giaothông vận tải và điều này quan trọng hơn so với việc xây dựng cơ sở hạtầng ở các vùng nghèo

1.1.4 Các khuôn khổ để giải quyết đói nghèo

* Tạo cơ hội cho người nghèo:

Để thực hiện tốt việc XĐGN, nhiều nước đã đề ra chính sách tạo cơ hộicho người nghèo phù hợp với điều kiện của đất nước mình, trong đó chủ yếu

là nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế Đây là bước đi quan trọng để triểnkhai các chiến lược nhằm cải thiện đời sống cho đông đảo người dân Vai tròtrung tâm của phát triển kinh tế đã cho thấy sự khác biệt trong công cuộcgiảm đói nghèo giữa các nước giàu và các nước nghèo Cũng có một số nước

có tốc độ tăng trưởng kinh tế như nhau, nhưng tốc độ giảm đói nghèo lại có

sự khác biệt Thực tiễn nhiều nước cho thấy, sự thay đổi trong cách thức phânphối thu nhập đã khiến sự tăng trưởng trở nên thuận lợi, hay bất lợi hơn chongười nghèo Nhìn chung, nhiều nước đã có sự giảm đói nghèo tương đối ấntượng thông qua thành tích phát triển kinh tế

Một số biện pháp mà các quốc gia hay sử dụng để tạo cơ hội cho ngườinghèo như sau:

- Cải cách nông nghiệp và phân phối lại ruộng đất.

Nhiều nước đang phát triển đã thực hiện cải cách ruộng đất với các biệnpháp khác nhau Khả năng tiếp cận đất đai đóng vai trò quan trọng trong việcgiảm đói nghèo; đồng thời, biện pháp này cũng góp phần hạn chế sự chiếm

Trang 24

hữu ruộng đất với quy mô lớn của tầng lớp địa chủ Một người đàn ông nghèo

ở Nigiêria từng nói: "Tất cả khó khăn của chúng tôi bắt nguồn từ việc thiếuđất Nếu chúng tôi có đất, chúng tôi có thể sản xuất đủ lương thực cho giađình, có thể xây nhà ở và dạy dỗ con cái" [1, tr.80]

Sự nghèo đói ở khu vực nông thôn không chỉ do nguyên nhân từ sựphân phối ruộng đất bất công, mà còn do năng suất lao động thấp Nhiều côngtrình nghiên cứu gần đây cho thấy, việc phân phối lại ruộng đất cho nhữngngười nghèo thường làm tăng sản lượng nông nghiệp của các nước đang pháttriển vì hai lý do chủ yếu: (1) nông dân khi có quyền sở hữu ruộng đất sẽ hănghái hơn trong việc cải tạo, đầu tư vào đất đai, (2) nông dân có điều kiện sửdụng nhiều lao động và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất [9, tr.69]

Ngoài những lợi ích trực tiếp trong cải cách nông nghiệp, tăng thu nhập

từ nông nghiệp dường như đặc biệt hiệu quả trong việc làm giảm đói nghèo ởnông thôn, nhờ tác động lan tỏa của cầu trên các thị trường địa phương, nơigắn với nhiều người nghèo phi nông nghiệp ở nông thôn

- Cung cấp vốn và tín dụng: Nhìn chung, ở các nước kém phát triển,

người nghèo chủ yếu sống nhờ vào sức lao động trong khi người giàu sốngdựa trên những khoản thu từ quyền sở hữu tài sản của họ Người nghèo khôngchỉ có ít vốn, sự nghèo đói của họ cũng hạn chế khả năng tiếp cận được cácnguồn vốn để tận dụng các cơ hội đầu tư tốt, ít được hưởng lợi từ các kết quảtăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường rất yếukém vì trình độ học vấn của người nghèo thường rất hạn chế, thiếu kiến thứclàm ăn, con cái của họ chỉ có khả năng học ở bậc tiểu học, thậm chí khôngđược học hành, thiếu những điều kiện chăm sóc sức khỏe Vì vậy, việc cungcấp vốn bằng các hình thức khác nhau là một điều kiện quan trọng để cảithiện đời sống cho người nghèo

Trang 25

- Đầu tư cơ sở hạ tầng: Việc xây dựng đường sá, trường học, các dự án

tưới tiêu và hạ tầng cơ sở khác cũng có thể đem lại những lợi ích trực tiếp chongười nghèo, làm tăng năng suất hoặc tạo ra việc làm cho họ

- Chính sách marketing: Cải tiến các điều kiện thị trường là điều kiện

thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng nông thôn

- Chính sách giá cả và tỷ giá hối đoái: Nhà nước thường can thiệp vào hệ

thống giá với mục tiêu giảm sự tách biệt giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp

- Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất như khuyến khích xây dựng

các nông trại, các hình thức hợp tác xã, các tổ chức kinh tế tập thể

- Công nghiệp hóa nông thôn: Xây dựng các công trình công cộng, các

cơ sở chế biến được coi là biện pháp quan trọng làm giảm sự phân hóa giàunghèo giữa thành thị và nông thôn

- Giáo dục và đào tạo: Vốn nhân lực cũng như vốn vật chất có thể đem

lại nguồn thu nhập qua thời gian Áp dụng chính sách giáo dục tiểu học phổcập không mất tiền là cách thức chủ yếu để tái phân bổ nguồn lực cho lợi íchcủa người nghèo

- Các chương trình về việc làm: Một số chính sách thường được các

nước đang phát triển áp dụng để giảm bớt thất nghiệp bao gồm việc mở rộngnhanh chóng lĩnh vực công nghiệp, các ngành sản xuất dùng nhiều lao động,phát triển kinh tế và các dịch vụ xã hội ở các vùng nông thôn; hệ thống giáo dụcthích hợp hơn, sự phù hợp giữa chính sách giáo dục và kế hoạch hóa kinh tế vàdựa nhiều hơn vào thị trường trong việc định đặt các mức tiền công - tiền lương

- Thực hiện các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng: Ốm đau và thiếu

lương thực sẽ hạn chế các cơ hội công ăn việc làm và sức kiếm sống của ngườinghèo

- Các chương trình dân số: Mức sống của người nghèo được cải thiện

nhờ quy mô gia đình nhỏ hơn, do mỗi người ở độ tuổi lao động có ít người ăntheo hơn

Trang 26

- Nghiên cứu và công nghệ: Những lợi ích của việc ứng dụng khoa học

và công nghệ mới trong việc giảm bớt đói nghèo là rất rõ ràng trong nôngnghiệp Cuộc cách mạng xanh đã làm tăng lượng cung cấp lương thực chongười nghèo Nhưng việc cần nghiên cứu nhiều hơn nữa là cần thiết phải tăngnăng suất cây trồng mà nhiều nông dân có thu nhập thấp vẫn phụ thuộc vào

- Di dân: Khi sự phát triển tiếp tục được duy trì, sẽ ngày càng có nhiều

việc làm được tạo ra trong khu vực công nghiệp, đô thị, do đó sẽ xuất hiệnmột làn sống di cư, người dân từ khu vực nông thôn và miền núi sẽ chuyển tớicác thành phố sinh sống, tìm kiếm các cơ hội việc làm Mặc dù có nhiều khókhăn, mức sống của dân di cư có công ăn việc làm trong thành phố vẫnthường cao hơn so với dân nghèo sống ở khu vực nông thôn

- Thuế khóa : Các chính sách thuế như thuế thu nhập lũy tiến có tác

dụng làm giảm bớt bất công về thu nhập

- Chú trọng vào các nhóm mục tiêu: Một chiến lược khác để cải thiện

cuộc sống của người nghèo là các chương trình hành động trợ giúp cho ngườinghèo, như mở các cơ sở giáo dục và các cơ sở kinh tế nhà nước theo cácchương trình mục tiêu Một số nước như Ấn Độ đã dùng những khoản kíchthích và trợ cấp công nghiệp để giúp cho các vùng lạc hậu về kinh tế và đàotạo cho các nhà kinh doanh từ các nhóm người nghèo khổ

- Tấn công toàn diện vào đói nghèo, một nghiên cứu của Irma Adelman

và Sherman Robinson cho thấy, xét một cách đơn lẻ, hầu hết các chính sách,như trình bày ở trên, rất khó giải quyết được sự gia tăng bất công về thu nhậpphát sinh trong sự phát triển Chỉ có sự huy động toàn bộ các chính sách củaChính phủ hướng vào các chương trình để trợ giúp trực tiếp cho người nghèothì cuộc tấn công vào nghèo đói mới có thể thành công trong việc giảm bớt sựbất công về thu nhập và làm tăng thu nhập tuyệt đối Các nước và vùng lãnhthổ như Đài Loan, Hàn Quốc, Israel và Singapore đều đã thực hiện phân phối

Trang 27

lại thu nhập Theo Adelman và Robinson, tài sản tái phân phối thay đổi theomức tăng trưởng kinh tế Thời kỳ đầu, khi nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệpđất đai được phân phối lại Giai đoạn sau, sự phân phối lại nguồn nhân lựcthông qua giáo dục và đào tạo cho người nghèo được chú trọng.

- Các chính sách định hướng theo tăng trưởng: Việc đẩy nhanh tăng

trưởng kinh tế có lẽ là cách tiếp cận thỏa đáng nhất về mặt chính trị để giảmbớt sự đói nghèo Một số nước có thu nhập vào loại vừa như Malaysia và TháiLan đã có thành tích giảm nghèo khá ấn tượng thông qua sự tăng trưởng kinh

tế nhanh chóng Khi tổng GDP tăng lên, thì phần lợi ích thu được của cảnhóm giàu lẫn nhóm nghèo cũng được tăng lên [9, tr.73-74]

+ Thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, thực hiện bình đẳng

về giới, tạo điều kiện về hạ tầng xã hội và năng lực sản xuất để các vùng pháttriển, tiến tới giảm chênh lệch giữa các vùng về mặt xã hội Ổn định và nângcao đời sống đồng bào dân tộc ít người Thực hiện bình đẳng về giới, vì sựtiến bộ của phụ nữ và quyền lợi của trẻ em

+ Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp cho các đối tượng yếuthế và người nghèo Tập trung có trọng điểm để hỗ trợ người nghèo, dân tộc ítngười, nhóm yếu thế khác trong xã hội Tăng cường an sinh xã hội, xây dựngcác biện pháp để giúp đối tượng yếu thế cải thiện các điều kiện tham gia thịtrường lao động Xây dựng hệ thống giải pháp cứu trợ xã hội đột xuất hữuhiệu Mở rộng sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chứcphi chính phủ trong việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội [12, tr.18-19]

* Giảm bớt nguy cơ bị tổn thương.

Cuộc sống sinh nhai của các hộ nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương bởi cácđột biến ở mỗi hộ gia đình, cũng như ở cấp độ cộng đồng Nền tảng kinh tếmong manh của các hộ nông dân có nghĩa là các đột biến như vậy có thể phá

vỡ sự ổn định của hộ và phải mất nhiều năm sau mới có thể phục hồi

Trang 28

- Những đột biến về sức khỏe của các hộ thường gây ra sự giảm sútnguồn lao động và họ phải giành một nguồn lực đáng kể cho chữa trị bệnh vàcác chi phí khác có liên quan Những đột biến về sức khỏe này thường đượcnêu ra như là một nguyên nhân của nghèo đói của hộ Việc giảm các chi phítrực tiếp cũng như gián tiếp cho việc chữa bệnh đối với các hộ nghèo, do vậy

có thể tạo ra một mạng lưới an sinh quan trọng

- Rủi ro, thất bại của việc đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp có thể ngăncản các hộ mở rộng sản xuất của họ theo hướng nâng cao khả năng chống đỡtrước những tình hình sản xuất của thiên tai, bệnh dịch đột biến Các dịch vụkhuyến nông và thú y là những hoạt động có thể giúp giảm bớt nhiều rủi rocủa đầu tư vào nông nghiệp Hiện nay những dịch vụ này thường chưa đếnđược với các hộ nghèo một cách đồng bộ

- Các hộ nông dân bị hạn chế trong việc tiếp cận các phương tiện gửitiền tiết kiệm đáng tin cậy để có thể giúp họ rút được tiền gửi một cách kịpthời khi gặp khó khăn, hay khi cần phải chi tiêu Đây cũng là một nguyênnhân làm hạn chế khả năng đối phó với rủi ro của các hộ nghèo

1.2 CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.2.1 Tình hình nghèo đói ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Chính sách đổi mới ở Lào được khởi xướng vào những năm 1980, đượcđánh dấu bằng Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ ba Tuy nhiên, phải đến năm

1986, Đại hội Đảng NDCM Lào mới có những bước đi cụ thể cho tiến trìnhnày Từ thời điểm đó, tốc độ tăng trưởng GDP của Lào đã tăng khá nhanh.Trong vòng 10 năm (1976 – 1986), nền kinh tế Lào đã từng bước chuyển từmột nền nông nghiệp sản xuất lúa một vụ là chủ yếu sang trồng nhiều vụ, vớinhiều loại hoa quả hàng hóa Năm 1986, sản lượng lương thực đã vượt năm

Trang 29

1975 gấp 2 lần; diện tích trồng cà phê và xuất khẩu cà phê tăng lên 2 lần; xuấtkhẩu thuốc lá tăng gấp 3 lần so với năm 1976

Về công nghiệp, trong 10 năm, sản xuất công nghiệp tăng 4,4 lần, trong

đó nhiều mặt hàng đã đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Các ngành dịch vụ cũng có sựtăng trưởng

Kể từ sau khi Lào tiến hành chính sách đổi mới về cơ cấu quản lý kinh

tế, vào cuối những năm 1980, đất nước đã phát triển nhanh chóng Trong thập

kỷ vừa qua, Chính phủ Lào đã tập trung chú ý cải cách kinh tế vĩ mô và một

số chính sách điều chỉnh cơ cấu nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang một

hệ thống theo định hướng thị trường

Trước khi bắt đầu tiến hành những cải cách cơ bản vào những năm

1986, nhà nước quản lý tất cả đất đai và tài nguyên thiên nhiên Nhà nướcphân phối thiết bị và nguyên liệu sản xuất và tổ chức sản xuất nông nghiệptheo mô hình tập thể Đồng thời, cũng chính nhà nước tiến hành phân phốicác nông sản và hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu cá nhân Trong những ngànhmũi nhọn và trong hoạt động ngoại thương, nhà nước giữ vị thế độc quyền.Giá cả hàng hóa do các cơ quan kế hoạch của Chính phủ định sẵn theo nhữngmức giá có trợ cấp và thường thấp hơn nhiều so với giá trên thị trường tự do

và từ đó tạo nên hệ thống hai giá Trong giai đoạn này, các doanh nghiệpngoài quốc doanh vẫn phải chịu nhiều hạn chế về quy mô, số lượng lao động

và vốn đầu tư

Hệ thống quản lý tập trung đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng vềkinh tế xã hội trong những năm 1976 - 1986 Để giải quyết tình hình đó, Đạihội lần thứ IV của Đảng NDCM Lào tổ chức vào ngày 13/11/1986 đã đề rachính sách đổi mới chính thức nhằm chuyển hướng sang một nền kinh tế thịtrường Làn gió đổi mới đã tạo ra một tốc độ tăng trưởng cao cho nền kinh tế,

Trang 30

và đó cũng là một trong những nhân tố chính giúp cho tình trạng nghèo đóigiảm đi đáng kể.

Mặc dù đã có những nỗ lực thực hiện các chính sách cải cách khá toàndiện, song cho đến nay, Lào vẫn còn là một trong những quốc gia nghèo nhấtthế giới Theo các số liệu thống kê, tình hình phát triển nông thôn và giảiquyết nghèo đói trong 5 năm qua: tỷ lệ đói nghèo ở Lào trong năm 2000 là

39%, và con số này vào năm 2004 là 30% (tính theo chuẩn nghèo đói của Lào) Nếu tính theo chuẩn nghèo đói của Ngân hàng thế giới thì tỷ lệ nghèo

đói ở Lào là 46% (năm 2004) [12, tr.23]

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2005 của Ban chỉ đạo điềutra dân số toàn quốc, đến năm 2005, tỷ lệ nghèo đói trên cả nước là 28,7%.Cuộc sống của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa rất khó khăn; bộmặt nông thôn, nhất là miền núi, chưa thay đổi bao nhiêu (kể cả nơi căn cứcách mạng) Trên cả nước còn 47 huyện nghèo, chiếm 33,33% số huyện cảnước và 5 tỉnh nghèo chiếm 29,41% số tỉnh; số bản chưa có đường giao thôngchiếm 33,55% số bản cả nước; 16 huyện chưa có đường ô tô đi được trongmùa khô, chiếm 12%; khoảng 20% số huyện và 40% số bản chưa được sửdụng điện thoại; khoảng 55% số bản, 53% số hộ chưa được sử dụng điện;15,8% trẻ em ở độ tuổi đi học không được đến trường; 27% dân số ở độ tuổi15-45 còn mù chữ; 32,8% dân số chưa được sử dụng nước sạch; chất lượng

về dịch vụ y tế còn thấp; tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi và dưới 1 tuổi còncao Việc đầu tư vào phát triển nông thôn và XĐGN còn hạn chế Việc đánhgiá thông tin thống kê về nghèo đói chưa sát với thực tế Thực trạng nghèođói và tốc độ giảm nghèo ở mỗi vùng có sự khác biệt đáng kể trên phạm vi cảnước

Trong giai đoạn từ 1995, số dân sống ở nông thôn chiếm 83% dân sốLào Đến năm 2005 đã có sự thay đổi dần dần, bởi một số hộ nông dân đã

Trang 31

di cư vào thành thị tìm kiếm việc làm Đến nay tỉ lệ dân sống ở nông thônchiếm 73%, trong đó 85 - 90% làm nông nghiệp, khoảng 10-15% làm việctrong các cơ sở chế tạo (thủ công) và xây dựng Tỷ trọng các hộ có chủ hộlàm việc trong các văn phòng hay dịch vụ bán hàng tăng lên không đáng kể[12, tr.24]

Nhìn chung, mức đói nghèo ở Lào hàng năm có giảm (từ 39% năm

1998 xuống còn 28,7% năm 2005) Mức nghèo giảm chủ yếu do tỉ lệ ngườinghèo trong từng nhóm nghề nghiệp giảm đi, chứ không phải do có sự chuyểndịch trong cơ cấu nghề nghiệp Trong hai thập kỷ, sau khi đổi mới cơ cấu kinh

tế và chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp, vẫn còn 3/4 số người nghèo đang sống

ở khu vực nông thôn Nghèo đói là một hiện tượng mang tính đặc thù củanông thôn Các tính toán về tỷ lệ nghèo theo nghề nghiệp và theo loại chủ laođộng cũng chỉ ra rằng, những người sống ở dưới ngưỡng nghèo thường làthành viên của những hộ có chủ hộ là nông dân tự do

Những nỗ lực để phân chia một cách bình đẳng quyền sử dụng đất chonông dân của Chính phủ Lào là mô hình theo tiêu chuẩn quốc tế Mặc dù sựkhác biệt trong các phần đất của các hộ là đồng bằng, trung du, độ dốc, điềukiện canh tác khác nhau để trồng lúa lâu dài, nhưng những khác biệt này lạiliên quan đến nghèo đói Theo Luật Đất đai của Lào năm 2003, đất đai khôngthuộc quyền sở hữu của các hộ, nhưng họ được quyền sử dụng đất trong thờigian từ 5 đến 10 năm, hoặc trong một thời gian dài, phụ thuộc vào sự thay đổicủa số dân trong hộ gia đình tăng hay giảm đi

Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói ở một số tỉnh miền Bắc và miền Nam Lào

(theo số liệu thống kê 2005) [12, tr.28]

nghèo

Hộ gia đình nghèo

Chiếm (%)

Miền Bắc

Trang 32

Cách thức xác định chuẩn nghèo ở Lào được các nhà tài trợ quốc tế nhưLiên Hợp quốc, Ngân hàng thế giới, kết hợp với Chính phủ Lào nghiên cứu.Cuối cùng, phương pháp xác định dựa trên thu nhập của hộ gia đình đã được

sử dụng Theo đó, các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu ngườidưới mức chuẩn xác định Mức này có sự khác biệt giữa thành thị, nông thôn

và miền núi (tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ dân số có thu nhập dướingưỡng nghèo) Xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho tiêu dùng baogồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủđảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho một người Ngoài ra, những người này cònthiếu quần áo, chăn, màn, không có nhà ở kiên cố, không có tiền đủ để chữabệnh, không có phương tiện đi lại Đó là căn cứ để đo chuẩn nghèo đói của hộnghèo, bản nghèo, huyện và tỉnh nghèo

Trang 33

Cách thức xác định hộ nghèo: Gia đình nghèo được coi là gia đình có

tổng thu nhập thấp hơn 85.000 Kíp người/tháng đối với hộ gia đình ở vùngnông thôn và 100.000 Kíp người/tháng gia đình đối với hộ gia đình ở thànhphố, thị trấn (theo thời giá năm 2001) Với số tiền ấy, người ta có khả năng đủmua 16kg cân gạo/người/tháng Tuy nhiên, số tiền còn lại không đủ mua sắmcác vật dụng thiết yếu phục vụ cho tiêu dùng, cuộc sống hàng ngày như chiphí cho con em đi học, chữa bệnh, quần áo, xây nhà ở Những hộ gia đìnhchưa đạt được các phần trên được coi là hộ chưa thoát nghèo

Cách thức xác định bản nghèo là: (1) Bản có hộ gia đình nghèo chiếm

51% trở lên trong tổng số hộ gia đình toàn bản; (2) Bản không có trường tiểuhọc hoặc có nhưng ở xa bản, trẻ em không có khả năng được đi học; (3) Bảnkhông có trạm xá, không có thầy thuốc, không có tủ thuốc chữa bệnh hoặcthời gian tới bệnh viện phải mất trên 6 tiếng đồng hồ; (4) Bản không có nướcsạch; (5) Bản không có đường xe ô tô vào tới bản; (6) Bản không có thủy lợi,hoặc có nhưng ở dạng thô sơ, không bền vững để cung cấp nước cho sản xuất;(7) Bản không có điện, không có thủy điện, không có máy phát điện, không

có máy phát điện bằng năng lượng mặt trời hay bằng sức gió, được coi là bảnchưa thoát nghèo

Cách thức xác định một huyện nghèo là: (1) Huyện có 51% số bản

nghèo trong huyện trở lên được xác định là bản nghèo; (2) Huyện không đủtrường học phục cho con em đồng bào trong bản chiếm 40% trở lên; (3)Huyện có số bản không có trạm xá hoặc nhà thuốc chiếm 40% trở lên; (4)Huyện có số dân không được dùng nước sạch chiếm 40% trở lên; (5) Huyện

có tới 60% số bản trở lên không có đường xe ô tô, đường xe ngựa, xe bò vàotới bản; (6) Huyện không có điện dùng chiếu sáng ở tất cả các bản tronghuyện; (7) Huyện cơ bản không được sử dụng mạng lưới điện thoại, được coi

là huyện chưa thoát khỏi nghèo

Trang 34

Cách thức xác định tỉnh nghèo: dựa trên cơ sở tổng kết nghèo đói của

huyện, so sánh phân tích tình trạng nghèo đói, thông qua kiểm tra các chuẩnnghèo hộ gia đình của Tổng cục Thống kê

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về vấn đề xóa đói giảm nghèo

Từ khi giành được độc lập năm 1975, Đảng và Nhà nước Lào đã cónhiều chính sách để xóa bỏ nghèo đói như: cải cách ruộng đất, xây dựng cáccông trình thủy lợi; miễn giảm thuế nông nghiệp Đây không phải là chínhsách nhất thời, có tính chất đối phó, mà là một chủ trương chiến lược, là mụctiêu hướng tới của cả hệ thống chính trị Đại hội VIII của Đảng NDCM Lào

đã khẳng định:

Khuyến khích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quảcác chính sách xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bìnhđẳng các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lênthoát nghèo vững chắc ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo Khắcphục tư tưởng bao cấp, ỷ lại [19, tr.23]

Có thể nói, chủ trương XĐGN của Đảng ngày càng thể hiện rõ quanđiểm XĐGN gắn với phát triển bền vững, gắn với phương châm tăng trưởngkinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước

đi, từng chính sách phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Lào vềXĐGN có thể rút ra các quan điểm cơ bản sau:

- Xóa đói, giảm nghèo phải được giải quyết trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, ngay trong từng giai đoạn của quá trình phát triển.

Trang 35

Các chính sách của Nhà nước khuyến khích làm giàu chính đáng, làmlành mạnh hóa xã hội, coi đó như là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế bền vững

Là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, nguồn lực của Nhà nước,của cộng đồng ở Lào còn rất hạn chế và bản thân người nghèo còn hết sứckhó khăn Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế ngày mộtphát triển bước đầu đã tạo công ăn việc làm, nguồn vốn và cơ hội vươn lên chongười nghèo Trong 20 năm đổi mới, nền kinh tế Lào có nhiều bước phát triểnvượt bậc Bình quân hàng năm, tốc độ tăng trưởng GDP là 6,2%; tổng thu nhậpquốc dân bình quân từ 200 USD năm 1985 lên 500 USD năm 2008 [19, tr.17].Nhờ kinh tế tăng trưởng, thu ngân sách tăng lên, nhà nước có điều kiện đầu tưhiệu quả hơn cho các chương trình xã hội và XĐGN

Như vậy, ở Lào, giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và XĐGN

có mối quan hệ biện chứng với nhau Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vậtchất, là nội lực để XĐGN; XĐGN là mục tiêu, động lực phát triển kinh tế xãhội, là tiền đề cơ bản đảm bảo cho sự ổn định chính trị - xã hội để phát triểnkinh tế Do đó, giải pháp cơ bản là phải làm cho chương trình XĐGN trởthành một bộ phận cơ bản cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước, gắn liền với tăng trưởng bền vững và hạn chế tác động của thiên tai

- XĐGN là vấn đề kinh tế xã hội sâu rộng, cho nên mọi lúc, mọi nơi đều phải thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù phải đối phó với thùtrong, giặc ngoài, Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đãtừng chủ trương phải chống "giặc dốt, giặc đói" Chủ trương này đã mang lạikết quả to lớn, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong giai đoạnhiện nay, Lào đang cố gắng thực hiện chủ trương nhất quán kết hợp giữa tăngtrưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội

Trang 36

Từ cách nhìn biện chứng, nghèo đói không chỉ là vấn đề kinh tế, màcòn là vấn đề xã hội Nghèo đói và mất ổn định xã hội thường có quan hệ chặtchẽ với nhau Hơn nữa nghèo đói còn có nguồn gốc từ các nhân tố xã hội: tậpquán, hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội, khả năng gắn bó của cộng đồng

Nguyên nhân dẫn tới nghèo đói mang tính tổng hợp Thậm chí, cónhững vùng nhiều rừng, nhiều đất nhưng phương thức canh tác lại lạc hậu làmcho đất xấu, dẫn tới đất không còn khả năng canh tác Tính tổng hợp củanguyên nhân nghèo đói buộc phải kết hợp giữa các chính sách kinh tế vớichính sách xã hội trong công cuộc XĐGN Sự kết hợp này phải được thể hiệntrong chiến lược, chính sách, các chương trình dự án và giải pháp

- Thực hiện chương trình XĐGN gắn với khuyến khích làm giàu chính đáng, thường xuyên củng cố thành quả XĐGN.

Đói nghèo vừa thể hiện thiếu thốn vật chất và mức độ hưởng thụ vănhóa tinh thần với hoàn cảnh, điều kiện rất đa dạng của từng hộ, từng vùng Do

đó, đòi hỏi các chủ trương, chính sách XĐGN phải sát hợp với thực tiễn mới

có tính thuyết phục, nhưng đồng thời phải vừa nâng cao tính sáng tạo của cánhân và cộng đồng Mục tiêu của các chính sách này là: "Giúp người nghèovươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu vươn lên giàu thêm" như cách nóicủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh

Như vậy, thực hiện chủ trương XĐGN không triệt tiêu động lực làmgiàu Ở vùng nghèo có người giàu càng cổ vũ, hỗ trợ người nghèo vươn lên.Làm giàu chính đáng bằng tài năng, học vấn, khoa học, sản xuất, kinh doanh,trên nền tảng đạo đức và pháp luật, từ đó mới có điều kiện giúp đỡ ngườinghèo, nhất là giải quyết việc làm, nâng cao đời sống Hơn nữa, thực tế ở Làorất nhiều gia đình giàu, nhất là ở nông thôn, rất tích cực thực hiện chươngtrình XĐGN Họ giúp người nghèo giải quyết việc làm, kinh nghiệm làm ăn,cách thức quản lý chi tiêu Theo nhiều nông dân nghèo ở các địa phương thì

Trang 37

chính cuộc sống ổn định, khá giả ngay trong thôn xóm là những người thực,việc thực thúc đẩy họ vươn lên XĐGN.

Trong cơ chế thị trường, dù muốn hay không, tình trạng có một bộphận dân cư giàu lên và một bộ phận dân cư khác vẫn còn nghèo đói, có vùnggiàu có và vùng nghèo đói vẫn diễn ra Vấn đề đặt ra là kiên trì chủ trươngXĐGN bằng các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp để số hộ nghèo đói ngàycàng giảm, số hộ giàu tăng lên

- XĐGN gắn với việc phát triển kinh tế một cách chủ động, tự lực vươn lên của người nghèo, với sự giúp đỡ của cộng đồng, của nhà nước và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Quan niệm này cho thấy, XĐGN phải bằng sức mạnh tổng hợp, sứcsáng tạo và nguồn lực của người nghèo, của cộng đồng, của nhà nước và củatoàn xã hội Trước hết, phải làm cho người nghèo, vùng nghèo không ỷ lại,thụ động, chờ đợi sự cứu giúp mà phải tự cứu mình, vươn lên bằng chính sứclao động của mình; khuyến khích họ khai thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên

và đổi mới cung cách làm ăn, trên cơ sở sự hỗ trợ của cộng đồng và nhà nước.Trên thực tế, ở Lào có nhiều vùng nghèo, hộ nghèo được chính phủ và cộngđồng trợ giúp rất nhiều, nhưng vẫn khó khăn trong việc thoát nghèo Điều này

có nguyên nhân quan trọng từ chính bản thân người nghèo Hoặc họ thiếu khảnăng làm ăn, hoặc họ thiếu nghị lực để bỏ những thói hư, tật xấu, tập tục lạchậu Vì thế, trong việc giúp đỡ người nghèo, Lào đã tổng kết được phươngchâm "Cho mượn cần câu, hơn cho xâu cá"

Chính phủ và chính quyền các cấp cần dành cho người nghèo, vùngnghèo nguồn lực về vốn, kỹ thuật và môi trường pháp lý, tâm lý xã hội, đồngthời, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế Quan tâm và giúp đỡ người nghèo,coi đó là trách nhiệm, tình cảm không chỉ đối với người nghèo, mà là sự pháttriển bền vững của đất nước Ngoài ra, chính phủ cũng đẩy mạnh hợp tác quốc

Trang 38

tế, tranh thủ khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực từ các nước, các tổchức quốc tế bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú để thực hiện công tácXĐGN.

1.2.3 Các chính sách cụ thể

Tiến hành xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tiếnhành đổi mới về cơ cấu kinh tế, hiện nay Đảng và Nhà nước Lào coi việc pháttriển nông thôn đi đôi với XĐGN là một chiến lược trọng tâm, là chủ trươngchính sách lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội để giải quyết tìnhtrạng đói nghèo của hơn một nửa số hộ gia đình trong cả nước hiện nay Đểđáp ứng được mục tiêu nhiệm vụ đó, Đảng và Nhà nước Lào đã thông quamột lọat các chính sách cụ thể:

- Nghị quyết số 20 ra ngày 26-9-2003 của Bộ Chính trị về việc xâydựng cụm bản, xây dựng thị trấn để tiến tới đô thị hóa nông thôn Theo nghịquyết này, các cán bộ chủ chốt từ trung ương đến tỉnh, huyện sẽ xuống cơ sởtrực tiếp lãnh đạo người dân tổ chức thực hiện 4 mục tiêu, 5 bước đi

+ 4 mục tiêu đó là:

Mục tiêu 1: Tuyên truyền giáo dục tư tưởng toàn dân, thu thập số liệu

thông tin, phân tích xem người dân các dân tộc am hiểu đường lối chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước như thế nào

Mục tiêu thứ 2: Bảo vệ an ninh quốc phòng, xây dựng và củng cố quân du

kích để có được lực lượng vững mạnh, có khả năng bảo vệ quê hương đất nước

Mục tiêu thứ 3: Xây dựng và phát triển kinh tế, tiến tới xóa đói nghèo,

khai thác những thế mạnh kinh tế của các địa phương; tổ chức cụm sản xuấthàng hóa

Mục tiêu thứ 4: Về văn hóa - xã hội, xây dựng trường, lớp; cung cấp

nước sạch, nhà vệ sinh, giáo dục cho người dân thói quen ăn chín, uống sôi vàgiữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

+ 5 bước đi là:

Trang 39

Bước 1, thu thập các thông tin;

Bước 2, tổ chức giáo dục đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Bước 3, phân tích thông tin và củng cố bộ máy chính quyền cơ sở; Bước 4, cử đi tập huấn;

Bước 5, kiểm tra và tổng kết.

- Nghị quyết số 7 của Bộ Chính trị ra ngày 20-9-1993 về việc phát triểnnguồn nhân lực ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Nghị quyết số 11của Bộ Chính trị ra ngày 12-7-2000 về việc tăng cường nguồn nhân lực cấp

cơ sở, xây dựng hệ thống trường đào tạo nghề cho con em nông dân, đặc biệt

là xây dựng trường tiểu học dân tộc nội trú, tạo điều kiện cho con em dân tộcvùng sâu, vùng xa được học hành Ngoài ra, nhà nước còn có các chính sách

ưu đãi cho tư nhân xây dựng trường dạy nghề, tạo điều kiện cho con em cácdân tộc được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật

- Nghị quyết số 1 của Bộ Chính trị ra ngày 11-3-2000 và Nghị quyết số

09 của Bộ Chính trị ra ngày 8-6-2004 về việc xây dựng tỉnh thành đơn vịchiến lược, huyện thành đơn vị kế hoạch ngân sách và bản thành đơn vị cơ sởthực hiện ngân sách nhà nước

- Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 25-6-2001 về việcmỗi gia đình tự lập kế hoạch phát triển kinh tế gia đình để XĐGN và Chỉ thị

số 4, ra ngày 12-4-2002 về việc định canh, định cư, cho phép nhân dân từvùng cao, không có điều kiện phát triển kinh tế xuống nhập cư ở vùng đồngbằng, có điều kiện phát triển tốt hơn

- Chỉ thị số 883 của Văn phòng Chính phủ ra ngày 10-6-2005, Chỉ thị

số 698 ra ngày 10-8-2001 về việc thành lập ngân hàng dành cho người nghèovay tiền với lãi suất thấp để hoạt động sản xuất hàng hóa (vốn tài trợ củaNgân hàng Phát triển châu Á)

- Quốc hội Lào đã thông qua Luật Đất đai ngày 13-10-2003 Đây làcông cụ thiết yếu để điều tiết và sử dụng đất đai có hiệu quả đối với toàn dân

Trang 40

Luật này quy định rằng, đất đai là sở hữu toàn dân và được giao cho tư nhân,gia đình, các tổ chức kinh tế sử dụng, đấu thầu Nhà nước khuyến khích mọi

tổ chức kinh tế - xã hội góp phần vào khai khẩn đất đai, khuyến khích đầu tưvào những lĩnh có lợi nhuân, hiệu quả kinh tế cao Nhà nước sẽ bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư theo pháp luật [36, tr.6]

Ngày 10-5-2007, tại Thủ đô Viêng Chăn đã có hội nghị bàn về chiếnlược giao đất, giao rừng cho nông dân, theo đó người dân có quyền sở hữu,canh tác trên đất nông nghiệp một cách lâu dài

(7) Luật Đầu tư trong nước số 10 được thông qua ngày 22-10-2004 Theoluật này, nhà nước phát huy và tạo điều kiện cho nhà đầu tư mang quốc tịch Làođầu tư trong nước Người đầu tư sẽ được hưởng quyền tự do hoạt động kinhdoanh trong những lĩnh vực mà pháp luật Lào không cấm, nhà nước đảm bảoquyền sở hữu tài sản, giúp làm thủ tục, tìm thị trường tiêu thụ hàng hóa [37, tr.4]

- Luật Lao động số 06/QH ra ngày 27-12-2006 Bộ luật này đã đề ranguyên tắc, quy chế về lao động, xây dựng và phát triển tay nghề và quan hệ laođộng, giải quyết một cách thoả đáng mối quan hệ giữa người lao động và người

sử dụng lao động; tạo công ăn việc làm cho lứa tuổi lao động ở Lào [38, tr.1]

- Luật Đầu tư nước ngoài số 11/QH ra ngày 22-10-2004 Luật này đã đề

ra những nguyên tắc, quy chế phát huy, bảo vệ quản lý sự đầu tư của nướcngoài vào Lào

Ngày 01-02/9/2005, tại Thủ đô Viêng Chăn đã diễn ra Hội nghị bàn vềchiến lược đầu tư đồng bộ cho sản xuất nông nghiệp bền vững ở nước Cộnghòa Dân chủ Nhân dân Lào Hội nghị giao cho chính quyền các cấp triển khaithành các kế hoạch, chương trình hành động cho phù hợp với điều kiện củatừng vùng Đặc biệt, đối với các dân tộc có điều kiện phát triển khó khăn phải

có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để bắt kịp với các dân tộc cótrình độ phát triển cao hơn Điều này đòi hỏi phải được thể hiện trong nhữngchính sách cụ thể đối với người dân miền núi, vùng dân tộc thiểu số, nhất làvới những dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Ngày đăng: 12/09/2023, 21:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số chi ngân sách nhà nước của tỉnh Hủa Phăn - Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh hủa phăn, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 2.2 Số chi ngân sách nhà nước của tỉnh Hủa Phăn (Trang 51)
Bảng 2.3: Trình độ giáo dục cấp cơ sở đến trình độ cao nhất - Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh hủa phăn, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 2.3 Trình độ giáo dục cấp cơ sở đến trình độ cao nhất (Trang 56)
Bảng 1.1 Tình hình nghèo đói ở một số tỉnh miền Bắc và miền - Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh hủa phăn, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay
Bảng 1.1 Tình hình nghèo đói ở một số tỉnh miền Bắc và miền (Trang 102)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w