Chiến tranh đã đi qua 30 năm nhưng những hậu quả mà nó để lại cho chúng ta thì rất nặng nề, đó là hơn 4 triệu nạn nhân chất dộc da cam, những nạn nhân gặp rất nhiều khó khăn : Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; Huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; Chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; Điều kiện giao thông chưa tiếp cận; Các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; Bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti. Những khó khăn mà những nạn nhân gặp phải bao gồm cả vấn đề vật chất mà còn cả tinh thần. Chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ những người như họ, hãy mở rộng tấm lòng để cùng chia sẻ với họ giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để họ có thêm nghị lực sống để vượt qua số phận và sống tốt đẹp hơn. Hơn bao giờ hết chúng ta hãy bắt tay ngay vào công việc giúp đỡ họ bằng các hình thức khác nhau có thể ủng hộ, cũng có thể làm những việc thực tế giúp đỡ họ. Có như vậy đất nước ta mới ngày càng ngày càng phát triển đúng như lời Bác Hồ đã nói “các vua hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Các nạn nhân chất độc da cam mơ ước như thế nào ? - “Em ước mơ có một chiếc xe lăn để có thể tự đi đến trường cho bố mẹ em . - “Em ước mơ được chạy đùa với các bạn trên đôi chân của mình”. - “Tôi ước mơ có được một nghề để có thể tự làm việc để nuôi sống bản thân và có một mái ấm hạnh phúc gia đình”. - “Ước gì gia đình tôi được vay vốn. Chúng tôi sẽ làm lụng cật lực để tiếp tục điều trị bệnh cho con tôi”. Đó là những điều rất đỗi bình dị mà mỗi con người sống trong cuộc đời này lẽ ra phải được hưởng. Nhưng với những nạn nhân chất độc da cam, họ phải chật vật lắm, phải nỗ lực lắm mới làm được điều đó. Không ít người trong số họ đã đi đến cuối cuộc đời, nhưng giấc mơ vẫn chưa thành.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU!
Chiến tranh đã đi qua 30 năm nhưng những hậu quả mà nó để lại cho chúng ta thì rất nặng nề, đó là hơn 4 triệu nạn nhân chất dộc da cam, những nạn nhân gặp rất nhiều khó khăn : Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; Huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; Chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; Điều kiện giao thông chưa tiếp cận; Các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; Bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong
xã hội do mặc cảm, tự ti
Những khó khăn mà những nạn nhân gặp phải bao gồm cả vấn đề vật chất mà còn cả tinh thần Chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ những người như họ, hãy mở rộng tấm lòng để cùng chia sẻ với họ giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để
họ có thêm nghị lực sống để vượt qua số phận và sống tốt đẹp hơn Hơn bao giờ hết chúng ta hãy bắt tay ngay vào công việc giúp đỡ họ bằng các hình thức khác nhau có thể ủng hộ, cũng có thể làm những việc thực tế giúp đỡ họ Có như vậy đất nước ta mới ngày càng ngày càng phát triển đúng như lời Bác Hồ đã nói “các vua hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Các nạn nhân chất độc da cam mơ ước như thế nào ?
- “Em ước mơ có một chiếc xe lăn để có thể tự đi đến trường cho bố mẹ
em - “Em ước mơ được chạy đùa với các bạn trên đôi chân của mình” - “Tôi ước mơ
có được một nghề để có thể tự làm việc để nuôi sống bản thân và có một mái ấm hạnh phúc gia đình” - “Ước gì gia đình tôi được vay vốn Chúng tôi sẽ làm lụng cật lực để tiếp tục điều trị bệnh cho con tôi”
Đó là những điều rất đỗi bình dị mà mỗi con người sống trong cuộc đời này lẽ ra phải được hưởng Nhưng với những nạn nhân chất độc da cam, họ phải chật vật lắm, phải nỗ lực lắm mới làm được điều đó Không ít người trong số họ đã đi đến cuối cuộc đời, nhưng giấc mơ vẫn chưa thành
Vì vậy em đã chọn vấn đề “Chăm sóc, hỗ trợ việc làm cho nạn nhân chất độc
da cam của quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam ở nước ta” thực trạng dạy nghề
và tạo việc làm cho nạn nhân chất độc da cam - đó là một trong những ước mơ của các nạn nhân Tạo việc làm cho người khuyết tật là cách tốt nhất để giúp đỡ họ hòa nhập
Trang 2cộng đồng, tạo điều kiện để họ cống hiến, lao động nuôi sống bản thân và hướng tới làm giàu cho gia đình và xã.
Chuyên đề em làm bao gồm:
Phần I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Phần II Chính sách chăm sóc,hỗ trợ việc làm cho nạn nhân chất độc da cam
Các mô hình hoạt động hiệu quả
Chuyên đề về người khuyết tật là một vấn đề rất khó khăn trong việc giải quyết giúp đỡ nạn nhân, do đó bài của em không thể tránh khỏi những sai sót, em mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của cô
PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1 Khái niệm về người khuyết tật và một vài khái niệm có liên quan.
Theo Liên hợp quốc: người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có
khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một
cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt trong những khả năng
về thể chất hay tâm thần của họ (Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9/12/1975)
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): người tàn tật là người mà triển vọng
tìm giữ được một việc làm thích hợp, cũng như triển vọng tiến bộ về mặt nghề nghiệp, điều bị giảm sút một cách rõ rệt, sau khi bị một trở ngại về thê chất hoặc tinh thần và trở ngại đó đã được công nhận đúng mức.( Công ước số 159 về phục hồi chức năng nghề nghiệp và việc làm cho người tàn tật)
Khái niệm người khuyết tật: Người tàn tật không phân biệt nguyên nhân tàn
tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể mà chức năng thể lực hay trí lực không bỡnh thường, biểu hiện dưới các dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn (Pháp lệnh
về người tàn tật )
“Chất độc da cam” là gì? “Chất độc da cam” hay “tác nhân da cam” là thuật
ngữ dịch từ tiếng Anh “Agent Orange”, là tên gọi thông thường của một loại thuốc diệt
cỏ do cỏc cụng ty hoỏ chất Mỹ sản xuất Từ “da cam” là màu của những sọc kẻ trờn ký hiệu in bờn ngoài cỏc thựng được dùng để tàng trữ và vận chuyển loại hoá chất độc này Quân đội Mỹ cũn dựng màu sắc để chỉ các chất độc khác được dùng trong Chiến
Trang 3tranh Việt Nam như "chất xanh" (“Agent Blue”) để chỉ độc tố Cacodylic acid, "chất trắng" (“Agent White”) để chỉ hỗn hợp với tỷ lệ 4/1 của chất độc 2,4-D và chất Picloram) v.v Khi nhận được đơn đặt hàng của quân đội Mỹ, các công ty hóa chất của nước này đó tăng hàm lượng độc tố trong “chất da cam” diệt cỏ và biến nó thành loại thuốc tác dụng mạnh hơn để làm rụng lá cây và được quân đội Mỹ sử dụng trong những năm 1961-1971 ở miền Nam Việt Nam với mục đích phát quang rừng rậm nhằm tàn phá nơi che dấu lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam
Khái niệm nạn nhân chất độc da cam Nạn nhân chất độc da cam là những nạn
nhân bị nhiễm chất độc từ cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ để lại, dẫn đến tình trạng cỏc nạn nhân bị dị tật hoặc bất thường bẩm sinh từ cỏc thế hệ sau
Khái niệm việc làm Việt Nam khái niệm việc làm được nêu trong Bộ luật lao
động năm 1994 “mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.”
Như vậy từ khái niệm trên, nội dung của việc làm đó được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người
2 Đặc điểm tâm lý và sinh lý của người khuyết tật.
Do cú sự thiều hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người tàn tật có thể sẽ bị suy giảm; ở người tàn tật có cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác
Họ thường có tâm lý bi quan, chỏn nản, tự ti, mặc cảm, tủi phận, cho mỡnh là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, người thân, ngại giao tiếp với mọi người
Họ là người rất giàu nghị lực vượt qua khó khăn, tật nguyền để đạt thành tích trong lao động, học tập nếu được hỗ trợ tích cực của gia đình và xã hội
Mặt khác họ là người có đời sống nội tâm rất nhạy cảm, tế nhị, dễ cảm thông với những khó khăn của người khác hơn so với người bình thường
Họ có nhu cầu được giao lưu, được tôn trọng, được chấp nhận như những người bình thường khác và được đáp ứng các phương tiện, tiện nghi sinh hoạt phù hợp; Nhu cầu được học văn hoá, học nghề phù hợp với dạng tật, tình trạng sức khoẻ; nhu cầu được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng (thẩm mỹ, tâm lý, sinh lý, xã hội)
3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về người khuyết tật.
3.1 Công ước LHQ về quyền của người khuyết tật
Trang 4Ngày 13 Tháng 12 năm 2006, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật,) đã có khoảng 200 quốc gia tham gia ký kết Việt Nam là thành viên đến nay (thời điểm của bài báo là năm 2008 thứ 118 tham gia ký Công ước vào tháng 10/2007 Ngày 30/7/2009, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, đại diện Chính phủ Mỹ cũng đã ký công ước này Đây là công ước quốc tế về nhân quyền đầu tiên mà Mỹ đã ký trong gần một thập kỷ qua.
3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với người khuyết tật nói chung và nạn nhân chất độc da cam nói riêng.
Chế độ ưu đãi đối với người tàn tật nói chung và nạn nhân chất độc da cam nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm từ rất lâu Trước kia nước ta đã có nhiều văn bản quy định chính sách đối với người tàn tật, nạn nhân chất độc da cam được thể hiện trong Hiến pháp, Bộ luật lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình và được thể hiện tập trung trong pháp lệnh về người tàn tật và hàng loạt các Nghị định của Chính phủ, Thông tư các Bộ đều được quy định và hướng dẫn cụ thể chính sách chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy nghề đối với những đối tượng là người khuyết tật nói chung, đồng thời ngày càng bổ sung những điều khoản đối với những hành vi làm ảnh hưởng đến người tàn tật nói chung Ngày 30/7/1998 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua pháp lệnh về người tàn tật nói chung quy định về mức trợ cấp, về học văn hoá, học nghề cho người tàn tật
Nhân “Ngày vì nạn nhân chất độc da cam/điôxin Việt Nam” (10/8), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi thư thăm hỏi tất cả các nạn nhân chất độc da cam/điôxin trên
cả nước trong đó khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn cảm thông
và dành cho những nạn nhân chất độc da cam/điôxin sự quan tâm đặc biệt
Trong 3 thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực trợ giúp những nạn nhân của chiến tranh hóa học Nhà nước ta đã thành lập ủy ban 10-80 điều tra về những hậu quả của chiến tranh hóa học và Ban chỉ đạo 33 khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh đó Tháng 2-2000, Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ các nạn nhân và con cháu của
họ Hàng trăm nghìn nạn nhân đã được khám, chữa bệnh, phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, cấp phương tiện hành nghề, có việc làm
Công tác trợ giúp những đối tượng là người tàn tật, đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ, có hiệu quả của cộng đồng, sự phối hợp các ngành, các cấp, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đối với những đối tượng là người tàn
Trang 5tật là nạn nhân chất độc da cam.Nước ta đã quy định đầy đủ việc giúp đỡ những nạn nhân là người tàn tật như thế nào, bao gồm:
Khám, chữa bệnh, chỉnh hình và phục hồi chức năng, nghỉ an dưỡng
Học nghề và tạo điều kiện việc làm
Cung cấp phương tiện thiết yếu cho những người bị tàn tật
Cho đến nay, văn bản pháp luật đầy đủ và có hiệu lực rộng rãi về vấn đề người khuyết tật duy nhất là pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về Người tàn tật (06/1988/PL-UBTVQH10, ngày 30 tháng 07 năm 1998) Pháp lệnh cũng đã đề cập đến nhiều chính sách dành riêng cho người khuyết tật có liên quan đến y tế, giáo dục, học nghề, việc làm, hoạt động thể dục thể thao, vv
Năm 1992, Chính phủ Việt Nam đã ký vào tuyên bố chung về quyền tham gia đầy đủ và bình đẳng của người tàn tật khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh đối với người khuyết tật
*Hạn chế:
Nhìn chung, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tâm cho lĩnh vực người khuyết tật trong những năm qua Tuy vậy, các văn bản thể hiện chính sách của Nhà nước về lĩnh vực người khuyết tật còn ít và cho đến nay, nhiều văn bản đã cũ và không còn phù hợp với tình hình hiện tại Ví dụ như, Pháp lệnh về Người tàn tật cũng đã ra đời cách đây hơn mười năm, nhiều vấn đề dành được nhiều quan tâm liên quan đến lĩnh vưc người khuyết tật như việc làm, giáo dục, tiếp cận, vv hiện nay không còn phù hợp ở nhiều điểm
PHẦN II CHÍNH SÁCH, HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM.
I.Thực trạng người khuyết tật trên thế giới.
Thống kê trên thế giới có khoảng 10% người khuyết tật tương đương với 650 triệu người (khảo sát năm 2007) Sau đây là bảng thống kê chi tiết số người khuyết tật:
Quốc gia Tỉ lệ dân số khuyết tật Năm thống kê
Trang 6và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới.
II Thực trạng người khuyết tật tại Việt Nam.
Theo báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, ước tính cả nước có khoảng 5,4 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số cả nước, trong đó độ tuổi từ 16-55 chiếm 60%, nhóm trên 55 tuổi chiếm khoảng 24% và dưới 16 tuổi chiếm khoảng 16%.Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra (1994 – 1995, 1998) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng; ý kiến của cộng đồng; các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây:
Các dạng tật chủ yếu và các nguyên nhân:
Các dạng tật:
Dạng
tật
Vận động
Thị giác Thính giác Ngôn ngữ Trí tuệ Thần kinh
Các bảng trên đây cho thấy người tàn tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70% và thần kinh chiếm 13,93
Trang 7Theo thống kê của Viện Mắt Trung ương, nước ta hiện có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có khoảng hơn 600.000 thuộc đối tượng mù chiếm 1,2% dân số cả nước Nguyên nhân gây mù ở Việt Nam qua điều tra:
Nguyên nhân mù Điều tra 2000-2002 (8 vùng sinh thái)
Tỷ lệ mù 2 mắt (ở người > 50 tuổi) 4,76%
Tỷ lệ mù 2 mắt (toàn dân) 0,63% (ước tính)
Theo kết quả của điều tra trên, tỷ lệ mù 2 mắt do mọi nguyên nhân ở người từ 50 tuổi trở lên qua điều tra ở miền Bắc là 4,34%, thấp hơn có ý nghĩa so với ở miền Nam
là 5,17%, trong đó tỷ lệ mù 2 mắt do đục thể thuỷ tinh trong suốt thời gian 2 thập kỷ qua vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù ở nước ta, chiếm tới 71,3%, sau đó đến các bệnh bán phần sau nhãn cầu ( dịch kính, võng mạc, thị thần kinh, màng bồ đào) chiếm 11,5% Glocom là nguyên nhân gây mù thứ 3, chiếm tới 5,7%
Như vậy, ước tính theo tỷ lệ mù ở dân số, thì hiện nay cả nước ta có ít nhất 482,700 người bị mù 2 mắt và 891,000 người mù 1 mắt Trong số đó có khoảng 344,000 người mù 2 mắt (chiếm 71,3%) và 504,500 người bị mù 1 mắt (chiếm 56,6%)
do đục thể thuỷ tinh cần được mổ
Trang 8Tỷ lệ người khuyết tật chung cả nước là 15,3% Vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất
là Đông Nam Bộ, thấp nhất là Tây Bắc Tỷ lệ người khuyết tật khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (17,8% so với 14,4%)
Tỷ lệ người khuyết tật nữ cao hơn nam (16,58% so với 13,69%) lý do được đưa
ra là nhóm dân số nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nhóm dân số cao tuổi là nam giới
Nguyên nhân của các dạng tật:
Nguyên nhân dẫn tới tàn tật là do: bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07% Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của nữ Tỉ lệ người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số nguời tàn tật
*Hoàn cảnh sống.
Báo cáo của Tiến sĩ Ôn Tuấn Bảo, Giám đốc văn phòng điều phối các hoạt động
hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam, về tổng quan tình hình người tàn tật Việt Nam và sự
hỗ trợ của chính phủ cho biết:
Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỉ lệ: 95,85% Số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31% Tỉ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 – 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%) Người tàn tật sống lang thang là 0,62%
Thứ tự Nguyên nhân Tỉ lệ % so với người tàn tật
Trang 9*Việc làm của người tàn tật.
Cả nước có 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau Tỉ lệ người tàn tật thất nghiệp là 30,43% Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77%
Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất
*Trình độ văn hóa và chuyên môn:
Một bộ phận không nhỏ người tàn tật chưa biết chữ với tỉ lệ 35,58% chung cho toàn quốc Riêng khu vực nông thôn là 36,9%
Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp I chiếm tỉ lệ 25,36% Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp II chiếm tỉ lệ 21,46% và cấp III là 5,64% (đặc biệt người tàn tật ở khu vực đô thị có trình độ cấp III có tỉ lệ khá cao: 15,98%; so với khu vực nông thôn là 4,31%)
Phần lớn người tàn tật không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 97,64% Chỉ
có một bộ phận nhỏ người tàn tật được đào tạo (công nhân kỹ thuật: 1,22%; trung học chuyên nghiệp: 90,53%; cao đẳng và đại học 0,61%)
Hiện nay, cả nước có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18 Mục tiêu của Việt Nam là sẽ đưa 50% trẻ em khuyết tật tới trường vào năm 2005 và 70% vào năm 2010 so với mức hiện nay là 20 – 30%
* Nguyên nhân gây ra các dạng khuyết tật.
Bẩm sinh; Tai nạn; Lão hóa khi tuổi cao; Ảnh hưởng chiến tranh
*Nguyện vọng của người tàn tật:
Theo kết quả điều tra, trong tổng số người tàn tật được hỏi ý kiến thì:
48,5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm
23,9% có nguyện vọng phục hồi chức năng;
13,56% có nhu cầu được bố trí việc làm;
9,98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội
Trang 10III Chăm sóc, hỗ trợ việc làm cho nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam 1.Thực trạng nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam.
Số nạn nhân chất độc da cam ở nước ta hiện nay đã là hơn 4 triệu nạn nhân và tốc
độ số nạn nhân chất độc da cam tiếp tục da tăng ngày càng nhanh (tăng gần 2- 3 lần) chiếm 1/8 dân số nước ta
Hơn thế nữa trong tổng số 4 triệu nạn nhân thì có tới 300.000 trẻ em đang bị nhiễm trong số đó lại có 200.000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh Con số này cho thấy nhu cầu học nghề và tạo điều kiện việc làm cho nạn nhân ngày càng trẻ hoá, trong đó:
Bị dị tật không còn khả năng lao động cần được phẫu thuật chỉnh hình chiếm 52%.;Số nạn nhân là trẻ em bị dị tật chiếm 10%;Số nạn nhân có nhu cầu học nghề và kiếm việc làm chiếm 28%; Số nạn nhân phải bảo trợ thường xuyên chiếm 10%;Với con số như vậy Quỹ đã có nhiều biện pháp giải quyết việc làm để giúp các nạn nhân hoà nhập cộng đồng
2 Thực trạng dạy nghề và tạo việc làm cho nạn nhân chất độc da cam.
Tổng số tiền huy động được để giúp đỡ nạn nhân
Năm Số tiền huy động được
Năm 2005 tăng 260,58% so với năm 2003 (cụ thể là tăng 31,634 tỷ đồng) Còn số
hộ gia đình nạn nhân được hỗ trợ năm 2005 tăng 1,8 lần so với năm 2003
Năm 2006 tăng 112,11% so với năm 2005 Còn số gia đình nạn nhân được hỗ trợ tăng 1,01 lần so với năm 2005
Trang 11Năm 2007 tăng 238,8% so với năm 2006 Còn số hộ gia đình nạn nhân được hỗ trợ tăng 1,37 lần.
Với tổng số tiền huy động được Quỹ đã hỗ trợ cho các nạn nhân học nghề và tạo việc làm, còn lại đầu tư vào các hoạt động cung cấp các dụng cụ, vào việc chữa trị cho các nạn nhân
Với tổng số tiền huy động được, Quỹ đã hỗ trợ cho nạn nhân về các mặt sau:
Trong các đợt hoạt động trên, Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã giúp đỡ hơn 660.000 cải thiện đời sống sức khỏe, vật chất và tinh thần, dạy nghề cho hơn 4.115 trong đó:86.775 hộ gia đình được cấp vốn cho chăn nuôi như: cung cấp con giống trâu,
bò , lợn, gà cung cấp hỗ trợ cho vay vốn với lãi xuất thấp; sản xuất: như làm mây, tre, đan, làm may, ; buôn bán nhỏ như: buôn bán cám ở các vùng nông thôn thì rất thuận lợi vì người dân ở đây chăn nuôi lợn gà nhiều,buôn bán làm tạp hóa, làm dịch vụ từ đó các nạn nhân sẽ có thêm thu nhập tự tạo công việc mới cho mình góp phần hòa nhập cộng đồng tố hơn
175.730 người được khám chữa bệnh Phần lớn các nạn nhân có rất nhiều bệnh, bệnh suy dinh dưỡng, khối nang u do dị chứng để lại Nên trong đợt này các nạn nhân được khám để ngăn chặn những bệnh mới và chữa những bệnh cũ mà chưa khỏi hẳn4.844 nạn nhân được phẫu thuật chỉnh hình và phục hồi chức năng cho các nạn nhân bị khuyết tật
9.540 nạn nhân được cấp xe lăn, xe lắc cho các nạn nhân khuyết tật vận động.Xây dựng 2.772 nhà tình nghĩa cho nạn nhân Trong quá trình xây dựng nhà tình nghĩa thì Quỹ áp dụng mô hình huy động nguồn lực tại cộng đồng bằng cách khi dựng nhà thì mỗi họ hàng làng xóm có gì góp thứ đó người thì góp tre, người thì góp ngói như vậy thì nguồn vốn xây dựng sẽ được giảm xuống góp phần đóng góp thêm nhiều nhà tình nghĩa cho nạn nhân
Cấp học bổng cho 7.594 học sinh, sinh viên là nạn nhân chất độc da cam Làm như vậy sẽ khuyến khích những học sinh là nạn nhân phấn đấu học tập và tạo đà đóng góp vào sự phát triển của đất nước; Bảo trợ thường xuyên cho 152.347 nạn nhân
Dạy nghề cho hơn 4.115 nạn nhân Đáp ứng nhu cầu nguyện vọng cho những nạn nhân có nhu cầu học nghề tìm kiếm việc làm từ đó giúp các nạn nhân tự nuôi bản thân mình, tránh được mặc cảm tự ti và xây dựng gia đình riêng cho mình như bao người dân khác
Trang 12Các hỗ trợ khác cho 223.349 nạn nhân: xây giếng, làm hệ thống nước, cung cấp dụng cụ trợ giúp Hình thức hỗ trợ này là giúp cho những nhu cầu thiết yếu cho các nạn nhân, giúp các nạn nhân đi lại sinh hoạt cho thuận lợi hơn.
Ngoài ra còn hàng trăm nghìn nạn nhân được tặng quà, thăm hỏi trong các dịp lễ, tết Đây là những món quà có ý nghiã tinh thần rất lớn giúp cho những đối tượng yếu thế được sưởi ấm tấm lòng
3 Phân tích thực trạng học nghề và tạo việc làm cho nạn nhân chất độc da cam.
Vấn đề giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội,mỗi cá nhân và của mọi tổ chức xã hội.Trong những năm gần đây, Quỹ đã tận dụng khai thác và phát huy mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để giải quyết việc làm cho nạn nhân
Kết quả của dạy nghề và tạo việc làm cho nạn nhân từ năm 2004 tới nay của Quỹ
Trang 13Năm 2004 tổng số nạn nhân có việc làm ổn định chiếm 99,2%, việc làm tạm thời chiếm 0,8% Còn năm 2006 tổng số nạn nhân có việc làm ổn định chiếm 99,37%, việc làm tạm thời chiếm 0,63% Đến năm 2008 số nạn nhân có việc làm ổn định chiếm 99,02% , việc làm ổn tạm thời chiếm 0,8% Nhìn chung tổng số nạn nhân được học nghề và tạo việc làm ngày càng tăng, sau đó số nạn nhân tự lực và tự tạo được công việc ổn định nhìn chung chiếm hơn 99% Đó là một thành công lớn của Quỹ
Về vấn đề dạy nghề và tạo việc làm.Quỹ đã tổ chức dạy nghề cho 4.115 nạn
nhân.Trong thời gian đầu của dự án, các cán bộ bàn bạc, hướng dẫn những người hưởng lợi lựa chọn ngành nghề thích hợp cho mình, tùy theo điều kiện sức khỏe, lứa tuổi mà lựa chọn ngành nghề cho phù hợp với hoàn cảnh tường đối tượng.Ví dụ như các nạn nhân chất độc da cam nếu là nữ thì có thể dạy các nghề như: may mặc, đan len, thêu, mây tre đan Còn nều nạn nhân là nam giới thì có thể tư vấn và dạy nghề như: sửa xe, thủ công mỹ nghệ, máy khâu Trong thực tế thì ngoài dự án của Quỹ các nạn nhân còn được sự trợ giúp rất lớn từ cộng đồng, những người xung quanh nạn nhân có thể hỗ trợ cho vấn đề học nghề của nạn nhân như có thể hỗ trợ vồn cho nạn nhân mua dụng cụ để làm việc, không thì lại hỗ trợ các nạn nhân bằng cách cho nạn nhân đồ dùng sửa xe, nều nạn nhân là người học nghề sửa xe, giúp nạn nhân về máy khâu nếu nạn nhân là người học máy khâu.Cũng có thể huy động những nhóm tự giúp,
để các nạn nhân học tập kinh nghiệm những thế hệ đi trước trong cùng hoàn cảnh thì
dễ đồng cảm hơn Khi kết thúc lớp học nghề thì tùy từng điều kiện mà các nạn nhân lựa chọn làm luôn lại trung tâm học nghề hoặc là tự mình mở làm riêng Đối với những trung tâm nhận dạy nghề và tạo điều kiện việc làm cho nạn nhân thì sẽ được nhà nước và Quỹ hỗ trợ kinh phí và có những ưu tiên khác nhau Đó là điều kiện rất thuận lợi để các nạn nhân chất độc da cam tự lực hòa nhập cộng đồng
Về việc tạo việc làm cho nạn nhân bằng cách hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình:
Đã có 86.775 hộ gia đình được cấp vốn cho chăn nuôi, sản xuất, buôn bán nhỏ, làm dịch vụ
Bắt đầu dự án nên tư vấn hỗ trợ chọn đúng hình thức phát triển kinh tế hộ gia đình, phù hợp với điều kiện của họ
Nguyên tắc tiếp theo là không hỗ trợ tiền mà giúp họ con giống: bò, lợn, trâu, dê,
gà, vịt, cá, trăn ; các phương tiện hành nghề : máy khâu, dụng cụ sửa xe, máy ép mía,
xe đẩy hàng, tủ đựng hàng
Trang 14Sau khi đã hỗ trợ như vậy thì tiếp đó hưỡng dẫn từng hộ gia đình cách phát triển, phòng bệnh của gia súc gia cầm.Trong thực tế thì các dự án của Quỹ còn phát huy tác dụng hơn nhiều :ví dụ mô hình nhóm tự giúp chăn nuôi Khi mà được Hội và Quỹ hỗ trợ nuôi bò thì các hộ đều được hỗ trợ đó đã cùng giúp nhau chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi, trồng cỏ, hỗ trợ thức ăn, thì 8-12 hộ gia đình hình thành một nhóm và quay vòng
đi chăm sóc bò, như vậy mỗi hộ gia đình 8-12 ngày mới phải đi chăm sóc bò một lần, hình thức này cũng thu hút cả những người dân ở xung quanh không phải là nạn nhân tham gia ngày càng đông đảo vì nó có lợi cho người dân rất nhiều Đây là minh chứng điển hình cho ở tỉnh Gia Lai
Tiếp theo nữa là Quỹ đưa các nhân tham gia chủ động vào các dự án chứ không nhận sự trợ giúp một cách bị động cũng mang lại hiệu quả thiết thực Để lựa chọn hình thức lựa chọn phù hợp với mình Hội chữ thập đỏ đã bàn với các nạn nhân Nguyên tắc
là hình thức hỗ trợ phải phù hợp với từng hoàn cảnh nạn nhân Với nguyên tắc này trong một dự án hỗ trợ phát triển kinh tế có thể có tới hàng chục lọa hình hỗ trợ khác nhau:nuôi lơn, nuôi bò, nuôi dê, nuôi trăn trồng ngô, trồng điều, buôn bán tạp hóa, làm bún, sửa chữa điện tử, sửa chữa xe máy, cấp thuyền, cấp vó tép Sau một thời gian dự án kết thúc thì cả bộ mặt của làng Sa Thày thay đổi.Do vậy Hội chữ thập đỏ đã thực hiện theo đúng phương trâm có sự tham gia tích cực của nạn nhân
Bằng những việc làm trên Quỹ và Hội đã tạo được việc làm cho gần 1 triệu nạn nhân chất độc da cam có việc làm trên cả nước, góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo đói Để tăng thêm những cơ hội có việc làm cho các nạn nhân thì vấn đề dạy nghề và tạo việc làm cho họ càng được quan tâm hơn nữa Dạy nghề phải chú trọng đến việc làm và chú trọng đến những điểm sau
Nghề mà xã hội đang có nhu cầu phổ biến;Quá trình đào tạo phù hợp với đối tượng;Chi phí đào tạo không quá lớn;Khả năng tự lực để làm việc sau đào tạo tốt
Như vậy tạo việc làm cho lao động nói chung cho nạn nhân chất độc da cam nói riêng đã đạt được nhiều kết quả Kết quả tạo việc làm qua các năm đều có sự khác nhau, tăng hay giảm đều do việc thực hiện các giải pháp, các chương trình, dự án có tốt không?.Trong quá trình giải quyết việc làm, bên cạnh những thuận lợi thì còn có những khó khăn đòi hỏi sớm có hiệu quả khắc phục
4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy nghề và tạo việc làm cho nạn nhân.
4.1 Những thuận lợi: