Ở Việt Nam, trẻ em chiếm 36% dõn số và cỏc em được hưởng rất nhiều lợi ớch từ sự phỏt triển kinh tế của đất nước. Đó hơn 20 năm khi chỳng ta thực hiện cụng cuộc đổi mới, đời sống của nhõn dõn núi chung và của trẻ em đó được nõng lờn. Các dịch vụ xã hội, vui chơi giải trí, điều kiện tiếp xúc với các nguồn thông tin … ngày càng trở nên đa dạng hơn. Mặc dù vậy, do mặt trái của nền kinh tế mở cửa, do tác động của mối quan hệ xã hội phức tạp, quan hệ gia đình lỏng lẻo, các giá trị truyền thống xuống cấp nên tình trạng bạo hành trẻ em tại các thành phố, thị xã, thị trấn …trong thời gian qua có xu hướng gia tăng cả về vụ việc và mức độ nghiêm trọng.
Trang 1Lời nói đầu
Ở Việt Nam, trẻ em chiếm 36% dõn số và cỏc em được hưởng rấtnhiều lợi ớch từ sự phỏt triển kinh tế của đất nước Đó hơn 20 năm khichỳng ta thực hiện cụng cuộc đổi mới, đời sống của nhõn dõn núi chung
và của trẻ em đó được nõng lờn Các dịch vụ xã hội, vui chơi giải trí, điềukiện tiếp xúc với các nguồn thông tin … ngày càng trở nên đa dạng hơn ngày càng trở nên đa dạng hơn.Mặc dù vậy, do mặt trái của nền kinh tế mở cửa, do tác động của mốiquan hệ xã hội phức tạp, quan hệ gia đình lỏng lẻo, các giá trị truyền
thống xuống cấp nên tình trạng bạo hành trẻ em tại các thành phố, thị xã,
thị trấn … ngày càng trở nên đa dạng hơn.trong thời gian qua có xu hớng gia tăng cả về vụ việc và mức độnghiêm trọng
Thật là đau xút khi chỳng ta nhỡn thấy, nghe thấy hay chứng kiến
thấy những cảnh : Bạo hành trẻ mầm non tại Thành Phố Biờn Hoà (Đồng Nai) ; hay bạo hành và búc lột sức lao động một bộ gỏi hơn 13 năm tại Thanh Xuõn (Hà Nội)… Đú như một hồi chuụng cảnh tỉnh nhõn
tõm những con người đang dần bị tha hoỏ, bị biến dạng hay đang dần bị
lu mờ, bị thui chột đi bởi vũng xoỏy của Xó hội
Tại sao cho đến tận bõy giờ, chỳng ta mới biết đến những số phậnnhỏ bộ như thế? Bao năm nay, cỏc em đó phải gỏnh chịu những nỗi đau,những sự tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần mà khụng gỡ cú thể bựđắp được Liệu cỏc em cú thể phỏt triển và hoà nhập xó hội một cỏch bỡnhthường khụng nếu những tổn thương ấy cứ mói đeo đẳng và hành hạ cỏc
em ???
Để hướng đến mục tiờu chung là bảo vệ và chăm súc trẻ em núichung và trẻ em bị bạo hành núi riờng, chỳng ta cần phải cú những kế
Trang 2hoạch, việc làm thật thiết thực và cụ thể để giúp đỡ các em thoát khỏi khókhăn và vươn lên phát triển và hoà nhập xã hội Đó cũng là những nộidung chính mà em sắp trình bày sau đây về Chuyên đề : “Trẻ em với vấnnạn Bạo hành và bóc lột sức lao động, thực trạng và giải pháp”
Đây là chuyên đề đầu tiên của em viết về đề tài trẻ em, do vậykhông tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm Em rất kính mong được sựủng hộ và chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, các cô trong Khoa Công Tác
Xã Hội để bài Chuyên đề của em có thể hoàn thiện một cách đầy đủ vàtốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Cao Minh Huệ - Lớp C9CT1
Trang 31 Một vài khỏi niệm c ơ bản :
1.1 Khái niệm trẻ em:
1.1.1 Khái niệm trẻ em theo pháp luật quốc tế:
Công ớc quốc tế và quyền trẻ em quy định "Trẻ em có nghĩa là
ng-ời dới 18 tuổi"
Theo quy tắc của Liên hợp quốc tế về bảo vệ ngời cha thành niênthì nêu rõ : Những ngời cha thành niên là ngời dới 18 tuổi
Nh vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế thì trẻ em và ngời chathành niên đều đợc hiểu là ngời dới 18 tuổi Điều này có sự khác biệt sovới quy định của nớc Việt Nam
1.1.2 Khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm của con ngời Việt Nam, luậtcủa quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 25/2004/QN 11ngày 15 tháng 6 năm 2004 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy
định "trẻ em là những công dân Việt Nam dới 16 tuổi "
Còn đối với ngời cha thành niên, pháp luật Việt Nam quy định có
sự thống nhất về độ tuổi với pháp luật quốc tế Bộ luật dân sự nêu rõ "ngờicha đủ 18 tuổi là ngời cha thành niên "
Nh vậy ở Việt Nam trẻ em và ngời cha thành niên đợc hiểu khácnhau, theo đó thì trẻ em bao gồm những ngời cha thành niên dới 16 tuổi
1.2 Khỏi niệm trẻ em cú hoàn cảnh dặc biệt :
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ( TECHCĐB) là trẻ em có hoàn cảnhkhông bình thờng về thể chất hoặc tinh thần, không só đủ diều kiện đểthực hiện các quyền cơ bản để hoào nhập với gia đình và cộng đồng( điều
3 luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2004)
TECHCĐB là trẻ em dới 16 tuổi do nhiều lý do khác nhau mà rơIvào hoàn cảnh sau:
Trang 4+ Rơi vào hoàn cảnh éo le, gặp khó khăn khác thờng so với các emkhác.
+ Bị mồ côi( do cha mẹ chết hoặc bị bỏ rơi) hoặc không biết cha
mẹ mình là ai
+ Bị tàn tật (khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần do bẩm sinh,
do bệnh tật tai nạn hoặc nhiễm chất độc các chất độc do cha, mẹ nhiễmchất độc truyền lại
+ Không có ngời nuôi dởng hoặc thân thích
+ Phải đi lang thang kiếm ăn trên trên đờng phố hoặc do gia đình bịbạo hành phải rời nhà đi lang thang
+ Phải lao động làm thuê trong điều kiện nặng nhọc độc hại, nguyhiểm hoặc những công việc hạ thất nhân phẩm , danh dự ảnh hởng đến sựphát triển về thể chất và tinh thần của trẻ
+ Bị xâm hại tình dục, bị hiếp dâm, lôi kéo vào công việc bán dâm,
tụ tập cờ bạc, đua xe, trộm cắp gây rối trật tự công cộng
Trong giai đoạn phát triển của đất nớc ta hiện nay những nhóm trẻ
em sau đây là những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đang cần sựquan tâm chăm sóc của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội
- Trẻ mồ côi không nơi nơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ là nạn nhân của chất độc hoá học
- Trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS
- Trẻ em phảI kàm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất
độc hại, trẻ em phảI làm việc xã gia đình
- Trẻ em lang thang
- Trẻ em bị xâm hại tình dục
- Trẻ em nghiện ma tuý
- Trẻ em vi phạm pháp luật
1.3 Khỏi niệm trẻ em bị bạo hành và búc lột sức lao đ ộng :
- Trẻ em bị bạo hành là trẻ em dưới 16 tuổi cú hoàn cảnh đặc biệt,khụng bỡnh thường về thể chất hoặc tinh thần do bị đỏnh đập, hành hạ,
Trang 5nhục mạ… không đủ điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản và hoànhập với cộng đồng.
- Trẻ em bị bóc lột sức lao động là trẻ em dưới 16 tuổi có hoàncảnh đặc biệt, phải lao động sớm, lao động nặng nhọc, hay tiếp xúc vớichất độc hại Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển cả về thể chấtlẫn tinh thần của các em, khiến các em không đủ điều kiện thực hiện cácquyền cơ bản và khó khăn trong việc hoà nhập cộng đồng Lao động trẻ
em hiện nay có xu hướng ngày càng gia tăng, các em thường làm thuêtrong các cơ sở dịch vụ, sản xuất – kinh doanh nhỏ, doanh nghiệp tưnhân, khai khoáng, làm thuê cho các gia đình Theo điều 9 NĐ số36/2005 – CP ngày 17/3/2005, trẻ em làm những công việc sau mang tínhđộc hại, nặng nhọc, nguy hiểm :
+ Cha/ Mẹ, người giám hộ/ người nuôi dưỡng trẻ bắt trẻ em làmcông việc gia đình quá sức, quá thời gian gây ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển của trẻ em
+ Sử dụng trẻ em làm những công việc vũ trường, cơ sở xoa bóp,vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng karaoke, quán rượu, quán bia hoặcnhững nơi có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển nhân cách trẻ em
+ Sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh doanh văn hoá phẩm, sảnphẩm hoặc đồ chơi, trò chơi kích động bạo lực, đồi truỵ nguy hiểm có hạicho sự phát triển của trẻ em
+ Sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của phápluật lao động, hoặc làm công việc qúa sức, quá thời gian, không trả cônghoặc trả công không tương xứng
Lao động trẻ em được hiểu là trẻ em phải tham gia hoạt động kinh tế trước 15 tuổi, làm những công việc nặng nhọc độc hại hoặc phải làm việc quá sức, quá thời gian quy định mà những hoạt động đó gây ảnh hưởng tới việc phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của trẻ
Trang 6Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt với trẻ em lao động giúp đỡ gia đình (tham gia vào các công việc phụ giúp cha mẹ, gia đình phát triển sản xuất, tăng thu nhập, phù hợp với sức lực và lứa tuổi, không gây cản trở việc học tập và vui chơi…) hoặc trẻ em tham gia các công việc hoặc làm những nghề mà luật pháp cho phép
- Các em sống hầu như chỉ biết đến hiện tại, không nghĩ đến tươnglai Khi gặp khó khăn, các em nghĩ sẽ chịu đựng, nhẫn nhục… khôngbiết, hoặc không giám chống trả
- Các em ít nói, luôn ưu tư và có xu hướng xa lánh người khác
- Không sôi nổi, mà thường im lặng nhìn, lắng nghe nhiều hơn lànói chuyện, chia sẻ
- Luôn sợ sệt, lo lắng, hoảng loạn… Dễ dẫn đến căng thẳng vàhoảng loạn tâm lý
- Dễ bị rủ rê, lôi kéo làm những việc trái pháp luật, hay những hànhđộng sai trái khác
3.Nguyên nhân và hậu quả của Bạo hành và bóc lột sức lao
đ ộng trẻ em:
* Hiện nay, tình trạng trẻ em bị bạo hành và lao động nặng nhọc,
nguy hiểm tiếp xúc với chất độc hại, … là hiện tượng không chỉ sảy ra ở
Trang 7các nước nghèo, các nước đang phát triển mà còn xuất hiện ở những nướcphát triển Nguyên nhân của tình trạng này có thể kể ra như sau :
- Do hoàn cảnh gia đình, và sự khó khăn về kinh tế, khiến cho các
em phải rời gia đình đi làm thuê sớm, không làm gánh nặng cho cha mẹ
và anh em
- Do thiên tai, hạn hán, nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật… mà giađình các em không đủ điều kiện nuôi các em, phải cho các em ra xã hộikiếm ăn sớm
- Do tình trạng ly hôn, lối sống buông thả, sống gấp mà nhiều trẻ
em phải chịu cảnh sinh ngoài y muốn, rồi bị đẩy ra ngoài trở thành khôngnơi nương tựa
- Do sự chệnh lệch mức sống, sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội,khiến cho người nghèo phải đi làm thuê cho kẻ giàu, chịu cực khổ, trong
- Do sự tha hoá, thui chột về đạo đức, lối sống, trách nhiệm củanhững người đang nuôi dạy trẻ em Họ không nghĩ đến hậu quả của điềunày và có những hành động bạo hành mạnh tay và dã man, hay cả nhữnglời lăng nhục, nhục mạ với các em trong tất cả công việc : cho ăn, họctập, lao động… trong nhà trường và cả trong nơi làm việc
- Do tiếng nói của chính quyền còn quá yếu, không đủ sức răn đenhững đối tượng bạo hành và lạm dụng sức lao động của các em
* Hậu quả để lại cho trẻ em khi bị bạo hành và bóc lột sức laođộng là rất nặng nề
Trang 8- Các em phải chịu những tổn thương cả về thể xác lẫn tinh thầnkhi bị đánh đập, hành hạ, lăng nhục…khiến các em mặc cảm, tự ti khi rangoài và hoà nhập xã hội.
- Những vết thương trên cơ thể khiến các em bị giảm sút sức khoẻtrầm trọng, bị đau ốm thường xuyên
- Những chấn thương tâm lý khiến các em không phát triển mộtcách bình thường, có thể bị ngớ ngẩn, câm, hay la hét, khóc trong mơ…
- Tâm lý tự vệ cao, không cởi mở và hoà nhập vớic các bạn kháccùng chung lứa tuổi
- Các em không được đi học đầy đủ, hoặc không được đi học, ítđược tiếp xúc với văn hoá, thông tin bên ngoài, không được vui chơi giảitrí như các bạn cùng lứa
- Những hiểu biết về quyền lợi của chính mình thì các em cũngkhông được biết, phải chịu bị hành hạ và bóc lột trong thời gian dài,không có lối thoát
B CƠ SỞ THỰC TIỄN
I MỘT SỐ CHÍNH SACH C Ơ BẢN CỦA NHÀ N Ư ỚC VỀBẢO VỆ, CH Ă M SÓC TRẺ EM BỊ BẠO HÀNH VÀ BÓC LỘTSỨC LAO Đ ỘNG
Sau 5 nǎm thực hiện Luật Bảo vệ, chǎm sóc và giáo dục trẻ em, công tác bảo vệ, chǎm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khǎn đã có tiến bộ cả về nhận thức và tổ chức thực hiện Tuy vậy, số lượng trẻ em bị bạo hành, bị lạm dụng sức lao động gia tǎng
Trang 9đang là vấn đề xã hội bức xúc hiện nay Đây là những đối tượng có nguy
cơ cao bị xâm hại bởi các tệ nạn xã hội Sự gia tǎng này một phần là do các nguyên nhân kinh tế - xã hội : tình trạng thiếu việc làm, thất học, sự tǎng khoảng cách giầu nghèo, sự xuống cấp về đạo đức trong một số gia đình ; mặt khác cũng do sự phối hợp và tập trung giải quyết của các ngành, các cấp có liên quan chưa đúng mức, đồng bộ và có hiệu quả.
* Để thực hiện tốt hơn Luật Bảo vệ, chǎm sóc và giáo dục trẻ em,
Nghị quyết kỳ họp thứ 10 ngày 25 tháng 11 nǎm 1996 của Quốc hội khóa
IX, Nghị quyết số 05/CP ngày 11 tháng 01 nǎm 1997 của Chính phủ,Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em và hưởng ứng tuyên bốcủa các Hội nghị Quốc tế ở Stockhom, Oslo nhằm thực hiện mục tiêungǎn ngừa, giải quyết có hiệu quả và giảm nhanh số lượng trẻ em langthang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động vào nǎm 2000, Thủ tướng Chínhphủ chỉ thị :
1 - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội soạn thảo và trình Chínhphủ trong quí I nǎm 1999 Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của
Bộ Luật Lao động về lao động chưa thành niên; chủ trì, phối hợp với ủyban Bảo vệ và chǎm sóc trẻ em Việt Nam và các cơ quan liên quan xâydựng đề án ngǎn ngừa và giải quyết tình trạng , trẻ em bị lạm dụng sứclao động và trình Thủ tướng Chính phủ trong quí III nǎm 1998; tǎngcường công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành và xử lý các hành vi viphạm pháp luật Lao động liên quan đến lao động chưa thành niên
2 - Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính vàcác cơ quan liên quan nghiên cứu điều chỉnh chế độ học phí, xây dựngchính sách khuyến học thích hợp đối với học sinh nghèo, đối với vùngsâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và những vùng có khó khǎn và trình Thủ
Trang 10tướng Chính phủ trong quí III nǎm 1998; mở rộng hình thức giáo dụcthích hợp nhằm thu hút hầu hết trẻ em trong độ tuổi được đến lớp và đượcphổ cập tiểu học.
3 - Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiệntốt công tác chǎm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở vùng sâu,vùng xa, miền núi, hải đảo, biên giới, vùng có khó khǎn
4 - Bộ Vǎn hóa-Thông tin chủ trì, phối hợp với ủy ban Thể dục Thểthao, ủy ban Bảo vệ và chǎm sóc trẻ em Việt Nam và các cơ quan liênquan nghiên cứu, xây dựng chính sách và tổ chức nâng cao đời sống vǎnhóa và tinh thần, thể chất lành mạnh cho trẻ em; xây dựng đề án về các cơ
sở tập luyện, bồi dưỡng nǎng khiếu, vui chơi cho trẻ em ở cộng đồng, ưutiên đầu tư cho các vùng khó khǎn và trình Thủ tướng Chính phủ trongquí III nǎm 1998
5 - Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương tǎng cường công tác quản lý hộ khẩu ở xã,phường, đặc biệt chú ý quản lý, kiểm tra những tổ chức và cá nhân có sửdụng lao động trẻ em để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạmpháp luật; bổ sung mục tiêu và biện pháp phòng ngừa, ngǎn chặn trẻ emlàm trái pháp luật vào chương trình phòng chống tội phạm
6 - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các
cơ quan liên quan có kế hoạch cân đối ngân sách cho công tác ngǎn ngừa
và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức laođộng
7 - ủy ban Bảo vệ và chǎm sóc trẻ em Việt Nam chủ trì, phối hợpvới Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan nghiên
Trang 11cứu, xây dựng chính sách bảo vệ và giúp đỡ trẻ em lang thang, trẻ em bịlạm dụng sức lao động báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào cuối nǎm 1998;tǎng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát việc thực hiện cácchính sách này; chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xãhội, Bộ Nội vụ, Bộ Vǎn hóa-Thông tin và các cơ quan liên quan, đoàn thểnhân dân, tổ chức xã hội xây dựng kế hoạch, tổ chức thí điểm các môhình hoạt động và tǎng cường vận động các nguồn lực trong và ngoàinước, các tổ chức nhân đạo, từ thiện góp phần hỗ trợ công tác ngǎn ngừa
và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức laođộng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quí II nǎm 1998; hoàn thiệnChương trình hành động bảo vệ đặc biệt trẻ em và trình Thủ tướng Chínhphủ trong tháng 3 nǎm 1998; phối hợp với Trung ương Mặt trận Tổ quốcViệt Nam xây dựng kế hoạch, tổ chức vận động các thành viên của Mặttrận tham gia thực hiện chủ trương của Đảng : toàn dân chǎm sóc, bảo vệtrẻ em, phấn đấu hạn chế trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức laođộng thông qua phong trào ''Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ởkhu dân cư''; phối hợp với Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổchức nghiên cứu và phổ biến kiến thức về gia đình và vai trò, vị trí củacác thành viên trong gia đình, trong cộng đồng
8 - Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam chủ trì,phối hợp với ủy ban Bảo vệ và chǎm sóc trẻ em Việt Nam, Bộ Vǎn hóa-Thông tin, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáodục và Đào tạo tham gia hướng dẫn các Đài địa phương, các cơ quanthông tin đại chúng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức
về pháp luật, về chính sách liên quan đến công tác bảo vệ, chǎm sóc, giáodục trẻ em, về quyền và bổn phận của trẻ em, về trách nhiệm của các cấp,các ngành, gia đình và cộng đồng, về phương pháp giáo dục con trong gia
Trang 12đình, về các gương người tốt việc tốt trong công tác ngǎn ngừa và giảiquyết tình trạng trẻ em lang lang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động.
9 - ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam chủ trì, phốihợp với Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các đoàn thể nhândân và tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền, giáo dụcthực hiện pháp luật đến từng gia đình, từng người dân nhằm nâng cao ýthức trách nhiệm của mỗi người trong việc quản lý, giáo dục các thànhviên trong gia đình, trong cộng đồng, đặc biệt là trẻ em gái, với nhữngngười chưa thành niên, tránh cho họ phải bỏ nhà đi lang thang hoặc phảilàm thuê sớm Công tác này cần phải làm thường xuyên, liên tục nhằmtạo ra phong trào toàn dân bảo vệ, chǎm sóc, giáo dục trẻ em
10 - Vấn đề ngǎn ngừa, giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ
em bị lạm dụng sức lao động phải là một trong các mục tiêu của chươngtrình kinh tế-xã hội của địa phương được thể hiện một cách cụ thể thôngqua các chương trình xóa đói giảm nghèo, giúp nhau làm kinh tế gia đình,Ngân hàng phục vụ người nghèo, tạo điều kiện giúp các gia đình khókhǎn thóat khỏi đói, nghèo ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức nǎng nắm vững tình hình trẻ
em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động để có kế hoạch, biệnpháp giải quyết đồng bộ, hiệu quả; tham gia chỉ đạo tổ chức thực hiện tốtcác cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khudân cư'' và "Người lớn gương mẫu, trẻ em chǎm ngoan"; phối hợp vớiTrung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để duy trì và phát triển các
tổ hòa giải ở thôn, bản, ấp, tổ dân cư vận động hạn chế tình trạng ly hôn,giúp hàn gắn hạnh phúc gia đình
Trang 13* Điều 110, Bộ luật Hình sự về tội hành hạ người khác có quy
định, người nào đối xử tàn ác với đối tượng là trẻ em lệ thuộc mình thì bịphạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ từ một năm đến ba năm
- Điều 17, Nghị định 114/2006/NĐ - CP có quy định phạt tiền từ500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với trường hợp bắt trẻ em đi xin
ăn, cho thuê, cho mượn trẻ em hoặc sử dụng trẻ em để xin ăn
- Khoản 2 của điều này cũng quy định phạt tiền từ hai triệu đồngđến năm triệu đồng đối với hành vi đánh đập hoặc bạo lực xâm phạmthân thể trẻ em, làm cho đau đớn về thể xác và tinh thần
II THỰC TRẠNG TRẺ EM BỊ BẠO HÀNH VÀ BÓC LỘTSỨC LAO Đ ỘNG TẠI VIỆT NAM
1 Tình trạng trẻ em bị bạo hành và bóc lột sức lao đ ộng trên Thế giới :
Theo bài Báo Cáo của Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)tường trình chi tiết về Những Cuộc Lạm Dụng Thì có rất nhiều con sốđáng báo động về trẻ em
- Bản báo cáo ước đoán rằng có khoảng hơn 350 triệu trẻ em, tuổi
từ 5 đến 17, đã phải làm việc Những trẻ em đủ tuổi lao động trong số này phần lớn phải làm việc dưới các tiêu chuẩn căn bản quốc tế, và có khoảng 60 triệu trẻ em đang phải làm việc trong tình trạng vô cùng nguy hại vì các em chính là những nạn nhân của việc bóc lột sức lao động tệ hại nhất UNICEF còn tính toán thêm rằng có khoảng 211 triệu trẻ em đang làm việc có độ tuổi dưới 15, và hơn phân nữa phải làm những công
Trang 14việc bần cùng và tệ hại nhất của xã hội Nếu tổng cộng các con số trên,
thì có khoảng hơn 180 triệu trẻ em đang bị bóc lột sức lao động
- Ở Ấn Độ ước tính có khoảng 13 triệu trẻ em đang phải làm việc
và nhiều em trong số đó thậm chí còn phải lao động trong những ngành nghề nguy hiểm, như sản xuất gương kính Tuy nhiên, Tổ chức theo dõi nhân quyền cho biết con số này còn cao hơn thế và 20% kinh tế của Ấn
Độ là phụ thuộc vào những đứa trẻ dưới 14 tuổi
- Vấn nạn này đặc biệt xảy ra tại Châu Phi, là nơi có đến 41% trẻ
em có độ tuổi từ 5 đến 14 tuổi đã phải bị bắt buộc làm việc so với 21% tại Á Châu và 17% tại các nước Mỹ Châu La Tinh và vùng Caribê Tuy nhiên, vì có dân số đông hơn cả, Á Châu là nơi có rất đông các trẻ em phải làm việc, chiếm khoảng 60% trong tổng số dân của cả thế giới
2.Thực trạng bạo hành và bóc lột sức lao đ ộng tại Việt Nam :
Liên tiếp những vụ ngược đãi trẻ em gần đây xuất hiện trên mặt báo khiến vấn đề trở nên nóng bỏng, gây bất bình dư luận Một điều không thể phủ nhận là, những đứa trẻ bị bạo hành chịu ảnh hưởng rất lớn về tinh thần và thể chất.
• Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế có thể chia thành bốn nhómchính là làm thuê, tham gia làm kinh tế gia đình, vừa làm thuê vừa làmkinh tế gia đình và tự kiếm sống Tỷ lệ trẻ em tự kiếm sống có xu hướngtăng trong giai đoạn 1992 - 1999 nhưng giảm đáng kể ở giai đoạn 2000 -
2004 Ngược lại tỷ lệ trẻ em làm kinh tế gia đình giảm nhanh trong giaiđoạn 1992 - 1999 nhưng lại tăng lên trong giai đoạn 2000 - 2004 Tỷ lệtrẻ em làm thuê ở độ tuổi 6 - 10 giảm mạnh trong giai đoạn 2000 - 2004nhưng có xu hướng tăng ở các nhóm tuổi 11 - 14 và 15 - 17