SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THỰC TRẠNG KẾT HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG RÈN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ Ở TRƯỜNG MẦM NON 8/3 THÀNH PHỐ LẠNG S
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
THỰC TRẠNG KẾT HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG RÈN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ
Ở TRƯỜNG MẦM NON 8/3 THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC GIÁO DỤC HỌC MẦM NON
Giảng viên hướng dẫn: ThS.Tạ Thị Thu Hằng Sinh viên: Liễu Thị Hồng Thu
Lớp: K18MN Khoa: Đào tạo Giáo viên Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Lạng Sơn, tháng 11 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục đích nghiên cứu ……… 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu ……… 3
5 Phạm vi nghiên cứu ….……… … 3
6 Các phương pháp nghiên cứu ……… 3
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận ……… … 3
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn ……… 4
6.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học ……… … 4
NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1 Một số khái niệm cơ bản ……… … 5
1.1 Kỹ năng tự phục vụ ……… … 5
1.2 Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non ……… …… 5
1.3 Nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non ……… 5
2 Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo bé ……… 6
3 Vai trò của việc kết hợp nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non ……… 8
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu ……… 11
2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non 12
2.3 Thực trạng mức độ thường xuyên phối hợp giáo dục dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ……… 13
2.4 Thực trạng nội dung kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn … 15 2.5 Thực trạng kỹ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo bé Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn ……… 17
Trang 32.6 Nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác phối hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn ……….………… 19 2.7 Biện pháp kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn ……… 24
Trang 4em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn
và được đánh giá toàn diện Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu ích của tương lai, thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng một nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt;
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới, con người Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Việc chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mục tiêu Giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách Hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng cần thiết của lứa tuổi này khơi dậy và phát triển tối đa khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo Muốn đạt được những mục tiêu giáo dục đó người làm nhiệm vụ cần chú trọng đến vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ;
Tuy nhiên ở lứa tuổi này nếu như không biết uốn nắn trẻ không đến nơi thì
sẽ gây khó khăn cho các bậc học sau này Chính vì vậy người lớn chúng ta cần phải rèn luyện cho trẻ những thói quen tốt ngay từ nhỏ Như ông bà nói “Dạy trẻ
từ thủa còn thơ” Thật vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều bậc phụ huynh có ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái chính vì vậy trẻ thường hay ỷ lại và không tự lo cho bản thân Trẻ em ngày nay đã thông minh hơn, hoạt bát, lém lỉnh hơn nhiều so với trẻ ngày xưa Tuy nhiên các con lại rất thiếu kĩ năng sống, thiếu khả năng tự lập thường hay dựa dẫm vào người lớn Khi gặp khó khăn chúng tìm ngay đến người lớn mà không tìm cách giải quyết Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tình cảm của trẻ;
Trang 52
Hiện nay đối với gia đình, chủ yếu là cha mẹ còn có nhiều sai lầm về giáo
dục nói chung và giáo dục tính tự lập cho trẻ nói riêng Thứ nhất là nuông chiều
con quá mức dẫn đến việc chỉ biết hưởng thụ sau này trở thành người có tính ích
kỉ, vụng về, thiếu tự tin trong cuộc sống Thứ hai là không tin vào khả năng của
trẻ, trẻ muốn làm nhưng thấy trẻ làm lóng ngóng, chậm chạp thì tỏ ra khó chịu, nên người lớn thường sốt ruột và làm thay trẻ dẫn đến trẻ có thái độ bướng bỉnh dần dần tạo ra sự ỷ lại dần dần mất tự tin ở trẻ;
Về mặt lý luận và thực tế cho thấy nếu trẻ biết tự phục vụ, trẻ thấy quý trọng bản thân nuôi dưỡng những giá trị sống và hình thành kĩ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên bốn lĩnh vực nền tảng: Thể trạng, tâm hồn, trí tuệ, tinh thần từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ hòa nhập với môi trường xung quanh.Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ em rất cần
sự phối hợp của nhiều lực lượng (gia đình, nhà trường, xã hội) Với tư cách là giáo viên mầm non tương lai, hiện đang được học tập và nghiên cứu về đặc điểm tâm, sinh lý trẻ em, quá trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và thực tế quan sát, chứng kiến sự bất cập trong cách nuôi, dạy trẻ ở gia đình và nhà trường … Do đó,
chúng tôi chọn đề tài: Thực trạng kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở Trường Mầm non 8/3 Thành phố Lạng Sơn
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng kỹ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo bé ở trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn Từ đó đề xuất biện pháp kết hợp nhà trường - gia đình để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu nội dung chương trình và phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non và những vấn đề lý luận có liên quan đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ;
3.2 Tìm hiểu thực trạng kỹ năng tự phục vụ, hoạt động giáo dục kỹ năng
tự phục vụ của trẻ mẫu giáo bé lớp 3A1 - Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn;
Trang 63
3.3 Đề xuất biện pháp kết hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé lớp 3A1
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp kết hợp gia đình - nhà trường trong
giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé;
4.2 Khách thể nghiên cứu: Kỹ năng tự phục vụ bản thân và hoạt động giáo
dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé lớp 3A1 - Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn;
Cụ thể chúng tôi tiến hành nghiên cứu 27 trẻ mẫu giáo bé lớp 3A1 - Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn
5 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian, trình độ và khả năng có hạn tôi chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp kết hợp giữa nhà trường và gia đình để giáo dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ mẫu giáo bé lớp 3A1 - Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn
6 Các phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm các phương pháp
như: Nghiên cứu giáo trình, tài liệu nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn Phương pháp đọc sách: Chúng tôi đã đọc các tài liệu có liên quan tới vấn đề
kỹ năng tự phục vụ, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non, việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục trẻ;
Việc nghiên cứu và đọc những tài liệu giúp chúng tôi giải quyết nhiệm vụ
1 của đề tài (làm sáng tỏ một số vấn đề giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non)
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra;
Phương pháp quan sát các biểu hiện, hành vi; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động thông qua hoạt động hàng ngày; Phương pháp trò chuyện với cô,
trẻ, phụ huynh
Trang 74
6.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học: Xử lý thông tin bằng phương pháp thống kê toán học
Trang 85
NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Kỹ năng tự phục vụ
Kỹ năng tự phục vụ được hiểu là kỹ năng tự chăm sóc bản thân và làm quen với những sinh hoạt thường ngày trong ứng xử và trong giao tiếp của trẻ đối với mọi người xung quanh
1.2 Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non
Bản chất của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non là dạy trẻ mầm non biết cách thực hiện những việc cần thiết tự phục vụ cho bản thân để thích nghi với cuộc sống Trẻ biết biết tự xúc ăn, tự ngồi bô, tự mặc, cởi bớt áo, xúc miệng, rửa tay
1.3 Nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non
Gia đình và nhà trường (cô giáo) cần rèn luyện cho trẻ những thói quen, kỹ năng tự phục vụ như:
- Trẻ tự rửa mặt, rửa tay: trước khi ăn, sau khi đi đại tiện, chải đầu, đánh răng;
Trang 96
- Có ý thức giữ vệ sinh nơi công cộng, tôn trọng người khác như: không khạc nhổ bậy, không vứt rác ra lớp học, nơi công cộng, biết sử dụng nước sạch …;
- Trẻ tự mặc quần áo, biết đòi hỏi người lớn phải cho mình ăn mặc gọn gàng sạch sẽ;
- Biết lấy, cất gối;
- Biết giữ, cất, đồ dùng đồ chơi gọn gàng sạch sẽ Biết giúp cô lau bàn ghế, rửa đồ chơi, xếp lại giá đồ chơi gọn gàng ngăn nắp;
- Khi ra nắng biết đội mũ nón và biết mặc áo mưa khi trời mưa;
- Biết dùng tay - khăn che miệng khi hắt hơi, ho, ngáp, gỉ mũi …
2 Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo bé
Trẻ mẫu giáo có độ tuổi trải từ 3 đến 6 tuổi (bé, nhỡ, lớn), khoảng thời gian không dài so với cuộc đời con người nhưng lại có tốc độ phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển nhân cách trẻ sau này;
Trẻ có sự phát triển vận động, sự phát triển hiểu biết về cơ thể bản thân, sự phân hóa thuận nghịch phải - trái, cấu trúc hóa không gian, cấu trúc hóa thời gian, viết vẽ ;
Về vận động, trẻ đã có khả năng vận động hài hòa, di chuyển nhanh nhẹn,
đi vững và có khả năng cân bằng tốt Sự phối hợp tay, chân đã phát triển nhịp nhàng, khéo léo.VD: Trẻ tự mặc quần áo, chải răng, tự bê ghế
Trang 107
- Đặc trưng chủ yếu trong động tác, cử chỉ của trẻ đầu tuổi mẫu giáo là tính
tự phát và tính tự nhiên Tính tự nhiên của vận động thể hiện: những động tác, cử chỉ, điệu bộ của trẻ được thể hiện một cách tự nhiên,thoải mái Tính tự phát của vận động thể hiện trong các hoạt động khám phá môi trường của trẻ: Tháo, lắp ghép
Về sự hiểu biết về cơ thể bản thân được thể hiện bằng việc trẻ nhận ra mình trong gương, khám phá, nhận biết cơ thể của bản thân Cụ thể:
- Từ 3 tuổi trở đi, chức năng nội tâm hóa, trí tưởng tượng phát triển, làm cho sự hiểu biết về cơ thể của trẻ có những thay đổi Sự hợp nhất giữa hình ảnh
cơ thể mà trẻ nhìn thấy qua soi gương với các cảm giác, xúc giác, vận động giúp trẻ hiểu rõ hơn và làm phong phú thêm hình ảnh mà trẻ nhìn thấy về
cơ thể bản thân
Sự hiểu biết về cơ thể bản thân chính là ý thức về cơ thể, về khả năng vận động và hành động của cơ thể đó Hiểu biết về cơ thể bản thân là 1 yếu tố cơ bản, cần thiết cho sự hình thành nhân cách, trẻ nhận ra mình, người khác dựa theo chính con người trẻ Càng hiểu rõ về cơ thể bản thân, trẻ càng dễ dàng nhận ra, chấp nhận, chịu trách nhiệm về mình và ngược lại
Giai đoạn này, não trẻ đã gần nặng bằng não người lớn (1200g ở tuổi thứ 3) Tư thế đứng thẳng Và những bước đi đã vững chãi hơn Trẻ tiếp thu mạnh mẽ những thao tác với công cụ – đối tượng Tri thức thực tiễn dần được hình thành trong não trẻ Hành động của trẻ với các đối tượng được coi là thành tựu rõ rệt
Trang 118
đầu tiên trong lứa tuổi này Thông qua những hành động với các đối tượng xung quanh mình mà trẻ dần hình thành được những nhận thức cơ bản về chúng Trí nhớ vận động của trẻ rất phát triển, đặc biệt là những thao tác với đồ vật Trẻ hướng tới những đồ vật do con người tạo ra để tìm hiểu.Trẻ khám phá chúng theo hướng đây là cái gì? Có thể làm gì với cái này? Làm thế nào?… Nhờ đó trẻ thiết lập được mối tương quan giữa các đồ vật với nhau Cha mẹ nên đồng hành cùng trẻ trong quá trình khám phá thế giới xung quanh Tránh tình trạng áp đặt, độc đoán theo chủ quan người của lớn.Tính cách trẻ đang trên bước đường hình thành
Do đó, cách ứng xử của người lớn góp phần quan trọng trong việc định hình tính cách trẻ
3 Vai trò của việc kết hợp nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non
Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất và năng lực nhằm giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện là một quá trình lâu dài liên tục, diễn
ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, giáo dục trẻ luôn đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ, đúng cách của nhà trường, gia đình và mọi người trong xã hội;
Thực tế môi trường xã hội trẻ sống bên cạnh các tác động tốt, các ảnh hưởng tiêu cực luôn tồn tại, chứa các yếu tố có thể gây nguy hại đến sự phát triển nhân cách của trẻ Với đặc điểm hiếu động và ít vốn sống, trẻ dễ bắt chước theo, dần dần trở thành thói quen xấu, tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của trẻ Khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất các tác động giáo dục giữa nhà trường, gia đình thì hậu quả xấu trong giáo dục dễ xuất hiện, hậu quả tai hại
* Đặc điểm của nhà trường trong công tác giáo dục
- Là những người được đào tạo chuyên biệt về công tác giáo dục trong các trường sư phạm do nhà nước quản lý (các thầy cô giáo);
- Việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ được tiến hành theo một quy trình chặt
chẽ khoa học, bằng PHƯƠNG PHÁP NHÀ TRƯỜNG (Mục đích, Nội dung,
Phương pháp, Hình thức, Nội quy, Quy chế theo kiểu nhà trường) với hiệu quả cao;
Trang 129
- Tuy nhiên có một số điều kiện nhà trường cũng không thể bằng gia đình
và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như: Điều kiện về thời gian, điều kiện về vật chất và tinh thần …
* Đặc điểm của gia đình trong công tác giáo dục
Giáo dục gia đình là một phần vô cùng quan trọng đối với sự hình thành nhân cách trẻ Cha mẹ trẻ là người thầy đầu tiên của con cái họ, là những người xây dựng nền tảng của nhân cách đứa trẻ Quan hệ trong gia đình là quan hệ tình thương Cha mẹ trẻ là người gần gũi nhất, hiểu rõ nhất những đặc điểm tâm lý của trẻ Nhân cách của cha mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của trẻ Gia đình là trường học đầu tiên của lòng nhân ái;
Tuy nhiên trong công tác giáo dục trẻ, cha mẹ trẻ có trình độ văn hoá, trình
độ giáo dục không đồng đều, sự yêu thương và chiều chuộng con cái không đúng mức sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành nhân cách của các em
* Đặc điểm của các tổ chức xã hội trong công tác giáo dục
- Có điều kiện về cơ sở vật chất, về tiềm lực kinh tế, về điều kiện tinh thần
có thể hỗ trợ cho nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục khác nhau;
- Là nơi trẻ có thể thâm nhập thực tế, gắn liền giữa học với hành kết hợp giữa giáo dục với lao động sản xuất;
- Tuy nhiên điều kiện gần gũi và hiểu biết trẻ của các tổ chức xã hội còn hạn chế, trình độ về giáo dục của các tổ chức xã hội đối với thế hệ trẻ cũng rất khác nhau Vì thế cần sự tư vấn về giáo dục từ phía nhà trường
Mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội
* Nếu giáo dục trẻ chỉ trong nhà trường mà thiếu giáo dục trong gia đình
Trang 1310
- Bỏ lỡ cơ hội để các bậc cha mẹ, các lực lượng xã hội có điều kiện thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc nuôi dạy con cái và đào tạo thế hệ trẻ, góp phần thực hiện xã hội hoá giáo dục;
Vì vậy “Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
Ngược lại giáo dục trong gia đình, giáo dục ngoài xã hội mà thiếu giáo dục của nhà trường thì việc tổ chức quá trình giáo dục sẽ gặp khó khăn không chỉ về mặt truyền thụ tri thức mà còn ở mặt sử dụng các phương pháp và hình thứctổ chức giáo dục, mất đi tính chuyên nghiệp, tính khoa học của giáo dục và do vậy tính hiệu quả không cao, thậm chí không thể thực hiện được Do đó, mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội là mối quan hệ biện chứng;
Sự thống nhất tác động giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội là vấn đề
có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt; được xác định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay vì mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân hữu ích cho đất nước
Trang 14Cán bộ quản lý và giáo viên của trường đã có nhiều năm công tác, giàu kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên khoa Giáo dục mầm non đến thực tế, thực tập Năm học 2022 - 2023 nhà trường có nhiều phòng học được xây dựng mới nên các lớp
2 tuổi năm trước năm nay được chia thành 4 lớp 3 tuổi; mỗi lớp 27 trẻ/ 2 cô, rất thuận lợi hơn cho việc chăm sóc giáo dục trẻ đầu cấp;
Trẻ trường mầm non 8/3 năm học 2022 - 2023 đa số sống ở các Khối trên địa bàn phường Chi Lăng, là phường đông dân cư sinh sống, đặc điểm hoàn cảnh sống, trình độ, nghề nghiệp của cha mẹ cũng rất phong phú, CBCNV Nhà nước, lao động tự do, kinh doanh thương mại, dịch vụ, làm nghề nông, làm ở các công
ty, xí nghiệp … Nhiều điều kiện, hoàn cảnh, trình độ nhận thức khác nhau nên thời gian, cách thức quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục cho con em mình cũng khá khác nhau Có trẻ sáng được đưa vội đến trường, chưa kịp ăn sáng, có trẻ đến
ăn xôi, uống sữa ở sân trường Có trẻ được gia đình chuẩn bị cẩn thận, đi học đúng giờ; trẻ đi muộn, trẻ được đón sớm; trẻ được đón muộn vội vàng lúc cuối giờ Trẻ hôm nay được bố mẹ nhờ người bác, mai nhờ chú, cậu, bà đón Có những trẻ nhiều lần cô phải nhắc trên nhóm là chưa có ai đón Đa số phụ huynh cho rằng nhờ giáo viên chăm sóc và giáo dục cho con em mình ở trường trẻ mới có thói quen, nề nếp tốt chứ trẻ ở nhà 2 ngày cuối tuần phụ huynh đã rất khó để xoay sở
ở cả mọi mặt Việc chăm sóc giáo dục trẻ ở nhà không phải gia đình nào cũng quan tâm và biết tổ chức thực hiện khoa học, biết giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Do đó, trẻ nhà trẻ thường gặp khó khăn trong tự phục vụ và hòa nhập môi trường mới
Trang 15Bảng 1: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Đối với phụ huynh, 100% phụ huynh đã nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự phục vụ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách và đảm bảo chất lượng sống tốt cho trẻ; không có phụ huynh cho rằng vai trò của giáo dục kỹ năng tự phục vụ là bình thường hoặc không quan trọng Như vậy, phụ huynh lớp mẫu giáo bé 3A1 được hỏi nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng tự phục
vụ với trẻ, hình thành hành vi thói quen cần thiết để thích nghi với cuộc sống mà trẻ mới và đang làm quen
Trang 1613
2.3 Thực trạng mức độ thường xuyên phối hợp giáo dục dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ
Việc thường xuyên hay không thường xuyên thực hiện hoạt động giáo dục
kỹ năng kỹ năng tự phục vụ cho trẻ cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục cũng như việc hình thành khả năng thích ứng cho trẻ Để tìm hiểu vấn
đề này chúng tôi sử dụng câu hỏi 2 (xem phụ lục) và thu được kết quả như sau: Bảng 2: Mức độ thường xuyên phối hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
Mức độ Thường xuyên Đôi khi Không bao giờ
100% giáo viên được hỏi cho biết họ thường xuyên phối hợp với phụ huynh
để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Điều này có nghĩa, 100% giáo viên nhận thức đúng và đánh giá cao vai trò của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ GV nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, trách nhiệm nghề nghiệp của mình và ý thức thực hiện thường xuyên đây là điều rất đáng mừng và cần được nhân rộng ở mọi nơi, với mọi người lớn trong thực hiện trách nhiệm với trẻ, với
giáo dục đúng cách, quan tâm theo kiểu: “Trăm sự nhờ cô, chứ chúng tôi không bảo được, trẻ bướng hoặc lè nhè lắm!”; “trẻ tiến bộ là nhờ cô giáo dạy” Có tới
Trang 17tự lập, kỹ năng giao tiếp Chẳng hạn, ngay từ khi đón trẻ cô đã nhắc trẻ cất đồ, chào mẹ, chào cô để vào lớp nhưng nhiều phụ huynh vẫn tháo dép, cởi giầy, cởi
mũ cất cho trẻ và cũng không chú ý nhắc trẻ chào mình để vào lớp, làm hạn chế việc hình thành thói quen, kỹ năng tự lập, kỹ năng giao tiếp của trẻ;
GVMN khẳng định: Để làm tốt công tác chăm sóc, giáo dục đối với trẻ mẫu giáo bé theo mục tiêu nhiệm vụ bao giờ cũng khó khăn, vất vả hơn so với lớp lớn, chưa kể lý do sức khỏe của các con lớp bé hạn chế hơn, các con hay ốm, đang rèn
nề nếp một chút lại có dịch bệnh lây nhau, các con phải nghỉ học ở nhà một thời gian đi học lại lại gặp khó khăn;
Ý kiến của phụ huynh và giáo viên cho thấy chúng ta cần có biện pháp để tăng cường kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ mầm non Cần tích cực, chủ động tận dụng, khai thác các nội dung, hình thức để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé giúp các em hình thành và phát triển nhân cách đúng đắn Mặt khác, chúng ta cũng cần khẳng định rằng hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé không phải quá cao siêu, xa vời Nó chỉ đơn giản là tất cả những việc làm của nhà giáo dục (giáo viên, cha mẹ học sinh, cộng đồng xã hội) hướng dẫn trẻ, làm mẫu, làm gương để trẻ mầm non hiểu biết cụ thể rèn luyện những thói quen, thực hành, tự tin trong các tình huống của cuộc sống xung quanh trẻ
Trang 1815
2.4 Thực trạng nội dung kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn
Để tìm hiểu thực trạng nội dung kết hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ của GVMN, phụ huynh và kiểm tra tính chính xác của các thông tin trên, chúng
tôi sử dụng câu hỏi mở: Quý vị hãy kể tên một số kỹ năng tự phục vụ mà gia đình/thầy cô thường phối hợp với giáo viên mầm non/gia đình để giáo dục cho trẻ? Kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Thực trạng nội dung kết hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
TT Nội dung kỹ năng tự phục vụ giáo dục cho trẻ GV PH
kỹ năng tự phục vụ một cách hệ thống, chi tiết, giống nhau và mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp cao như chúng tôi thống kê ở trên trong khi phụ huynh không
kể được hoặc chỉ số ít kể được các kỹ năng rất vụn vặt rất khó thống kê như: Dạy trẻ chào hỏi, ngoan, lễ phép, tự xúc ăn, đánh răng; buộc tóc, cởi dép, ngồi bô, đi ngủ và thức dậy sớm …;
Trang 19Kết quả nghiên cứu chỉ ra một thực tế là: GVMN và phụ huynh trẻ mầm non có nhận thức rất khác nhau về nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cũng như việc thường xuyên kết hợp giáo dục cho trẻ GVMN nhận thức đầy đủ, đánh giá cao và thường xuyên thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhưng phụ huynh học sinh chưa nhận thức được đầy đủ, chưa hiểu sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng, cách thức giáo dục cũng như chưa thường xuyên giáo dục và kết hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là điều bất lợi cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo bé Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thích nghi, thích ứng của trẻ ở nhà trường, gia đình, xã hội cũng như sự hình thành hành vi, thói quen cũng như việc đặt nền móng cho những phẩm chất nhân cách Gia đình là trường học đầu tiên, cha mẹ là người thầy đầu tiên của con cái họ, trẻ càng nhỏ, ảnh hưởng của gia đình càng lớn … mà gia đình lại thiếu sự am hiểu về nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cũng như nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn vầ tầm quan trọng và thường xuyên tận dụng mọi tình huống, tạo tình huống để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ thì đó không phải chỉ là một sự lãng phí mà còn
là sự thiếu sót lớn về trách nhiệm do thiếu hiểu biết tạo ra Trẻ càng nhỏ khả năng
bỏ ngỏ càng lớn, chúng ta dạy trẻ được điều gì trẻ sẽ tiếp thu, ghi nhớ và thực hành làm ngay và có thói quen bền vững khác hẳn với khi đã lớn tuổi hơn con người có thể đối phó, giữ kẽ, che giấu hạn chế … nên khó giáo dục hơn Chính vì
lẽ đó mà việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ cần được phụ huynh đặc biệt quan tâm
2.5 Thực trạng kỹ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo bé Trường Mầm non 8/3 TP Lạng Sơn
Trang 2017
Với câu hỏi cho GV: Theo cô, kỹ năng tự phục vụ của trẻ lớp cô đa số đạt được ở mức độ nào và tỷ lệ đạt? Và cho phụ huynh: Theo quý vị phụ huynh, kỹ năng tự phục vụ của con (cháu) quý vị đã đạt được ở mức độ nào? Chúng tôi thu
được kết quả nhận xét như sau:
Bảng 4: Thực trạng kỹ năng tự phục vụ của trẻ lớp 3A1 Trường Mầm non 8/3
ở mức tốt rất khiêm tốn 20% ý kiến Điều này cho thấy: Số trẻ có kỹ năng tự phục
vụ tốt, trẻ biết chào hỏi, ngoan, lễ phép, tự xúc ăn, đánh răng; buộc tóc, cởi dép, ngồi bô, đi ngủ và thức dậy sớm … còn rất khiêm tốn Tìm hiểu cụ thể vào lớp 3A1 chúng tôi được biết số này tập trung chủ yếu vào các con nổi trội hơn, sinh đầu năm, đi nhóm trẻ sớm … Nghiên cứu một cách ngẫu nhiên ½ số trẻ đầu danh sách lớp chúng tôi thu được kết quả đánh giá chủ yếu là trung bình Số trẻ có kỹ năng yếu cũng chiếm 12.5% theo đánh giá của GV Tuy nhiên ý kiến của phụ huynh về mức này rất thấp Trong các mức độ có sự đánh giá khác nhau giữa GV
và phụ huynh Phụ huynh đánh giá kỹ năng tự phục vụ của trẻ ở mức khá cao hơn phụ huynh đánh giá kỹ năng tự phục vụ của trẻ cao hơn ở mức trung bình; thấp hơn đánh giá của GV ở mức Yếu Sự chênh lệch này có thể do với phụ huynh con
Trang 21Tuy nhiên, tỉ lệ trẻ ở mức này theo giáo viên đứng lớp nhà trẻ thời gian đầu
là chưa có; còn phụ huynh cũng nhận định còn khá khiêm tốn và thấp so với tỉ lệ trẻ có kỹ năng tự phục vụ ở các mức độ khác Tìm hiểu cụ thể vào lớp 3A1 chúng tôi được biết số này tập trung chủ yếu vào các con sinh đầu năm mà đã đi học nhóm trẻ từ trước, chứ nhiều cháu sinh đầu năm nhưng chưa đi nhóm trẻ, hoặc được gia đình chú ý rèn luyện các con cũng rất rụt rè, nhút nhát, hạn chế Trường mầm non đánh giá theo bộ tiêu chuẩn gồm 120 chỉ số nên khá chặt chẽ, nghiêm túc, sát thực Còn các bậc cha mẹ thì vì hàng ngày chăm sóc con, kỳ vọng và đôi khi thiếu hướng dẫn và yêu cầu con một cách nghiêm túc, vẫn còn làm thay con
… nên người thì nhận thấy các con còn rất nhiều thiếu sót, hạn chế, người lại đánh giá con cao hơn Và cũng với tâm lý thương yêu, bao bọc con không đúng mức, chưa đúng phương pháp nên đánh giá các con chủ yếu ở mức khá, ở mức trung bình, đặc biệt không phụ huynh lớp mẫu giáo bé nào đánh giá kỹ năng tự phục vụ của con mình ở mức yếu, trong khi GV đánh giá có kỹ năng tự phục vụ ở mức Yếu Các trẻ vẫn chưa tự phục vụ tốt theo yêu cầu của cô ở trường lớp, sáng đến lớp vẫn còn bám mẹ khóc, chưa ăn sáng xong, mất nhiều thời gian trong việc xỏ dép, cất đồ dùng cá nhân, lấy đồ dùng ra sân tập thể dục, GV cũng tâm sự đây
là những trẻ phụ huynh cũng chưa thực sự biết phương pháp giáo dục phù hợp, và chú ý phối hợp với GV trong việc giáo dục trẻ Phụ huynh vẫn ngày ngày vội vàng đưa trẻ đến trường lớp muộn, gửi sữa hoặc đồ ăn nhanh của trẻ cho GV trông hộ Qua quan sát và nghiên cứu chúng tôi cho rằng GVMN đánh giá chính xác, khách quan, khoa học hơn vì GV có chuyên môn, hàng ngày hướng dẫn, yêu cầu các con thực hiện, trải nghiệm, thực hành các kỹ năng và nhìn nhận các con trong mặt