1 I Phần mở đầu Thực hiện chương trình GDPT 2018, tất cả các môn học nói chung và phân môn Lịch sử nói riêng đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học Để làm được điều đó thì vai trò của người giáo viê[.]
Trang 1I Phần mở đầu
Thực hiện chương trình GDPT 2018, tất cả các môn học nói chung và phân môn Lịch sử nói riêng đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học Để làm được điều đó thì vai trò của người giáo viên là phải tạo được môi trường học tập thân thiện, phong phú với nhiều hình thức để tạo được hứng thú cho học sinh khi học tập bộ môn, giúp cho các em thoải mái, tự tin, tích cực, chủ động tìm hiểu kiến thức Việc làm đó vừa tạo được không khí học tập sôi nổi, tự giác không gây căng thẳng gò ép
Tuy nhiên phần lớn giáo viên ngại đổi mới hoặc do sách giáo khoa mới gộp hai môn Lịch sử và Địa lí thành môn Lịch sử và Địa lí nên giáo viên phải dạy trái chuyên môn không có thời gian nghiên cứu để đổi mới phương pháp vì thế mà chủ yếu vẫn dạy học bằng phương pháp truyền thống, chỉ chú trọng đến việc truyền đạt hết những nội dung kiến thức trong sách giáo khoa, còn học sinh cố gắng chép đầy đủ những nội dung mà thầy cô đọc cho chép nên cảm thấy việc học Lịch sử khô khan, không mấy hứng thú
Do đó muốn khắc phục được vấn đề này thì việc gây hứng thú học tập cho học sinh là điều cần được quan tâm trong giờ học Lịch sử và việc đổi mới phương pháp là việc làm vô cùng cần thiết, để thông qua đó giáo viên có thể dễ hình thành khái niệm, khắc sâu biểu tượng lịch sử cho học sinh giúp các em nhớ kĩ, nhớ lâu nội dung của bài học mà giáo viên giảng dạy trên lớp
Là giáo viên dạy phân môn Lịch sử tôi mạnh dạn đề xuất biện pháp “
Tạo hứng thú trong dạy học phân môn Lịch sử 7 bằng phương pháp kể chuyện”
II Phần mô tả biện pháp
1 Thực trạng vấn đề trình bày
1.1 Thuận lợi
Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến việc đảm bảo cơ sở vật chất đầy
đủ nhất cho việc dạy học nên đã cho lắp đặt đầy đủ máy tính, máy chiếu hoặc tivi cho 9/9 phòng học
Trang 2Học sinh khối THCS trường TH&THCS Minh Tiến rất chăm ngoan, lễ phép với Thầy cô giáo, đoàn kết với bạn bè nên rất thuận lợi cho việc dạy của thầy
và việc học của trò
Phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc học nên tạo mọi điều kiện cho con em mình tham gia học tập đầy đủ
Bản thân giáo viên được đào tạo chuyên ngành Sư phạm Văn-Sử, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy đúng chuyên môn và tạo mọi điều kiện nên rất thuận lợi trong công việc vì vậy tôi luôn yên tâm công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
1.2 Khó khăn
* Về phía giáo viên
Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên việc đầu tư cho tiết dạy chưa xứng tầm với yêu cầu của công cuộc đổi mới:
- Có những trường ít lớp nên một giáo viên phải dạy nhiều môn như Lịch sử
và Địa lí, Ngữ văn, GDCD và phải kiêm nhiệm công tác chủ nhiệm nên không có thời gian đầu tư cho bộ môn;
- Có những nội dung trong SGK đề cập đến nhiều vấn đề nhưng định mức chỉ dạy trong 45 phút nên giáo viên phải cố hoàn thành hết nội dung
* Về phía học sinh
Từ trước đến nay Lịch sử vẫn là môn học chưa được quan tâm nhiều như các môn Toán, Văn, Anh, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh ít hứng thú với môn học Vì vậy học sinh không có kỹ năng khai thác thông tin, ghi nhớ, đánh giá các sự kiện lịch sử nên trong các kỳ thi học sinh gặp nhiều lúng túng, làm bài chưa thật sự hiệu quả, chất lượng không cao
1.3 Kết quả khảo sát điều tra
Đầu năm học 2022 - 2023, tôi đã khảo sát thái độ tình cảm và chất lượng của học sinh lớp 7 đối với bộ môn Lịch sử :
*Thái độ đối với bộ môn: Tôi đã phát phiếu điều tra về hình thức học tập
và sở thích học tập với môn Lịch sử như sau:
Trang 3Câu hỏi : Em có thích học môn Lịch sử không? Kết quả như sau:
* Chất lượng bộ môn: Bên cạnh đó tôi cũng cho học sinh làm một bài kiểm
tra khảo sát đầu năm với môn Lịch sử và kết quả thu được như sau:
Lớp
6A
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số
lượng Tỉ lệ
Số lượng Tỉ lệ
Kết quả trên cho thấy số lượng học sinh yêu thích môn Lịch sử còn ít, chất lượng học tập bộ môn chưa cao Qua đó tôi thấy được vai trò vô cùng quan trọng của việc tạo hứng thú để lôi cuốn các em tham gia tích cực vào bài học, nên tôi đã vận dụng một số biện pháp để tạo ra hứng thú học tập lịch sử cho học sinh lớp 6 Đặc biệt đó là biện pháp đẩy mạnh hoạt động trải nghiệm qua hình thức đóng vai trong môn Lịch sử 6
2 Biện pháp áp dụng giải quyết thực trạng của vấn đề
2.1 Giáo viên kết hợp kể chuyện trong bài học Lịch sử
Kể chuyện là phương pháp dùng lời nói để diễn tả một cách sinh động, hấp dẫn có hình ảnh về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ Câu chuyện có khi chỉ
là những mảnh sự kiện, biến cố lịch sử liên quan đến nội dung bài học, có khi là những tình tiết có liên quan đến nhân vật lịch sử, có khi chỉ là giải thích cho một cái tên, một địa danh, một thuạt ngữ trong bài học
Kể chuyện là phương pháp thông dụng nhất trong dạy học lịch sử, học sinh càng nhỏ càng ham thích nghe thầy cô kể chuyện nói chung cũng như kể chuyện lịch sử nói riêng
Trang 4Những câu chuyện lịch sử cung cấp kiến thức cho học sinh, mở rộng kiến thức mà sách giáo khoa không có Nó còn giúp cho việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh Mỗi câu chuyện là một tấm gương phản chiếu bao điều tốt xấu, thiện, ác, những tấm lòng quả cảm của những anh hùng dân tộc hay nhân cách ti tiện của những kẻ đê hèn bán nước
Kể chuyện là phương pháp thông dụng nhưng khi áp dụng phải chú ý các yêu cầu về nội dung và phương pháp kể:
Câu chuyện phải sát với nội dung bài học, phải xuất phát từ mục tiêu của bài học, truyện kể phải có chủ đề, có giá trị về mặt tư tưởng, nghệ thuật và thẩm mĩ
Phải phù hợp với tâm lý và trình độ của học sinh câu chuyện dài hay ngắn, chọ tình tiết này, bỏ tình tiết kia phụ thuộc nhiều vào đối tượng học sinh, nội dung bài học và thời gian cho phép
Câu chuyện được thực hiện thông qua cốt truyện về sự kiện, nhân vật trong thời gian không gian nhất định
Khi kể chuyện phải chú ý ngôn ngữ lúc nhanh, lúc chậm, khi thì hùng hồn, khi thì thiết tha Phối hợp lời kể với cử chỉ từ ánh mắt đến nụ cười, nét mặt Kết hợp kể chuyện với các phương pháp khác như đặt câu hỏi, xem tranh ảnh, video…
* Một số ví dụ cụ thể
Ví dụ 1 Khi dạy bài 1 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở Tây Âu
Ở phần khởi động sau khi cho học sinh nêu những hiểu biết của mình về Hoàng đế Sác-lơ-ma-nhơ giáo viên có thể kể:
Ông là vị Đại đế nổi tiếng nhất châu Âu vào thời trung cổ, đã định dạng bản
đồ lãnh thổ tây Âu như ngày nay Sự cai trị của ông đã ảnh hưởng tới thời kỳ Phục Hưng, sự hồi sinh của nghệ thuật, tôn giáo và văn hóa.
Hoàng đế Sác-lơ-ma-nhơ ghi dấu ấn to lớn cho lịch sử châu Âu, vị vua này được xem là hình tượng cho quân bài K cơ trong bộ bài tây Người Pháp gọi ông
là Charles Đại đế, trong khi đó người Đức với lòng kính trọng gọi ông là Karl Đại
đế Ông thường được biết đến với cái tên Charlemagne.
Trang 5(Nguồn trích: trithucvn.org.)
Ví dụ 2
* Trước khi áp dụng biện pháp
Ví dụ 1 Khi dạy Bài 24 Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945-1946)
Ở mục I Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám
* Trước khi áp dụng biện pháp: Giáo viên thường chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình để giảng giải cho học sinh về những khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng Tám Chính vì thế khi giảng về nạn đói năm 1945 giáo viên không tạo được biểu tượng lịch sử, không khơi gợi được cảm xúc cho học sinh khiến các em tiếp nhận nội dung kiến thức một cách thụ động, hời hợt nên không thể thấy được mức độ nghiêm trọng của nạn đói nhất là ở thời đại ngày nay các em chưa từng chứng kiến điều đó
* Khi áp dụng biện pháp:
- Lựa chọn đoạn video phản ánh nạn đói năm 1945 trích từ bộ phim “Sao tháng Tám” của của cố đạo diễn - NSND Trần Đắc sau đó xử lý cắt lấy nội dung phù hợp với bài học (thời lượng 2 phút)
Hình ảnh cắt từ video
Trang 6- Trước khi cho học sinh xem video giáo viên định hướng cho học sinh chú
ý đến nội dung và cảm xúc của mình khi xem phim;
- Chiếu đoạn video
- Sau khi học sinh đã xem xong video giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động
cá nhân trả lời các câu hỏi:
Đoạn video có nội dung gì?
Sau khi xem video em có cảm nhận như thế nào?
Từ đó em có nhận xét gì về nạn đói năm 1945?
- Qua phần trả lời của HS, GV hướng dẫn HS kết luận: Nạn đói đe dọa nghiêm trọng đời sống nhân dân Cùng với nạn dốt thì nạn đói cũng giống như một loại giặc và thậm chí nó còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm
Ở mục III Diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính
* Trước khi áp dụng biện pháp: Giáo viên chỉ dùng phương pháp thuyết
trình, sử dụng hình 42 Nhân dân góp gạo chống giặc đói và hình 45 Lớp bình dân học vụ và cho học sinh đọc nội dung trong sách giáo khoa để hướng dẫn học
sinh tìm hiểu các biện pháp diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính Tuy học sinh được quan sát hình ảnh và nêu được nội dung kiến thức theo yêu cầu của giáo viên nhưng nội dung đó sẽ không được khắc sâu vì thế nếu không học thuộc bài học sinh sẽ dễ quên
* Khi áp dụng biện pháp:
Trang 7- Giáo viên lựa chọn đoạn video phản ảnh nội dung diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính sau đó xử lý cắt lấy nội dung phù hợp với bài học (Thời lượng 2 phút)
Hình ảnh cắt từ video
- Trước khi chiếu video giáo viên định hướng cho học sinh chú ý các biện pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra để nhằm giải quyết nạn đói, nạn dốt và những khó khăn về tài chính
- Giáo viên chiếu đoạn video
- Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những biện pháp gì để diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính?
Câu 2 Những biện pháp đó đã mang lại kết quả như thế nào?
(Khi làm phiếu học tập giáo viên có thể chia câu hỏi 1 thành 3 ý nhỏ phân cho mỗi nhóm thảo luận một ý)
- Qua phần kết quả thảo luận của HS, GV hướng dẫn HS kết luận:
Giải quyết giặc đói
Trang 8- Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước lập các hũ gạo cứu đói, không dùng gạo, ngô để nấu rượu, tổ chức ngày “ Đồng tâm” để có thêm gạo cứu đói
- Việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh
=> Kết quả: Nạn đói được đầy lùi
Giải quyết giặc dốt
- Ngày 8 - 9 - 1946, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ, và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ
- Nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân
Giải quyết khó khăn về tài chính
- Chính phủ kêu gọi tinh thần tự nguyện của nhân dân, kêu gọi mọi người tham gia xây dựng “Qũy độc lập” và phong trào “Tuần lễ vàng” và được nhiều người dân hưởng ứng tích cực
- Ngày 31 - 1 - 1946, Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam
- Ngày 23 - 1 - 1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trên
cả nước
Ví dụ 2: Khi dạy mục IV.2 bài 29 Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ, cứu nước (1965-1973)
* Khi chưa áp dụng biện pháp: Giáo viên chỉ dùng phương pháp thuyết trình
để tường thuật diễn biến trận Diện Biên Phủ trên không và hướng dẫn học sinh rút
ra ý nghĩa Vì vậy học sinh không hình dung được tính chất ác liệt của cuộc tập kích không quân bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng từ ngày 18 đến 29/12/1972 Không đánh giá được hết tinh thần chiến đấu quyết liệt của quân dân
ta cũng như không hiểu được ý nghĩa quyết định của trận “Điện Biên Phủ trên không” là buộc Mĩ phải trở lại Hội nghị Pa-ri và kí hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973)
* Khi áp dụng biện pháp:
- Giáo viên lựa chọn video trận “Điện Biên Phủ trên không” với thời lượng
2 phút 32 giây để sử dụng khi giảng về cuộc tập kích không quân bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng từ chiều tối ngày 18 đến hết ngày 29/12/1972
Trang 9Hình ảnh cắt từ video
- Định hướng cho học sinh quan sát video chú ý đến tính chất của cuộc tập kích bằng máy bay B52 của Mĩ, tinh thần chiến đấu của quân dân ta và kết quả ta đạt được
- Chiếu video
- Đưa ra các câu hỏi để khai thác nội dung kiến thức học sinh lĩnh hội được sau khi xem xong video
Em có nhận xét gì về cuộc tập kích không quân bằng máy bay B52 của Mĩ vào Hà Nội và Hải Phòng?
Quân dân ta đã chiến đấu với tinh thần như thế nào? Đạt được kết quả ra sao?
Với trận thắng quyết định của ta đã buộc Mĩ phải làm gì?
- Qua phần trả lời, nhận xét chéo của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh kết luận:
+ Đây là chiến dịch cuối cùng của quân đội Mĩ tại miền Bắc Việt Nam
+ Đã bị quân ta đánh bại hoàn toàn: bắn rơi 81 máy bay (34 máy bay B52, 5 máy bay F111, 42 máy bay chiến thuật khác)
+ Buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
ở Việt Nam 927/1/1973)
Với việc được tự mình khám phá kiến thức qua phim tư liệu học sinh có thể lĩnh hội nội dung kiến thức một cách chủ động Thông qua việc tập trung, tư duy, tìm tòi, đánh giá nội dung kiến thức sẽ được khắc sâu hơn nên học sinh không cần
Trang 10mất nhiều thời gian để học thuộc lòng nội dung giáo viên cho ghi chép vẫn có thể nhớ được nội dung kiến thức cơ bản của bài học
3 Kết quả thu được qua khảo nghiệm áp dụng biện pháp bước đầu
1 Tính mới
Áp dụng biện pháp “ Sử dụng phim tư liệu hiệu quả trong dạy học môn Lịch sử lớp 9” vào trong hoạt động dạy học của giáo viên đã đánh trúng vào tâm
lý lứa tuổi của học sinh THCS Đây là một trong những biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, giúp các em học sinh hứng thú, chủ động tiếp thu kiến thức, sôi nổi học tập và đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
2 Tính hiệu quả
Khi áp dụng biện pháp “ Sử dụng phim tư liệu hiệu quả trong dạy học môn Lịch sử lớp 9” tôi đã áp dụng đối với khối 9 - trường THCS Minh Tiến - nơi
tôi đang công tác
Khi hướng dẫn HS cách khai thác thông tin qua phim tư liệu học sinh đã nhanh chóng tiếp cận với phương pháp dạy học hiện đại và tỏ ra rất hào hứng với các tiết học lịch sử, không còn lo sợ việc giáo viên kiểm tra bài cũ nữa, chất lượng
bộ môn cũng đã được cải thiện đáng kể
Sau đây là bảng so sánh khi chưa áp dụng biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp:
Kết quả học kì 1 của khối 9 năm học 2020-2021 khi chưa áp dụng biện pháp
Trang 119B 24 0 7 = 29,2% 15 = 62,5% 2 = 8,3% 0
Kết quả học kì 2 của khối 9 năm học 2020-2021 sau khi áp dụng biện pháp
9A 24 5 = 20,8% 10 = 41,7% 8 = 33,3% 1 = 4,2% 0
9B 24 1 = 4,2% 14 = 58,3% 7 = 29,2% 2 = 8,3% 0
Ngoài chất lượng các bài kiểm tra ở trường tăng lên thì chất lượng thi học sinh giỏi cấp huyện cũng khả quan hơn Việc chọn lựa học sinh đi thi cũng dễ dàng hơn vì học sinh tự nguyện đăng ký dự thi (Những năm trước giáo viên phải chỉ định và thường chỉ chọn được học sinh khá vì học sinh giỏi đều đăng ký thi các môn khác) Năm học 2019-2020 học sinh dự thi cấp huyện không đạt giải, điểm số thấp đứng ở tốp cuối của huyện nhưng năm học 2020-2021 học sinh đã đạt giải (Tuy giải chưa cao nhưng điểm số đã đứng trên một số trường đạt giải trong cụm)
3 Tính khoa học
Sử dụng phim tư liệu trong dạy học môn Lịch sử đã hình thành và rèn cho học sinh các kỹ năng: Ghi nhớ, tư duy, phân tích, nhận xét, đánh giá các sự kiện lịch sử một cachs linh hoạt
Sử dụng phim tư liệu trong dạy học môn Lịch sử tuy không phải là vấn đề mới
lạ đối với các trường thuộc khu vực gần trung tâm, nhưng nó lại khá mới lạ và hấp dẫn đối với học sinh thuộc vùng sâu, vùng xa như học sinh trường THCS Minh Tiến giúp học sinh rất hứng thú và chủ động tiếp thu kiến thức theo nội dung bài học Học sinh không phải học thuộc và ghi nhớ máy móc kiến thức, đem lại hiệu quả cao Từ đó học sinh yêu thích và say mê với môn học hơn
4 Tính thực tiễn