1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm thất nghiệp, những kinh nghiệm và tham chiếu cho việt nam từ thực tế một số nước phát triển trên thế giới

49 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm thất nghiệp, những kinh nghiệm và tham chiếu cho Việt Nam từ thực tế một số nước phát triển trên thế giới
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 166,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy ở nghiên cứu này, chúng ta sử dụng khái niệm thất nghiệp khinghiên cứu về chính sách Bảo hiểm thất nghiệp theo quan điểm Chính phủnước ta “Thất nghiệp là những người trong độ tuổ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa tới nay, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chínhđáng nhất và lớn nhất của con người nhằm đáp ứng quá trình phát triển xãhội Nhà lý luận chính trị hay còn là một triết gia, một nhà khoa học ngườiĐức thế kỷ 19, Ph.Ăng Ghen đã khẳng định “lao động là điều kiện cơ bản đầutiên của toàn đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đóchúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo ra chính bản thân con người” Nhu cầu

“lao động” tưởng chừng đơn giản, song trong điều kiện kinh tế thị trườngkhông phải ai cũng được đáp ứng và đáp ứng một cách đầy đủ Muốn đượclao động, người lao động phải làm việc để từ đó tạo ra của cải vật chất và tạo

ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình Nhưng để có được việc làm phù hợpvới năng lực, trình độ và ngành nghề đào tạo của mình thì không phải ngườilao động nào cũng dễ tìm kiếm Bởi vì, nguồn lao động xã hội thường tăngnhanh hơn cơ hội việc làm, do đó luôn có một bộ phận người lao động thiếuhoặc không có việc làm Những người không có việc làm thực chất họ đang bịthất nghiệp

Thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừmột quốc gia nào cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước côngnghiệp phát triển Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm, nó không chỉ ảnh hưởngđến chính thu nhập và đời sống của người lao động mà nghiêm trọng hơn làcòn ảnh hưởng đến hầu hết các mặt kinh tế- chính trị- xã hội của mỗi quốcgia Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng lãncông, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống… tăng lên: hiệntượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lêm như trộm cắp, cờ bạc, nghiệnhút, mại dâm…; Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng

Trang 2

bị suy giảm… Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đênbiến động về chính trị.

Quan trọng hơn, ở các nước có nền kinh tế thị trường như nước ta, thunhập chủ yếu của người lao động thường gắn với việc làm Khi không cònviệc làm, thu nhập đương nhiên cũng không còn Khi đó người lao động vàgia đình họ có nguy cơ rơi vào cảnh túng quẫn, bị bần cùng hoá Để khắcphục tình cảnh này, bản thân người lao động phải tích cực tìm chỗ làm việcmới Đây là biện pháp khá năng động, có tính cá nhân Tuy nhiên, không phải

ai và lúc nào cũng có thể tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệp thường songhành với thời kỳ nền kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiều khókhăn trong sản xuất kinh doanh, nên khó tạo ra chỗ làm việc mới cho ngườilao động Một biện pháp khác có tính xã hội cao, là nhà nước tổ chức bảohiểm thất nghiệp (BHTN) cho người lao động BHTN xét về mặt xã hội làbiện pháp có tính thụ động, nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhânngười lao động khi bị thất nghiệp, giúp được họ có một khoản thu nhập bùđắp lại mức thu nhập đã bị mất do bị mất việc làm; tạo điều kiện cho họ sớmquay trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vào tình cảnh túng quẫn

Hiện nay, Đảng và nhà nước ta cũng xây dựng chính sách về Bảo hiểmthất nghiệp ( BHTN), và chính thức có hiệu lực vào 01/01/2009, và cũng được

bổ sung, chỉnh sửa qua từng năm thực hiện với những thành công nhất định,tác động tích cực tới các lĩnh vực trong đời sống xã hội Tuy nhiên, chínhsách đó vẫn còn đang gặp nhiều bất cập và khó khăn trong quá trình thực

hiện Chính vì vậy em chọn vấn đề “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu cho môn

học của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 3

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu chi tiết về hệ thống chính sách BHTN, thựctrạng việc thực hiện chính sách tại Việt Nam hiện nay, góp phần giải quyếtnhững rào cản trong xã hội.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ cơ sở lý thyết cho việc nghiên cứu chính sách BHTN tại ViệtNam hiện nay

- Tìm hiểu thực trạng thực thi chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở ViệtNam Qua đó nêu ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách BHTNcủa Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Chính sách BHTN tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu tập trung tìm hiểu nội dung chính sách BHTN tại Việt Namtheo những số liệu mới nhất tính đến thời điểm tháng 11/2020

Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách BHTN tại nước ta

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận: Quan điểm của Đảng, nhà nước ta về thực hiện chínhsách BHTN đối với người lao động

- Cơ sở thực tiễn: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là tổnghợp, phân tích tài liệu

6 Kết cấu đề tài nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 2 chương và 6 tiết

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Chính sách

- Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách nhưsau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực

cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộcvào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

- Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động cómục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn

đề mà họ quan tâm”

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các

nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để g ngải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.

- Chính sách xã hội

Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước đề cập và giải quyết cácvấn đề xã hội tức là giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ xã hội, liênquan đến lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là nhữngvấn đề có ý nghĩa chính trị cốt lõi của mỗi quốc gia

1.2.2 Thất nghiệp

- Theo nghĩa rộng, thất nghiệp là một trạng thái người lao động tách khỏi

tư liệu sản xuất, khi đó tính năng động chủ quan và tiềm năng của người laođộng không được phát huy, gây ảnh hưởng xấu tới phát triển kinh tế xã hội.Theo nghĩa hẹp, thất nghiệp là chỉ hiện tượng xã hội mà những người lao động

Trang 5

có năng lực làm việc, nằm trong độ tuổi lao động theo quy định, có mongmuốn được làm việc, bị mất việc hoặc chưa tìm được việc làm có thù lao

- Khái niệm thất nghiệp đã được bàn đến trên thế giới trong suốt thế kỷ

XX Ngay sau khi thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “Thất nghiệp làviệc ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợptrong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” Bamươi năm sau, ILO lại đưa ra khái niệm về “người thất nghiệp” và khái niệmnày đã được đón nhận rộng rãi ở cộng đồng quốc tế: “Người thất nghiệp baogồm toàn bộ số người ở độ tuổi làm việc theo quy định trong thời gian điềutra, có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm và vẫn đang đi tìm kiếmviệc làm”

- Ở Việt Nam thuật ngữ “thất nghiệp” đã được đề cập trong những vănkiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong suốt mấy kỳ đại hội gần đây, thểhiện như một cảnh báo xã hội trong các Chiến lược phát triển KT - XH cácgiai đoạn 2001- 2010 và 2010 - 2020 Năm 2006, khái niệm “người thấtnghiệp” ở Việt Nam đã được luật hóa và trở thành một thuật ngữ pháp lý tạiKhoản 4, Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội là: “người đang đóng bảo hiểmthất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, nhưngchưa tìm được việc làm” Như vậy, Luật Bảo hiểm xã hội chỉ tính người thấtnghiệp trong phạm vi những lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì ởViệt Nam các chỉ báo về “người thất nghiệp” sẽ chỉ thể hiện được một phầnlực lượng lao động hiện không có việc làm Vì vậy, ở Việt Nam 2 khái niệm

“người không có việc làm” và “người thất nghiệp” luôn song song tồn tạinhưng không hoàn toàn trùng khớp với nhau

Như vậy ở nghiên cứu này, chúng ta sử dụng khái niệm thất nghiệp khinghiên cứu về chính sách Bảo hiểm thất nghiệp theo quan điểm Chính phủnước ta “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng laođộng, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, với điều kiện người này

có tham gia Bảo hiểm thất nghiệp”

Trang 6

1.1.3 Bảo hiểm thất nghiệp

- Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là biện pháp để giải quyết tình trạngthất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thờigian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm côngviệc mới

- Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm phápluật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắpthu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thấtnghiệp trở lại làm việc

1.1.4 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp

- Chính sách BHTN là sự tác động của nhà nước tới các đối tượng thamgia BHTN thông qua các biện pháp, công cụ chính sách nhằm mục tiêu an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế

- Cần phải hiểu rõ 3 vấn đề của chính sách BHTN:

Thứ nhất, chính sách BHTN là một chính sách công

Thứ hai, đối tượng của chính sách là những người lao động tham giađóng BHTN và chủ sử dụng lao động Chỉ những người lao động tham giađóng BHTN bị thất nghiệp mới được hưởng lợi từ chính sách Chủ sử dụnglao động được coi là đối tượng của chính sách BHTN khi họ phải tuân thủnhững quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ chongười lao động trong trường hợp bị thất nghiệp

Thứ ba, các biện pháp, công cụ chính sách được Nhà nước sử dụng baogồm các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ trác nhiệm của những người thamgia BHTN, chủ sử dụng lao động, quy định về nguồn tài chính, chế độ BHTN,

Chính sách BHTN không chỉ bao hàm chế độ BHTN ( những quy định

về mức đối tượng, điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp, mức hưởng trợcấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn tìm việc làm, đào tạo nghề và bảo hiểm y tế) mà

Trang 7

còn có cả các quy định về đối tượng tham gia nguồn hình thành quỹ và các tổchức chịu trách nhiệm triển khai thực hiện chính sách BHTN.

1.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò không chỉ đối với cá nhân người laođộng, doanh nghiệp mà còn đóng vai trò thăng bằng trong nền kinh tế

- Đối với người lao động: Bảo hiểm thất nghiệp có hai chức năng chủyếu: chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích Trợ cấp thất nghiệp chính

là khoản được sử dụng để giúp người lao động có được một cuộc sống tươngđối ổn định sau khi bị mất việc Đó là khoản tiền trợ cấp cần thiết để giúp đỡnhững người thất nghiệp có cuộc sống ổn định khi bị mất việc làm Ngoàikhoản tiền được hưởng thì cơ quan chi trả bảo hiểm thất nghiệp cũng tạo cơhội về công việc để họ có thể tiếp tục tìm kiếm các công việc khác để có thunhập Chính cơ quan chi trả bảo hiểm thất nghiệp đã tạo ra chỗ dựa về vậtchất và tinh thần cho những người lao động khi lâm vào tình trạng mất việclàm ổn định được cuộc sống

Với chức năng khuyến khích, bảo hiểm thất nghiệp kích thích ngườithất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng làm việc Do đó, bảo hiểm thấtnghiệp vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp, vừa là một chính sách

xã hội rất quan trọng

- Đối với người sử dụng lao động: do có bảo hiểm thất nghiệp, nênkhi thất nghiệp xảy ra; họ không phải tăng thêm chi phí để trả trợ cấp mấtviệc làm cho người lao động, do đó gánh nặng kinh tế, tài chính của họ cũng

sẽ được chia sẻ khi những người lao động tại doanh nghiệp đã bị mất việclàm, họ không cần phải mất một khoản chi để giải quyết chế độ cho nhữngngười lao động nghỉ việc Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phảithu hẹp sản xuất, nhiều người lao động thất nghiệp Hơn nữa, khi người laođộng biết rõ việc được trợ cấp thất nghiệp, họ sẽ yên tâm làm việc hơn Điềunày khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điềukiện cho doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất

Trang 8

- Đối với xã hội: chế độ trợ cấp thất nghiệp là một chính sách xãhội Nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ tạo ra sự ổn định về mặt xã hội vàngợc lại nó làm cho xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, mất ổn định.

Thất nghiệp tác động rất lớn đến tinh thần, tâm lý Để ngăn chặn và hạnchế những hành vi tiêu cực có thể xảy ra khi người lao động bị mất việc làm,thì có lẽ không có biện pháp nào phát huy tác dụng nh chính sách trợ cấp thấtnghiệp Rõ ràng với chính sách này người lao động cũng yên tâm phần nào

về cuộc sống để dồn sức lo tìm kiếm một công việc mới, ổn định dần và tiếnđến việc cải thiện đời sống của gia đình mình trong tơng lai

- Đối với Nhà nước: bất kỳ một quốc gia nào, vào thời gian nàocũng tồn tại một đội quân thất nghiệp với mức độ và tỷ lệ khác nhau Thờngtrong giai đoạn hng thịnh của nền kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp thấp và tronggiai đoạn khủng hoảng thì tỷ lệ này sẽ cao Nếu có bảo hiểm thất nghiệp, gánhnặng ngân sách sẽ giảm hơn khi thất nghiệp xảy ra Mặt khác, khi đã có trợcấp thất nghiệp, Nhà nước không còn phải lo đối phó với các cuộc biểu tình,không phải chi nhiều ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm donguyên nhân thất nghiệp gây ra

1.3 Sự cần thiết cần phải có chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở ViệtNam

Sức ép về việc làm đối với nước ta còn rất lớn Vẫn còn một tỷ lệ cao

số lao động cha có việc làm hay nói cách khác họ bị thất nghiệp Trong khicha có bảo hiểm thất nghiệp để bù đắp một phần thu nhập do bị mất việc làm,theo quy định của Bộ luật Lao động, khi người lao động chấm dứt hợp đồnglao động thì được trợ cấp mất việc, hoặc trợ cấp thôi việc, do doanh nghiệpchịu trách nhiệm thanh toán 100% Những quy định này bộc lộ một số nhợcđiểm sau:

- Bộ luật Lao động có quy định về chế độ trợ cấp mất việc làm(Điều 17) và trợ cấp thôi việc (Điều 42) nhưng chế độ này chưa đáp ứng đượcyêu cầu chung của nền kinh tế thị trường, còn mang nhiều dấu ấn của thời kỳ

Trang 9

bao cấp, nên bất cập cho người sử dụng lao động, người lao động và Nhànước.

- Tất cả các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho đếnnay đều chưa phải là chế độ bảo hiểm thất nghiệp, vì nó trả một lần cho ngườithôi việc mà mức trả nhiều hay ít lại phụ thuộc vào số năm làm việc, mức tiềnlương, kinh phí chi trả trợ cấp này lại do doanh nghiệp trả, không mang tínhchất xã hội, không thể hiện trách nhiệm của cả 3 bên

- Khi có nhiều người thôi việc, mất việc làm là lúc doanh nghiệpgặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nên việc chi phí một khoản lớn trợcấp cho số đông người lao động thường là gánh nặng quá sức của doanhnghiệp Do vậy, hoặc là doanh nghiệp không sòng phẳng trả cho người laođộng, hoặc là trả rất nhỏ giọt

- Khi người lao động mất việc làm, trước mắt họ không có khoảnthu nhập nào ngoài việc trông chờ vào khoản trợ cấp mất việc, thôi việc

- Đối với Nhà nước: khi doanh nghiệp không đủ tiền để trả trợ cấpthôi việc thì ngân sách nhà nước phải đứng ra gánh vác trách nhiệm này Nhànước cũng sẽ khó khăn về ngân sách khi nền kinh tế đình đốn, nhiều doanhnghiệp phải sa thải lao động, do vậy việc chi trả trợ cấp cho lao động mất việctrong doanh nghiệp nhà nước cũng sẽ là một gánh nặng

- Do không có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, nên không có hệ thống

tổ chức để đăng ký, theo dõi người thất nghiệp một cách thường xuyên, cậpnhật từ dưới lên, nên không nắm được số người thất nghiệp, số người cần cóviệc làm một cách cụ thể để giúp cho Nhà nước có chủ trơng chính sách chủđộng để giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp

Do vậy, cần sớm có một chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam,không nên chỉ tìm các giải pháp tình thế Để bảo hiểm thất nghiệp có tính khảthi cao, chúng ta phải lựa chọn hình thức và bước đi thích hợp, làm từ đơn

giản đến phức tạp, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để hoàn thiện dần./.

Trang 10

Đối với người lao động, BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi

bị mất việc làm thông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tụctham gia thị trường lao động Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần choNLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm

– Đối với người sử dụng lao động, gánh nặng tài chính của họ sẽ đượcsan sẻ khi những người lao động tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ khôngphải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế độ cho người lao động Đặcbiệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, nhiều ngườilao động thất nghiệp

– Đối với nhà nước, ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt chi phí khi nạnthất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động vềtài chính cho nhà nước

1.4.3 Đặc điểm của BHTN

2 Cơ sở lý luận:

2.1 Lý thuyết phương Tây

- BHTN khởi nguồn từ phương Tây nên những lý thuyết về bảo hiểmthất nghiệp cũng bắt nguồn từ các dòng tư tưởng phương Tây

 Lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp từ góc độ kinh tế học, bao gồm lýthuyết kinh tế học phúc lợi, lý thuyết về “quản lý nhu cầu”, lý thuyết kinh tế

an sinh xã hội, lý thuyết “con đường thứ ba”

Trang 11

Lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp từ góc độ xã hội học bao gồm lý luận chủ nghĩa lịch sử mới hay còn gọi là học phái lịch sử mới của Đức, học

thuyết của Các- Mác, học thuyết quyền lợi công dân

Tóm lại, từ quá trình phát triển về lý thuyết kinh tế và thực tiễn chế độ

của bảo hiểm thất nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ có thể thấy, quan niệm vềchế độ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành trên cơ sở của công bằng xã hội,bảo đảm nhân quyền, bảo đảm kinh tế và thúc đẩy việc làm Sự phát triển của

các lý thuyết này mang đặc điểm: Một là, các lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp

đa phần đề cập tới hai nội dung triết học cơ bản là công bằng xã hội và phát

triển kinh tế Hai là, các lý thuyết từng bước được mở rộng và hệ thống hoá.

Ba là, lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp của phương Tây đã gợi mở xây dựng

mô hình bảo hiểm thất nghiệp

2.2 Lý thuyết tại Việt Nam

- Trải qua hàng loạt các cuộc chiến tranh, Việt Nam giành lại được độclập, chủ quyền, tự do dân tộc và bắt đầu bước vào thời kỳ lao động, sản xuấtkhôi phục nền kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân Trong quátrình này Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được những vấn đề, hệ lụy màthất nghiệp mang lại, nên việc xây dựng chính sách BHTN ở Việt Nam là mộtđiều hết sức quan trọng và cần thiết

- Từ trước đến nay, theo quan niệm của Bác Hồ, của Đảng cộng sảnViệt Nam, của nhân dân Việt Nam mục tiêu, đích đến của xây dựng, pháttriển đất nước ta nhằm tạo được xã hội “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh” Yếu tố “ dân chủ, công bằng” trong mục tiêu xây dựng đấtnước được coi là tư tưởng, đặc trưng quan trọng để xây dựng cũng như pháttriển chính sách BHTN

3 Cở sở thực tiễn

Lịch sử xã hội loài người là tiến trình phấn đấu liên tục cho một cuộcsống đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần Trong lịch sử thế giới,nhiều

Trang 12

triều đại đã đặt mục tiêu trở thành nước mạnh để xưng bá, xưng hùng vớixung quanh,do đó đã thực hiện các cuộc chiến tranh đẫm máu và phi nghĩa.Ngược lại, để trở thành một nước mạnh, nhiều nhà cầm quyền đã quan tâmđến đời sống của người dân, quan tâm đến việc làm cho dân ngày một giàu cóhơn vì người ta hiểu rằng “đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”.Nhìn chung, khát vọng giàu hơn, mạnh hơn, công bằng hơn, dân chủ hơn, vănminh hơn là khát vọng của nhân loại.Cũng vì nó, ở mọi nơi, người ta đã đấutranh, phấn đấu liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử phấn đấu không

Trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước ta luôn đề ra nhữngđường lối, chính sách nhằm đổi mới bộ mặt đất nước, phát triển đồng bộ kinh

tế, văn hóa xã hội, cố gắng cải thiện cuộc sống của người dân ngày càng caohơn Một trong số những vấn đề nan giải hiện nay chính là thất nghiệp Theothống kê của Bộ lao động thương binh và xã hội: tỷ lệ thất nghiệp của laođộng trong độ tuổi lao động ước tính ở quý 3/2018 là 2,2%, cao hơn quý2/2018 là 0,3 % Trong khi đó, lực lượng lao động đạt 55,2 triệu người, tăng581.500 người so với cùng kỳ năm trước

Cuộc sống của người lao động sẽ ra sao khi thất nghiệp? Làm sao để họ

có thể tiếp tục sống và trau dồi kỹ năng để tìm kiếm việc làm trong tương laivới thực tế không việc làm, không tiền lương Từ thực tế đó, chính sáchBHTN đã ra đời để hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp và giúp đỡ người mất việc làm ổnđịnh cuộc sống, giảm ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp đến đời sống kinh tế

xã hội, Việt Nam đã lựa chọn cách thức xây dựng chính sách bảo hiểm thấtnghiệp Chính sách dựa trên nguyên tắc hoạt động vì quyền lợi xã hội củacông dân, kết hợp hữu cơ giữa bảo đảm đời sống cơ bản và thúc đẩy tạo việclàm cho người thất nghiệp, kết hợp giữa phát triển kinh tế và công bằng xãhội, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của người lao động trong việc sáng

Trang 13

nghiệp, thể hiện trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động vàvai trò hỗ trợ của nhà nước.

Trang 14

Chương II: CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

1 Các văn bảo quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp:

- Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội ngày 31/7/2015 hướng dẫn thực hiện Điều 52 Luật việc làm và một

số điều Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

- Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BCA ngày25/03/2 016 hướng dẫn thực hiện Khoản 6 Điều 32 của Nghị định số28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp về việc thông báo biếnđộng lao động làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an

- Ngoài ra, còn một số văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đếnbảo hiểm thất nghiệp như: Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8 /2013 củaChính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảohiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợpđồng; Nghị định số 88/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 7/10/2015 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/ 2013 củaChính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảohiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợpđồng; Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27/11/2015 của Thủ tướng Chínhphủ về cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm

Trang 15

thất nghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thấtnghiệp; Thông tư số 20/2016/TT-BTC ngày 03/02/2016 của Bộ Tài chính vềhướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp; Thông tư số 139/2015/TT-BQP ngày 16/12/2015 của

Bộ Quốc phòngvề hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số28/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/3/2015 quy định chi tiết thi hành một số điềucủa Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp trong Bộ Quốc phòng;

1.1 Đối tượng tham gia BHTN ( dựa theo khoản 3, điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội)

- Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theohợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

 Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thờihạn

 Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn

 Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhấtđịnh có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng

- Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiềuhợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sửdụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm thamgia bảo hiểm thất nghiệp

- Trường hợp người đang giúp việc gia đình, hưởng lương hưu, trợ cấpmất sức lao động hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làmviệc với người sử dụng lao động quy định tại Điều 3 Nghị định này theo các

loại hợp đồng quy định tại khoản 1 điều này không thuộc đối tượng tham gia

BHTN

1.2 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội:

- Là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười 10 người lao động trởlên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp: đơn vị Nhà nước; tổ chức

Trang 16

chính trị xã hội; doanh nghiệp thành lập theo luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư;các hợp tác xã thành lập theo luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể; cácdoanh nghiệp nước ngoài hoạt động trển lãnh thổ Việt nam có sử dụng laođộng là người Việt Nam.

1.3 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

Được quy định tại điều 15 chương III, căn cứ theo Điều 81 Luật Bảohiểm xã hội, điều kiện được hưởng BHTN: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủmười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việclàm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động; Đã đăng ký với cơ quan lao động khi

bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; Chưatìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan laođộng

1.4.Điều kiện hưởng, mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp:

*Điều kiện hưởng:

- So với các chế độ bảo hiểm khác, thì điều kiện để được hưởng BHTN

sẽ chặt chẽ, phải thỏa mãn các điều kiện sau:

 Phải tham gia đóng BHTN trong một thời gian tối thiểu là 24tháng

 Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động

 Phải đăng kí thất nghiệp tại cơ quan lao động

 Phải sẵn sàng làm việc

Người thất nghiệp sẽ mất quyền hưởng BHTN trong các trường hợpsau:

 Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

 Bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động

 Từ chối không đi làm ( có thể là 3 lần) do cơ quan lao động giớithiệu việc làm Những công việc này có thể phù hợp với trình độ chuyên mônnghề nghiệp được đào tạo, phù hợp với sức khỏe Trong thời gian đầu thất

Trang 17

nghiệp những công việc có mức tiền công bằng 80% tiền lương tiền côngdùng làm cơ sở để trả tiền thất nghiệp.

*Mức hưởng

- Kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, phải sau một thời gian nhấtđịnh người thất nghiệp không thể tìm được việc làm mới được hưởng trợ cấpthất nghiệp Quy định này nhằm tiết kiệm tài chính đối với những trường hợpthất nghiệp ngắn ngày và tái diễn gần nhau và đây cũng là thời gian để ngườilao động đang đi tìm việc làm và hy vọng cơ quan môi giới có thể tìm đượcviệc cho người đăng ký Thời gian thích hợp ở nước ta là 30 ngày, vì với thờigian người thất nghiệp có thể tìm được một công việc cụ thể

- Mức hưởng phải phụ thuộc và mức đóng và thời gian hưởng, đồngthời đóng và thời gian hưởng BHTN cũng phụ thuộc vào mức hưởng

- Để xác định được mức hưởng tương đối hợp lý phải:

 Căn cứ vào sự tương quan giữa các loại bảo hiểm trong nước

 Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội, khả năng đóng góp củangười lao động, người sử dụng lao động

- Quy định tại điều 16 chương III:

Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiềnlương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trướckhi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động

*Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thờigian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thờigian được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được thực hiện theo quy địnhtại khoản 2 Điều 82 của Luật Bảo hiểm xã hội : 03 tháng, nếu có từ đủ 12 đếndưới 36 tháng đóng BHTN; 06 tháng, nếu có từ đủ 36 đến dưới 72 tháng đóngBHTN; 09 tháng, nếu có từ đủ 72 đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng,nếu có từ đủ một 144 tháng đóng BHTN trở lên

1.5 Hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm:

Trang 18

Theo Điều 17, Chương III, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề chongười lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiệnthông qua các cơ sở dạy nghề Mức hỗ trợ học nghề bằng mức chi phí họcnghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề Thời gian được hỗtrợ học nghề không quá 6 tháng tính từ ngày người lao động được hưởng trợcấp thất nghiệp hằng tháng.

Điều 18, Chương III quy định, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giớithiệu việc làm miễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp

do cơ quan lao động thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm.Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao độngđược hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian màngười lao động đó được hưởng trợ cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 củaLuật BHXH

1.6 Thời điểm hưởng và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp:

Điều 20,chương III quy định, Người lao động khi có đủ điều kiệnhưởng BHTN thì được hưởng các chế độ bảo BHTN tính từ ngày thứ 16 kể từngày đăng ký

Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp quy định trong Nghị định này đểxét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảohiểm thất nghiệp được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp chođến khi người lao động bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao độngtheo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theoquy định của pháp luật về cán bộ, công chức mà chưa hưởng trợ cấp thấtnghiệp

1.7 Quy định tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Theo điều 22, chương III, người lao động đang hưởng trợ cấp thấtnghiệp hằng tháng sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thôngbáo hằng tháng với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm hoặc đang bịtạm giam

Trang 19

Việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ được thực hiệnvào tháng tiếp theo khi người lao động vẫn trong khoảng thời gian hưởng trợcấp thất nghiệp và tiếp tục thực hiện thông báo hằng tháng với cơ quan laođộng về việc tìm kiếm việc làm hoặc sau thời gian tạm giam, người lao độngvẫn trong khoảng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp.

1.8.Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Điều 23, Chương III, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứthưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợcấp thất nghiệp; có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu;sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu màkhông có lý do chính đáng; không thông báo về tình hình việc làm với tổ chứcBHXH trong ba tháng liên tục; ra nước ngoài để định cư; chấp hành quyếtđịnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáodục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng

án treo; bị chết

1.9 Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp:

Theo điều 25, Chương IV, Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệpdo: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN,người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóngBHTN của những người lao động tham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngânsách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những ngườilao động tham gia BHTN và mỗi năm chuyển một lần

Ngoài ra quỹ BHTN còn từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ vàcác nguồn thu hợp pháp khác

1.10.Việc đăng ký và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động:Theo điều 34, chương IV, Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày

bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc,người lao động phải đến cơ quan lao động để đăng ký Trong thời gian đang

Trang 20

hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người thất nghiệp phải đến thông báo

với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm

Ngoài ra nghị định còn nêu rõ về: Các chế độ BHTN; Thủ tục thực hiệnBHTN; Khiếu nại tố cáo về BHTN; Các điều khoản thi hành

2 Thực trạng triển khai Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam:

2.1 Tình hình tham giai và thu bảo hiểm thất nghiệp:

- Năm 2009, khi chính sách mới có hiệu lực, cả nước chỉ có 5,9 triệungười tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì tới năm 2015 (khi Luật Việc làm có

hiệu lực thi hành), con số này đã tăng lên 10,3 triệu người, tăng 173% so với

năm 2009 Năm 2017, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 11,7 triệu

người, với số thu là 13.517 tỷ đồng Do số người tham gia bảo hiểm thất

nghiệp tăng nên số người được hưởng trợ cấp cũng có xu hướng tăng qua

từng năm Thống kê, tính đến cuối năm 2017, cả nước có khoảng 3,6 triệu

người được hưởng trợ cấp thất nghiệp Trong đó, một số địa phương có số

người hưởng trợ cấp thất nghiệp cao là TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà

Nội, Đồng Nai, Long An

- Qua 8 năm triển khai thực hiện, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đượcnhiều kết quả đáng khích lệ, được người lao động và người sử dụng lao động

đón nhận một cách tích cực và được dư luận xã hội đánh giá cao

- Số lượng người tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp năm sau đềucao hơn năm trước và đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao,

2009

N ăm 2010

N ăm 2011

N ăm 2012

N ăm 2013

N ăm 2014

N ăm

20

N ăm

20 ăm

Trang 21

7.206.163

7.968.231

8.269.552

8.691.392

9.219.753

10.310.210

11.061.562 1.700.00

5.148,3

6.656,2

8.675,6

10.434,6

11.995,6

9

939,5

11.728 3.517

(Nguồn: báo cáo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam)

- Kể từ ngày 01/01/2015 (khi Luật Việc làm có hiệu lực), do mở rộngđối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp nên số người tham gia bảo hiểm thất

nghiệp năm 2015 đã tăng 11,8% so với năm 2014; năm 2016 tăng 7,3% so

với năm 2015 và vẫn có xu hướng tăng nhưng tỷ lệ tăng không cao ở những

năm tiếp theo

- Theo quy định tại Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thì Ngânsách Nhà nước hỗ trợ cho Qũy bảo hiểm thất nghiệp tối đa 1% quỹ tiền lương

tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia

bảo hiểm thất nghiệp khi kết dư Qũy bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn 2 lần tổng

chi bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề Hiện nay, do kết dư của Qũy

bảo hiểm thất nghiệp lớn nên năm 2015, năm 2016 và một số năm tiếp theo,

Qũy bảo hiểm thất nghiệp không có sự hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước mà tổng

thu bảo hiểm thất nghiệp trong năm chỉ bao gồm phần đóng của người lao

động và người sử dụng lao động theo quy định

2.2 Tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

Trang 22

Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hộicác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao nhiệm vụ tiếp nhận hồ

sơ hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, xem xét và thực hiện các thủ tục

giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động Tổng hợp

tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2010 đến năm 2016 như sau:

Đơn vị tính: người

T

N ăm 2010

N ăm 2011

N ăm 2012

N ăm 2013

N ăm 2014

N ăm 2015

N ăm 2016

ăm 2017

1

Số người được tư

vấn giới thiệu việc làm

125.562

215.498

342.145

397.338

457.273

463.859

910.448 147.000

Số người được

GTVL

17.240

70.656

106.600

125.736

115.199

144.624 16.936

2

Số người được hỗ

trợ học nghề

270

1.036

4.763

10.610

19.796

24.363

28.537 005.654

Số người không

thuộc diện hưởng TCTN

được HTHN

534

295.416

432.356

464.573

516.483

527.332

592.440 608.000

289.181

421.048

454.839

514.853

526.309

586.254 600.000

(Nguồn: tổng hợp số liệu tình hình thực hiện BHTN của các địa

phương)

- Số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và số người có quyếtđịnh hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng kéo theo chi các chế độ bảo hiểm thất

nghiệp có xu hướng tăng năm sau đều cao hơn năm trước do số người tham

gia bảo hiểm thất nghiệpngày càng tăng Đồng thời, tình hình kinh tế tuy đã

Trang 23

ổn định nhưng còn nhiều khó khăn, tại các doanh nghiệp tình trạng thu hẹpquy mô sản xuất vẫn tiếp diễn kéo theo việc cắt giảm lao động nên số ngườithất nghiệp tăng theo

2.3 Tình hình tư vấn, giới thiệu việc làm:

- Số lượt người được tư vấn chiếm tỷ lệ khá cao so với số người cóquyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên, tỷ lệ được giới thiệu việc làmvẫn còn thấp Việc tư vấn, giới thiệu việc làm tại các địa phương được chiathành 2 loại như sau:

+ Tư vấn lần đầu: Trung tâm đã thực hiện tư vấn về việc làm, chínhsách bảo hiểm thất nghiệp cho 100% số người thất nghiệp khi vừa đến Trungtâm để nộp hồ sơ đề nghịhưởng bảo hiểm thất nghiệp

+ Trong quá trình hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Hằng tháng, trung tâmdịch vụ việc làm theo dõi về việc thông báo tìm kiếm việc làm của người laođộng đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp để tư vấn, giới thiệu việc làm

- Hiện nay, các trung tâm dịch vụ việc làm đã sử dụng nhiều hình thức

tư vấn phù hợp với người lao động tư vấn trực tiếp, tư vấn trực tuyến quamạng Internet, thư điện tử, các công cụ giao tiếp trên mạng máy tính (Yahoo,Skype,…), tổng đài tư vấn (Cần Thơ,…) Nguồn dữ liệu việc làm được trungtâm dịch vụ việc làm lấy từ các doanh nghiệp, người sử dụng lao động đếnđăng ký tuyển dụng tại trung tâm, sàn giao dịch việc làm, đăng ký trực tuyếntrên website, sau đó thống kê và lập bảng danh sách việc làm trống để giớithiệu đến người lao động

- Một số Trung tâm đã đẩy mạnh công tác thông tin thị trường laođộng, trực tiếp liên hệ với các doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn nhằm thuthập nhiều thông tin về tuyển dụng, việc làm trống của của doanh nghiệp để

hỗ trợ người thất nghiệp nhanh chóng có việc làm;

- Một số Trung tâm tích cực tư vấn cho người lao động thất nghiệp có

đủ điều kiện về sức khỏe, học vấn, chuyên môn tham gia đi làm việc có thời

Trang 24

hạn ở nước ngoài Đây cũng là một kênh tư vấn khá thiết thực cho người thấtnghiệp nhằm tăng thu nhập cho bản thân và gia đình họ.

- Tùy theo đặc điểm của từng địa phương thì quy trình giải quyết tưvấn, giới thiệu việc làm cho người thất nghiệp cũng khác nhau, tuy nhiên, cáctrung tâm dịch vụ việc làm thường tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm theo 3hình thức:

- Tư vấn gián tiếp:tư vấn thông qua qua điện thoại, website, tổng

đài hoặc email liên hệ của các trung tâm dịch vụ việc làm Hình thức nàychưa đạt hiệu quả cao do cán bộ trung tâm dịch vụ việc làmkhó tìm hiểu nhucầu, trình độ, kỹ năng cụ thể của người lao động để tư vấn, giới thiệu việc làmphù hợp Mặt khác, tại nhiều Trung tâm, do còn khó khăn về cơ sở vật chấtnên việc cập nhật thông tin về việc làm tại website, tổng đài của trung tâmdịch vụ việc làm nhiều khi còn bị lỗi, chưa kịp thời

- Tư vấn trực tiếp:người lao động trực tiếp đến trung tâm dịch vụ việc

làm để được cán bộ trung tâm dịch vụ việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm.Một số địa phương đã xây dựng mô hình một cửa, theo đó người lao động đến

bộ phận 1 cửa, vào bàn đón tiếp, nhận tích kê thứ tự, sang bàn tư vấn giớithiệu việc làm, nhân viên tư vấn giới thiệu việc làm nắm bắt sơ bộ về nhu cầucủa người lao động, nếu là người đến lần đầu thì phát phiếu tư vấn giới thiệuviệc làm và hướng dẫn ghi đầy đủ các thông tin vào phiếu, đồng thời cập nhậtcác thông tin trên phiếu tư vấn vào máy tính, căn cứ nhu cầu của người laođộng ghi trong phiếu tiến hành tư vấn, giới thiệu việc làm phù hợp cho laođộng Đối với người lao động đến thông báo tìm kiếm việc làm từ tháng thứ 2trở đi, từ bàn đón tiếp chuyển sang, nhân viên tư vấn giới thiệu việc làm, căn

cứ thông tin của phiếu tư vấn lần đầu đã lưu trong máy tính, tiếp tục tư vấngiới thiệu việc làm phù hợp với người lao động Một số địa phương áp dụng

mô hình này rất hiệu quả như Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Đồng Tháp,Khánh Hòa,

Ngày đăng: 12/09/2023, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình “ Chính sách xã hội” của TS. Dương Thị Thục Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội
Tác giả: Dương Thị Thục Anh
2. Luận án Tiến sỹ “ Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc” của Nguyễn Mai Phương năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Mai Phương
Năm: 2014
3. Đề án môn Kinh tế lao động “ Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và trong tương lai” của Nguyễn Thị Thùy Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và trong tương lai
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương
6. “Nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành ở Việt Nam” của Bùi Thi Quỳnh Anh (2008), Hội thảo khoa học:Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Trường đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thi Quỳnh Anh
Nhà XB: Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
7. Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp
Năm: 2008
9. “Báo cáo: Tổng kết tình hình thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp” của Bộ Lao động Thương binh và xã hội năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết tình hình thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Năm: 2017
11. Một số các trang luật điện tử: Luật Việt Nam, Luật Minh Khuê,… và một số bài báo khác trên các báo Dân Trí, Vn. Express, báo Nhân Dân, báo Lao động,… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Việt Nam
Tác giả: Luật Minh Khuê
4. Bài báo khoa học “ Thất nghiệp ở thanh niên Việt Nam và những hệ lụy” của Nguyễn Thị Kim Ngọc đăng tải trên tạp chí “ Khoa học Xã hội Việt Nam”Số 7, năm 2014 Khác
10. Tổng cụ thống kê: các số liệu về số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tổng số tiền chi thu,… qua các năm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w