1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) tiểu luận môn kinh tế đối ngoại việt nam đề tài tác động tiêu cực của xuất khẩu lao động tới việt nam

17 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Tiêu Cực Của Xuất Khẩu Lao Động Tới Việt Nam
Tác giả Nhóm 10 – KT46C
Người hướng dẫn Cô Lâm Thanh Hà
Trường học Học Viện Ngoại Giao Khoa Kinh Tế Quốc Tế
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 613,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cũng có mặt bất lợi của nó, làm suy sụp tăng trưởng kinh tế của đất nước bởi lao động là một trong những nhân tố sản xuất quan trọng của một q

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM

Đề tài:

TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA XUẤT KHẨU LAO

ĐỘNG TỚI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Cô Lâm Thanh Hà

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 10

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 3

1 Khái niệm 3

II NHỮNG TÁC ĐỘNG XẤU CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM 6

1 Xuất khẩu lao động dẫn đến sự ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn lực lao động trong nước 6

2 Kiều hối với những tác động tiêu cực tới kinh tế Việt Nam 8

3 Xuất khẩu lao động đã góp phần tạo ra những vấn nạn xã hội ở Việt Nam cũng như ở nước bạn 10

III ĐỊNH HƯỚNG TRONG TƯƠNG LAI 12

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

1

Trang 3

Nhóm 10 – KT46C

MỞ ĐẦU

Ngày nay với nền kinh tế phát triển của toàn cầu hóa, việc người lao động ra nước ngoài làm việc theo một tổ chức hay cá nhân tự tìm kiếm việc làm là một hiện tượng phổ biến như một tất yếu của xã hội Giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực hoạt động đem lại lợi ích kinh tế - xã hội quan trọng cho nhiều quốc gia Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp đang là một bài toán hóc búa với các nền kinh tế Chính vì thế mà mọi biện pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm nói chung, xuất khẩu lao động nói riêng đều đang được Chính phủ các nước phát triển và chú trọng

Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cũng có mặt bất lợi của nó, làm suy sụp tăng trưởng kinh tế của đất nước bởi lao động là một trong những nhân tố sản xuất quan trọng của một quốc gia

Chính vì thế, cần phải thẳng thắn chỉ ra những điểm hạn chế để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục Bài tiểu luận của nhóm sau đây sẽ đưa ra lý lẽ để bảo vệ quan điểm: Phản đối xuất khẩu lao động Trong quá trình tìm hiểu, tổng hợp và phân tích tài liệu, bài tiểu luận sẽ không thể tránh khỏi những sai sót, mắc phải những suy nghĩ chưa thực sự đầy đủ, chính xác Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của giáo viên hướng dẫn và của các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn!

Trang 4

NỘI DUNG

I TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1 Khái niệm

I.1 Khái niệm xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động được hiểu là việc đưa lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người

I.2 Khái niệm người Việt Nam đi xuất khẩu lao động

Ở nước ta, người đi xuất khẩu lao động được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, như sau:

" Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này"

Hiện nay, lao động đi xuất khẩu lao động theo một trong các hình thức sau đây: (i) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

(ii) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

(iii) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề;

(iv) Hợp đồng cá nhân

2 Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam

2.1 Những ngành nghề xuất khẩu lao động chính ở Việt Nam

Đối với nam giới

3

Trang 5

Nhóm 10 – KT46C

Thường làm công việc trong lĩnh vực xây dựng, cơ khí, sản xuất chế tạo, nông nghiệp, đánh bắt cá gần bờ, xa bờ…hầu hết là những công việc nặng nhọc đòi hỏi phải có sức khỏe tốt Ngoài ra một số các xí nghiệp nhà máy cũng tiếp nhận nam giới vào làm việc cả ở trong lĩnh vực là thế mạnh của phụ nữ như: dệt may, chế biến thực phẩm, thủy sản, lắp ráp linh kiện điện tử

Đối với nữ giới

Nữ giới đi làm việc ở nước ngoài thường làm công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cần mẫn như giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh, lắp ráp linh kiện điện tử, chế biến thực phẩm hoặc dệt may

Giúp việc gia đình là việc làm trong một gia đình và chăm lo việc nhà cho gia đình

đó Công việc trong nhà máy có thể là bất kỳ công việc sản xuất nào Công việc xây dựng

là những công việc ở công trường, bao gồm cả những công việc đòi hỏi sức khỏe như bốc vác vật liệu xây dưng

2.2 Thị trường nhập khẩu lao động Việt Nam

Theo thống kê, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng gia tăng Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macau và một số quốc gia Trung Đông (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ

Một số thị trường chính có nhu cầu cao với lao động Việt Nam là Nhật Bản và Đài Loan với đa dạng các ngành nghề Số lượng lao động tại Đài Loan năm vừa qua là 66.926 người, chiếm gần 50% tổng số lao động được đưa đi xuất khẩu của cả nước, chiếm thị phần lớn thứ hai trong thị trường lao động nhập khẩu của Đài Loan và chủ yếu làm trong các ngành công nghiệp Còn tại Nhật Bản, với hơn 100000 lao động, Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc để trở thành nước có số thực tập sinh nhiều nhất tại đây

Bên cạnh đó, các thị trường như Nhật Bản và Hàn Quốc với mức thu nhập cao luôn

có sức hấp dẫn với người lao động Tuy nhiên, chi phí để đi Nhật Bản khá cao và những yêu cầu rất khắt khe về tay nghề lại gây khó khăn cho đại bộ phận lao động xuất khẩu nghèo và trình độ thấp Trong khi đó, mặc dù chi phí thấp hơn nhưng nhu cầu của thị trường Hàn Quốc lại không cao Hay như một số thị trường mới đang được đẩy mạnh khai thác tại các nước châu Âu, những nước này lại có yêu cầu về trình độ chuyên môn

và trình độ ngoại ngữ của người lao động nên phần lớn lao động Việt Nam không đáp ứng được

2.3 Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020

Năm 2017, xuất khẩu lao động đạt được con số kỷ lục với trên 134.000 lao động được đưa ra nước ngoài, là năm thứ 4 liên tiếp lượng lao động xuất khẩu vượt trên 100.000 người, vượt 28,3% so với kế hoạch và tăng 6,7% so với năm cũ Năm 2018 tiếp tục là một năm nổi bật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động với tổng số lao động Việt Nam

Trang 6

Recommandé pour toi

đi làm việc tại nước ngoài đạt hơn 142.000 người, vượt 30% so với kế hoạch, là năm thứ năm liên tiếp có số lượng vượt mức 100.000 lao động Riêng 6 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã được tổng số gần 67 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 55,82% kế hoạch năm 2019

Năm 2020, do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã điều chỉnh chỉ tiêu đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ 130.000 xuống 70.000 người, giảm gần 50% so với năm ngoái

Theo số liệu mới nhất của Cục Quản lý lao động (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), trong 11 tháng, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 54.307 lao động (20.170 lao động nữ), chỉ đạt 77,6% kế hoạch đã điều chỉnh năm 2020 và chỉ bằng 40,9% so với cùng kỳ năm ngoái Trong 11 tháng năm 2019, tổng số lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài là 132.802 lao động

Trong 11 tháng qua, Nhật Bản là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất với 27.325 lao động (11.151 lao động nữ), tiếp đến là Đài Loan (Trung Quốc) 23.403 lao động, Hàn Quốc 1.077 lao động, Romania 481 lao động, Trung Quốc: 464 lao động, Singapore 341 lao động, Uzbekistan 227 lao động, Algeria 150 lao động và các thị trường khác

Số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong 11 tháng năm 2020

Đơn vị: Người

Quốc gia Số lượng

Nguồn: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Dịch bệnh COVID-19 vẫn đang tiếp tục ảnh hưởng đến việc đưa lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài Chỉ riêng trong tháng 11 có 7.007 lao động (2.397 lao động nữ)

đi làm việc ở nước ngoài, bằng 47,43% so với cùng kỳ năm ngoái Các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam gồm: Nhật Bản: 3.562 lao động, Đài Loan (Trung Quốc) 3.027 lao động, Trung Quốc 142 lao động, Singapore 93 lao động, Romania 71 lao động, Hàn Quốc 45 lao động narn, Ba Lan 31 lao động và các thị trường khác

Hiện nay, việc đưa người lao động đi xuất khẩu lao động nước ngoài là một trong những hoạt động hấp dẫn khá nhiều các đối tượng tham gia Thị trường lao động nước ngoài mặc dù đem lại cho nguồn lao động trong nước cơ hội làm việc với mức thù lao lớn hơn trong nước nhưng nó cũng có rất nhiều vấn đề pháp lý liên quan Nếu không nắm bắt

5

Suite du document ci-dessous

Trang 7

Debate 2

MAPA Conceptul Sitema Nervioso Autonomo Y Simpatico

Fisiología Humana y Prácticas 89% (47)

Chapter 62 Cerebral Blood Flow, Cerebrospinal Fluid, and Brain Metabolism

Physiology CH 1&2Reviewer guyton book

2

1

6

5

Trang 8

rõ được các quy định của cả trong nước và nước ngoài thì quyền lợi của người lao động Việt Nam sẽ rất khó được đảm bảo

II NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1 Xuất khẩu lao động dẫn đến sự ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn lực lao động trong nước

Theo như lý thuyết của các nhà kinh tế học, con người là một nhân tố quan trọng hàng đầu vượt xa các yếu tố khác như tài chính hay các tài nguyên khác của một quốc gia Xuất khẩu lao động dẫn đến sự thất thoát một trong những nhân tố sản xuất quan trọng nhất là lao động

1.1 Trong giai đoạn Việt Nam chuẩn bị bước vào thời kỳ dân số già, xuất khẩu lao động đồng nghĩa với lãng phí nguồn lao động trẻ.

Độ tuổi trung bình của dân số Việt Nam

(đơn vị: tuổi)

Nguồn: Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh trên thế giới Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 54,6 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm 2019

Dự báo độ tuổi trung bình của dân số Việt Nam giai đoạn 2021-2050

(đơn vị: tuổi)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

6

Trang 9

Nhóm 10 – KT46C

Kết quả nghiên cứu chuyên sâu của Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra, giai đoạn

2026-2039, Việt Nam vẫn trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhưng tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đã tăng và đạt trên 10%

Theo như dự báo dân số giai đoạn 2020-2069, dự báo dân số từ 65 tuổi trở lên sẽ vượt 15% tổng dân số vào năm 2039 Dự báo đây là thời điểm chấm dứt thời kỳ cơ cấu dân số vàng đã xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam từ năm 2007

Giai đoạn 2026-2039, Việt Nam vẫn trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhưng tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đã tăng và đạt trên 10% Năm 2026, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già Dự báo, thời kỳ dân số già sẽ kéo dài trong 28 năm (giai đoạn 2026-2054), tương ứng với tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 10,2% đến 19,9% Sau

đó là thời kỳ cơ cấu dân số rất già (giai đoạn 2055-2069) tương ứng với tỷ trọng dân số từ

65 tuổi trở lên chiếm từ 20% đến dưới 29,9%

Lợi thế so sánh về nguồn lao động trẻ cũng sẽ biến mất trong tương lai khi Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2026 Việt Nam đang ở trong những năm cuối cùng của giai đoạn dân số vàng nếu chúng ta không có chiến lược đúng đắn để sử dụng nguồn nhân lực này thì sẽ không tạo được tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam Vậy nên, trong khoảng thời gian này, Việt Nam nên dừng xuất khẩu lao động để tận dụng thời kỳ dân số vàng, tập chung đào tạo nguồn lao động trẻ để tạo nên đội ngũ lao động chất lượng cao cho Việt Nam

1.2 Xuất khẩu lao động làm lãng phí ngân sách của nhà nước và doanh nghiệp dành cho giáo dục nguồn lao động

Chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề năm 2020

là 258.750 tỷ đồng, bằng 24,49% tổng chi thường xuyên ngân sách nhà nước Đây là mức rất cao so với nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu lao động không phải bỏ ra chi phí để nuôi dưỡng người lao động từ nhỏ đến độ tuổi lao động, bao gồm chi phí ăn ở, chi phí đào tạo, bồi dưỡng trình độ văn hóa

Bất cập xảy ra khi nguồn nhân lực ở nước ta ở trong tình trạng thừa lao động chưa được đào tạo nhưng lại thiếu lao động có kỹ năng Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu nguồn tuyển nhân lực Hiện tượng thiếu nhân lực có tay nghề diễn ra ở hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất, xu hướng nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có chiều hướng tăng lên Phần lớn các doanh nghiệp phải đào tạo bổ sung và đào tạo lại tay nghề cho người lao động, đặc biệt là trong những ngành sử dụng công nghệ hiện đại, phức tạp, dẫn đến gia tăng chi phí của doanh nghiệp

1.3 Xuất khẩu lao động còn làm còn làm rấy lên lo ngại về hiện tượng chảy máu chất xám

“Chảy máu chất xám” là một cụm từ ngụ ý cho việc thất thoát nguồn nhân lực giỏi

trong nước ra nước ngoài làm việc Ở Việt Nam, số du học sinh sau khi tốt nghiệp các

Trang 10

trường đại học ở nước ngoài thì đến 70% là không quay về nước Khi đó chúng ta đã đánh mất đi lực lượng lao động có trình độ cao, cần thiết cho sự phát triển của đất nước

3 Kiều hối với những tác động tiêu cực tới kinh tế Việt Nam

I.3 Định nghĩa kiều hối

Kiều hối là tiền bạc được di chuyển từ những người đang trú ngụ hay là lao động ở nước ngoài đến thân nhân của họ tại quê hương Theo ước tính khoảng 20% lượng kiều hối nhận được hàng năm là của người lao động ở nước ngoài

I.4 Tác động tiêu cực của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam

II.1.1 Kiều hối làm gia tăng xu hướng nhập khẩu Nếu coi kiều hối là khoản thu nhập có được lâu dài, hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn là đầu tư Nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn làm tăng phúc lợi tiêu dùng cho hộ gia đình, chứ không hề tác động tới tăng trưởng kinh tế Kiều hối đổ vào Việt Nam phần lớn là các hộ gia đình hưởng, đem tiêu dùng cũng làm tăng tổng cầu, có thể đã góp phần làm mất cung - cầu hàng hóa, khiến lạm phát dễ xảy ra

Điều đáng nói là ở Việt Nam hàng hóa sản xuất trong nước chưa thể thay thế hàng nhập khẩu, thì nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng xa xỉ rất lớn Bởi vì, người lao động khi quay trở về nước, với số tiền tích góp từ nước ngoài, họ bắt đầu có xu hướng nhập khẩu, tiêu dùng những hàng hóa xa xỉ Họ có thể bỏ ra một khoản tiền lớn mua vật dụng tiêu dùng trong nhà đắt tiền như tivi, tủ lạnh trong khi vùng họ sinh sống bị mất điện triền miên; hoặc họ có thể mua ô tô khi cơ sở hạ tầng giao thông không thích hợp với việc di chuyển; hoặc họ mua điện thoại di động đắt tiền trong khi chất lượng dịch vụ điện thoại kém

II.1.2 Kiều hối có thể gây bất ổn cho cán cân thanh toán quốc tế

Ở tầm vĩ mô, kiều hối chính là một nguồn vốn vay bù đắp thâm hụt cán cân Quốc gia có thể duy trì thâm hụt ngân sách lớn nếu đồng thời quốc gia duy trì được luồng kiều hối chảy vào Nếu nguồn kiều hối chảy vào ít hơn hoặc ngừng, ngân sách thâm hụt sẽ dẫn tới cán cân vãng lai không cân bằng, và quốc gia đó phải dựa chủ yếu vào nguồn tiết kiệm từ nước Cán cân thanh toán quốc tế phụ thuộc vào kiều hối là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế có thể dẫn tới ngòi nổ cho suy thoái kinh tế ở nước đang phát triển như Việt Nam Điều này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn

II.1.3 Kiều hối có thể có tác động tiêu cực tới sự phát triển thị trường tài chính

Về nguyên lý, kiều hối sẽ giúp những người nhận giảm áp lực về giới hạn tài chính

Do đó, khi áp lực tài chính giảm xuống thì nhu cầu tín dụng xuất phát từ những người đã được nhận kiều hối sẽ giảm xuống, diễn biến này có thể sẽ gây tác động tiêu cực phần nào đến sự phát triển thị trường tín dụng Bên cạnh đó, kiều hối tăng lên không có nghĩa

là tín dụng cho khu vực tư nhân tăng lên nếu lượng kiều hối đó được sử dụng cho những

8

Ngày đăng: 07/09/2023, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w