1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) học phần kinh tế vĩ mô tiểu luận đề tài gdp các nước đang phát triển 4

31 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề GDP các nước đang phát triển 4
Tác giả Nhóm 2
Người hướng dẫn Lâm Thanh Hà, Nguyễn Thị Minh Hiền
Trường học Học viện Ngoại giao
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, dưới góc độ kinh tế, bắt đầu từ những năm 60, các nước thuộc thế giới thứ 3 còn được gọi là các nước đang phát triển với nền nông nghiệp lạc hậu, hoặc các nước công nông nghiệp đ

Trang 1

SVTH: Nhóm 2

Lớp: KDQT49 - Lớp 3

Hà Nội - 2022

Trang 2

1 Trần Huy Dương KDQT49-C1-0212 Nhóm trưởng

2 Lê Vân Anh KDQT49-C1-0166

3 Hoàng Minh Anh KDQT49-B1-0177

4 Phạm Tùng Minh KDQT49-B1-0286

5 Hoàng Thị Ngọc Minh KDQT49-C1-0276

6 Sừng Mỹ Nhu KDQT49-C4-0308

Trang 4

Mở đầu

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, với việc giải phóng thuộc địa, một nhân tố mới

đã xuất hiện trên sân khấu chính trị quốc tế: "Thế giới thứ 3" "Thế giới thứ 3" được gọi để phân biệt với "Thế giới thứ 1" là các nước có nền kinh tế phát triển -

đi theo con đường Tư bản chủ nghĩa ; và "Thế giới thứ 2" là những nước có nền kinh tế tương đối phát triển đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa Do đó, dưới góc

độ kinh tế, bắt đầu từ những năm 60, các nước thuộc thế giới thứ 3 còn được gọi là các nước đang phát triển với nền nông nghiệp lạc hậu, hoặc các nước công nông nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa Khi nền kinh tế thế giới có những bước chuyển đổi theo hướng toàn cầu hóa thì khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng nhiều Trong khi đó con người ngày càng đòi hỏi phải có cuộc sống tốt đẹp hơn Vì vậy vấn đề phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển đang trở nên rất cấp bách Việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và hậu quả của tình trạng kém phát triển để tìm cách khắc phục, tìm ra giải pháp, hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế nhằm đưa nước thoát khỏi nghèo đói và cùng hòa nhập với nền kinh tế thế giới Để biết được điều này chúng ta cần nghiên cứu về GDP , những đặc điểm chung của các nước (1)

đang phát triển, nguyên nhân và tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế.

Trang 5

M ụ ụ c l c

Chương I: Cơ sở lý luận

Trang 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

I GDP

1.1 Khái niệm GDP

 Có nhiều chỉ tiêu đo lường tổng kết quả mà nền kinh tế tạo ra nhưng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) được coi là thước đo thành tựu kinh tế, là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế

 GDP (Gross Domestic Product) hay Tổng sản phẩm quốc nội, là chỉ tiêu thị trường của tất cả hàng hoá dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một nước, trong một thời

kì nhất định GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển của một vùng lãnh thổ nào đó Chỉ tiêu GDP là kết quả của hàng triệu hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnh thổ của một đất nước Những hoạt động này có thể là do công ty, doanh nghiệp của công dân nước ngoài sản xuất trong vùng lãnh thổ đó, nhưng khôn bao gồm kết quả hoạt động của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngoài

1.2 Công thức

(1) Theo phương pháp chi tiêu (tổng chi tiêu) Phương pháp tính này là phương pháp tính chính xác nhất GDP của một quốc gia sẽ được tính bằng tổng tất cả số tiền các hộ gia đình trong quốc gia đó sử dụng để mua sắm hàng hóa và dịch vụ Áp dụng công thức tính sau:

(2) Theo phương pháp chi phí (theo thu nhập) Nếu tính GDP theo phương pháp này thì sẽ tính bằng tổng tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận và cảtiền thuê sinh ra trong nền kinh tế của nội địa

GDP = W + I + Pr + R + Ti +De

Chú thích:

Trang 7

 W - Wage: Tiền lương

 I - Interest: Tiền lãi

 Pr - Profit: Lợi nhuận

 R - Rent: Tiền thuê

 Ti - Indirect tax: Thuế gián thu hay hiểu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập vàtài sản của người nộp thuế mà đánh vào một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa hoặc dịch vụ

 De - Depreciation: Phần khấu hao (hao mòn) tài sản cố định

1.3 Các thành phần trong GDP

Xuất khẩu ròng (Net Export):

 TIÊU DÙNG - consumption (C) bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ (xây nhà và mua nhà không được tính vào TIÊU DÙNG mà được tính vào ĐẦU TƯ TƯ NHÂN)

 ĐẦU TƯ - investment (I) là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân Nó bao gồm các khoản chi tiêu của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng hay sự xây dựng, mua nhà mới của hộ gia đình (lưu ý hàng hóa tồn kho khi được đưa vào kho mà chưa đem đi bán thì vẫn được tính vào GDP)

 CHI TIÊU CHÍNH PHỦ - government purchases (G) bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho các cấp chính quyền từ TW đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp, đường sá, cầu cống, giáo dục, y tế, Chi tiêu chính phủ không bao gồm các khoản CHUYỂN GIAO THU NHẬP như các khoản trợ cấp cho người tàn tật, người nghèo,

 XUẤT KHẨU RÒNG - net exports (NX)= Giá trị xuất khẩu (X)- Giá trị nhập khẩu(M)

Trang 8

1.4 Ý nghĩa

 Chỉ tiêu GDP là thước đo tốt về quy mô và thành tựu kinh tế của một đất nước Ngân hàng thế giới (WB) hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng như các nhà kinh tế khác nhau sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh các quy mô sản xuất của các nước khác nhau trên thế giới

 GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong các khoảng thời gian khác nhau Trường hợp này, người ta tính tốc độ tăng trưởng của GDP

 Chỉ tiêu GDP còn được sử dụng để phân tích và phản ánh sự thay đổi mức sống của dân

cư Nếu chỉ số suy giảm sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, đồng tiền mất giá, Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân

 Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người sẽ cho biết mức thu nhập tương đối cũng như chất lượng sống của người dân ở mỗi quốc gia

1.5 Thu nhập bình quân đầu người

 GDP bình quân đầu người tiếng Anh là GDP Per Capita

 GDP bình quân đầu người, hay còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người,

là một số liệu GDP của mỗi quốc gia trên cơ sở mỗi cá nhân Nó được tính bằng cách chia GDP của một quốc gia cho số lượng dân số

 GDP bình quân đầu người là một thước đo phổ quát trên toàn cầu để đo lường mức độ giàu có của các quốc gia Trên toàn thế giới, nó được sử dụng bởi các nhà kinh tế cùng với GDP để phân tích mức độ giàu có của một quốc gia và tăng trưởng kinh tế của nó

 GDP bình quân đầu người có thể tính theo giá hiện hành, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ (tính bằng Đồng Việt Nam (VND), Đô la Mỹ (USD)); cũng có thể tính theo giá so sánh

để tính tốc độ tăng (Theo Nghị định 97/2016/NĐ-CP)

 GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2021 là khoảng 3.743 USD Đến năm

2025, GDP bình quân đầu người dự kiến đạt 4.700 - 5.000 USD

1.6 Ngang giá sức mua

1.6.1 Quy luật 1 giá (David Hume 1711-1776)

 Nếu không tính chi phí vận chuyển, hàng rào thương mại, các rủi ro và thị trường

Mở, thì các hàng hoá giống hệt nhau sẽ có giá tương đối là như nhau ở mọi nơi khi quy về một đồng tiền chung]

 Ví dụ: Iphone 13 (Việt Nam) = 19.000.000

1.6.2 Quy luật ngang giá sức mua

 Sức mua đối nội: số lượng hàng hoá mua được bằng một đơn vị nội tệ ở trong nước Nó thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào lạm phát nội tệ

 Sức mua đối ngoại: số lượng hàng hoá mua được ở nước ngoài khi chuyển đổi một đơn

vị nội tệ ra ngoại tệ Nó cũng thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào tỷ giá và lạm phát nước ngoài

=> Ngang giá sức mua là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền, theo tỷ lệ này thì số lượng hàng hoá khi mua được là như nhau ở trong nước và nước ngoài khi chuyển đổi một đơn

vị nội tệ ra ngoại tệ và ngược

Trang 9

 Nếu không tính chi phí vận chuyển, hàng rào thương mại, các rủi ro và thị trường mở và hàng hoá là giống nhau giữa các nước thì tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối phản ánh tương quan sức mua giữa đồng tiền Hay nói cách khác, sức mua là cơ sở để hình thành nên tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối.

1.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng

quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Nguồn: VnEconomy

1.8 Một số khó khăn trong tính GDP

 Hiện tượng trốn thuế của các doanh nghiệp

 Nhiều cơ sở sản xuất nhỏ không có hệ thống sổ sách theo dõi

 Việc ước tính phần sản phẩm tự cung tự cấp

 Năng lực thống kê còn thấp: phương tiện, phương pháp, nhân lực,…

1.9 GDP danh nghĩa và GDP thực tế

 Dữ liệu GDP thô, trước khi lạm phát được gọi là GDP danh nghĩa, là giá trị tiền tệ tổng hợp của sản lượng kinh tế được tạo ra trong một năm tài chính cụ thể, trong biên giới quốc gia,đại diện cho GDP theo giá hiện hành trên thị trường, tức là giá thị trường hiện tại

 Tổng sản phẩm quốc nội thực tế đề cập đến thước đo GDP được điều chỉnh theo mức giá chung, trong một năm tài chính cụ thể, đại diện cho giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch

vụ được sản xuất, sau khi xem xét lạm phát hoặc giảm phát

Trang 10

II Khái niệm các nước đang phát triển

2.1 Định nghĩa theo các tổ chức kinh tế và xã hội

2.1.1 Theo định nghĩa của UN

Liên hợp quốc có nhiều tiêu chí để phân loại các quốc gia theo các mức phát triển khác nhau, trong đó chủ yếu dựa vào chỉ số phát triển con người HDI Các nước có chỉ số HDI thấp hơn 0,79 được coi là các nước đang phát triển

2.1.2 Theo định nghĩa của WB

 Trước năm 2016, WB phân loại hai nhóm là các nền kinh tế phát triển và nền kinh tế đang phát triển theo các tiêu chí về thu nhập, trình độ phát triển kinh tế Theo đó, WB xác định 144 nền kinh tế là thuộc nhóm đang phát triển Đây cũng chính là danh sách mà Việt Nam sử dụng để miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ trong các vụ việc trước đây

 Tuy nhiên, sau năm 2016, WB không phân loại thành hai nhóm nước như trên nữa mà chia thành bốn nhóm nước dựa vào thu nhập quốc dân đầu người: thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp, thu nhập trung bình cao và thu nhập cao Trong đó, các nước thuộc nhóm thu nhập trung bình được coi là các nước đang phát triển ( middle low: 996 USD đến 3.895 USD; middle high: 3.896 USD đến 12.055 USD)

2.1.3 Theo định nghĩa của IMF

Có 3 tiêu chí chính được IMF sử dụng để phân loại quốc gia:

a mức thu nhập bình quân đầu người

b đa dạng hóa xuất khẩu

c mức độ hội nhập vào hệ thống tài chính toàn cầu

=> Tóm lại, các nước đang phát triển là những nước có mức sống, thu nhập, sự phát triển kinh

tế và công nghiệp lân cận ở mức trung bình Từ đây xác định được có 152 nước đang phát triển trên thế giới (Theo thứ tự từ A-Z, bắt đầu với Afghanistan, kết thúc với Zimbabwe)

Trang 11

2.2 Đặc điểm các quốc gia đang phát triển

 Tỷ lệ thất nghiệp và nghèo đói, tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ còn cao

 Tỷ lệ mù chữ cao, cơ sở giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc và y tế không tốt

 Nợ chính phủ không bền vững

 Điều kiện sống ở mức trung bình

 Nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào ngành dịch vụ

 Chênh lệch mức sống và mức lương cao giữa các vùng

 Tận dụng nguồn lực chưa hiệu quả

 Sự phát triển phụ thuộc nhiều từ đầu tư từ các nước phát triển

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN (Phân tích GDP các quốc gia tiêu biểu điển hình của nhóm nước đang phát triển)

Ở mục này chúng tôi lựa chọn phân tích GDP của Trung Quốc và Việt Nam - hai nước cùng thuộc nhóm các nền kinh tế đang phát triển Về Trung Quốc, đây là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giớisau Mỹ Cụ thể, vào năm 2022, GDP của Trung Quốc là 14,72 tỷ USD, xếp ngay sau Hoa Kỳ có GDP là 20,89 tỷ USD Tuy nhiên, do chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn được đặt ra bởi các tổ chức quốc tế nên Trung Quốc vẫn được coi là một nước đang phát triển Cùng với Trung Quốc, Việt Nam được đem ra đánh giá vì đây là quốc gia điển hình cho một nền kinh tế đanh phát triển,khi phân tích có thể đưa ra đánh giá chung cho phần còn lại của nhóm nền kinh tế này

I Trung Quốc

1.1 Tổng quan GDP Trung Quốc

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tính theo GDP danh nghĩa, và nền kinh tế lớn nhấtthế giới tính theo PPP kể từ năm 2014, đây là chỉ tiêu mà theo một số người là thước đo chính xác hơn về quy mô thực sự của nền kinh tế Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai theo GDP danh nghĩa kể từ năm 2010 nhờ tận dụng tốt tỷ giá hối đoái biến động trên thị trường Thậm chí có một dự báo chính thức nói rằng Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo GDP danh nghĩa vào năm 2028 Trong lịch sử, Trung Quốc từng là một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới trong gần hai thiên niên , từ thế kỉ I đến thế kỉXIX

1.2 Cơ cấu GDP

Trang 12

1.3 Sự biến động trong tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc

 GDP của Trung Quốc thời kì 1960 chứng kiến một sự chuyển mình lớn mạnh, tăng từ -30% cho đến gần 20% vào những năm 1965 Sau đó, trong thời kì cải cách, từ 1978 đến

2018, nếu không tính đến những sự tăng, giảm dưới 1%, nền kinh tế Trung Quốc đã trải qua 6 lần biến động lớn nhỏ Những sự dao động này có thể chia ra làm 5 giai đoạn tăng

và 6 giai đoạn giảm

 5 giai đoạn tăng: từ 5.1% (1981) đến 15.2% (1984), từ 8.9% đến 11.7% (1986-1987), từ 3.9% (1990) đến 14.2% (1992), từ 7.7% (1999) đến 14.2% (2007) và từ 9.4% đến 10.6% giai đoạn 2009 đến 2010

 5 giai đoạn giảm bao gồm: 11.7% đến 5.1% (1978 – 1981), từ 15.2% (1984) đến 8.9% (1986), từ 11.7% (1987) đến 3.9% (1990), từ 14.2% đến 7.7% (1992 – 1999), từ 14.2% (2007) đến 9.4% (2009) Và từ 10.6% vào năm 2010 đến 6.6% năm 2018

Trang 13

 Khi mới thực hiện cải cách và mở cửa vào năm 1978, Trung Quốc là một trong những quốc gia nghèo trên thế giới Bốn mươi năm sau, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởngGDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9% (1) Theo Ngân hàng Thế giới (WB), giai đoạn

2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu (2)

 GDP của Trung Quốc giảm từ 3.71% còn 2.24% từ 2019 đến 2020, sau đó là một quá trình tăng từ 5.87% đến 8.11% vào năm 2021

 Đến giai đoạn 2021-2022, GDP Trung Quốc quý 2/2021 tăng trưởng 7.9% so với cùng

kỳ, Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho biết trong ngày 15/07, con số này thấp hơn ước tính tăng trưởng 8.1% của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Reuters GDP quý 2/2021 tăng 1.3% so với quý trước đó Tuy vậy, mức tăng hàng quý này vẫn còn thấp hơn mức 2.6% của quý 4/2020.Trong quý 1/2021, GDP Trung Quốc tăng trưởng18.3% so với cùng kỳ - giai đoạn dịch bệnh hoành hành tại Trung Quốc

 Doanh số bán lẻ tháng 6/2021 tăng 12.1% so với cùng kỳ, cao hơn so với dự báo tăng 11% từ kết quả thăm dò của Reuters.Tăng trưởng doanh số bán lẻ bị tụt lại phía sau so với nền kinh tế chung và ở mức dưới kỳ vọng trong 2 tháng đầu của quý 2/2021 Sản lượng công nghiệp tăng 8.3%, cao hơn dự báo 7.8% của Reuters

 Dựa trên dữ liệu chính thức, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tăng 19.9% so với cùng kỳ, cao hơn mức 18.1% của tháng 5/2021 Ngoài ra, con số này cũng cao hơn dự báo tăng 15.1% của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Bloomberg Tăng trưởng về nhập khẩu giảm tốc xuống mức 26.1% trong tháng 6/2021, thấp hơn nhiều so với mức 39.5% của tháng trước

 Cục Hải quan Trung Quốc công bố dữ liệu 6 tháng đầu năm cho thấy kim ngạch xuất khẩu bằng Nhân dân tệ tăng 28.1% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu tăng 25.9%

Theo tờ Guardian, theo thời gian gần đây, dự báo trước đây cho rằng quý 3 của Trung

Quốc sẽ tăng trưởng khoảng 3,2 - 3,3% Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng từng dự đoán nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 3,2% trong năm 2022.Tuy nhiên số liệu của Cục Thống kê quốc gia công bố vừa qua ghi nhận thực tế GDP từ tháng 7 tới tháng 9 của Trung Quốc tăng 3,9% so với cùng kỳ năm ngoái

 Đây vẫn là mức tăng trưởng thấp nhất của Trung Quốc trong gần bốn thập kỷ qua, tuy nhiên số liệu trên phản ánh sự phục hồi tích cực của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trongbối cảnh đại dịch COVID-19 Những ảnh hưởng từ đại dịch đã khiến quý 2 ghi nhận mứctăng trưởng chỉ 0,4%

 Theo Tân Hoa xã, tính trong ba quý đầu tiên của năm nay, GDP Trung Quốc đã tăng 3%

so với cùng kỳ năm ngoái, nhanh hơn 0,5 điểm phần trăm so với nửa đầu năm nay Ca ngợi số liệu tăng trưởng, theo tờ China Daily, trái ngược với tình hình đầy biến động ở các nền kinh tế lớn, việc tăng trưởng 3,9% trong quý 3 cho thấy nền kinh tế Trung Quốc

có khả năng điều chỉnh nhanh chóng sau một sự trục trặc tạm thời, đồng thời chống lại tác động lan tỏa của một cuộc khủng hoảng địa chính trị quốc tế

* Nguyên nhân của sự biến động GDP

Bắt đầu từ sự kiện cải cách kinh tế của Trung Quốc trong vòng 40, nền kinh tế của đất nước này đã chứng kiến 4 sự kiện low peak - đỉnh thấp đáng chú ý: 1981, 1990, 1999 và 2018

 Sự kiện đỉnh thấp đầu tiên xuất hiện vào năm 1981 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 5,1%

mà nguyên nhân chủ yếu là do những sai lầm nghiêm trọng trong chiến lược phát triển kinh tế “Cách mạng Văn hóa” đã phá hoại nghiêm trọng và cản trở sự phát triển kinh tế của Trung Quốc Năm 1976, tốc độ tăng trưởng kinh tế thậm chí còn thấp hơn 1,6% so

Trang 14

với năm 1975, khiến hàng trăm triệu người không có đủ cơm ăn, áo mặc Sau sự sụp đổ của “Gang of Four” - hay còn được gọi là “Tứ nhân bang” và sự kết thúc của “Cách mạng văn hóa” vào tháng 10 năm 1976, sự thôi thúc của người dân với mong muốn phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của họ, đã xảy ra một trào lưu “tất vì chủ nghĩa xã hội ”

- Chính phủ hy vọng sẽ tạo ra một “Bước nhảy vọt” khác (được gọi là “Bước nhảy vọt của việc học hỏi từ nước ngoài”) thông qua việc mở rộng xây dựng cơ bản và giới thiệu các công nghệ và thiết bị tiên tiến của nước ngoài Các biện pháp chính để thực hiện

“Bước nhảy vọt” bao gồm tăng mạnh đầu tư, xây dựng quy mô lớn các dự án quy mô vừa

và lớn và đưa vào sử dụng một số lượng lớn công nghệ và thiết bị tiên tiến của nước ngoài Tuy nhiên, những biện pháp này đã làm cho mặt trận xây dựng cơ bản kéo dài quá mức, quy mô đầu tư quá lớn nên vượt quá sức của cả nước Hơn nữa, những biện pháp này còn làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng của nền kinh tế quốc gia, vốn đã khá nghiêm trọng, làm cho cơ cấu công nghiệp bất thường “công nghiệp nặng quá nặng, công nghiệp nhẹ quá nhẹ và nông nghiệp lạc hậu” càng trở nên nổi bật

- Tỷ lệ tích lũy của ngành công nghiệp nặng đạt hơn 30% trong nhiều năm liên tục, với 36,5% vào năm 1978, điều này đã làm giảm tiêu dùng và dẫn đến sự tồn tại của các doanh nghiệp hoạt động dưới khả năng sản xuất và sự thiếu hụt nghiêm trọng về năng lượng và giao thông vận tải, cũng như suy thoái kinh tế trong ba năm từ 11,7% năm 1978xuống còn 5,1% năm 1981

 Đỉnh thấp thứ hai xuất hiện vào năm 1990 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 3,9% Nguyên do chính của đỉnh thấp này tồn tại ở nhiều mặt, bao gồm sự kéo dài của

mô hình phát triển tốc độ cao truyền thống, sự phát triển chậm chạp của hệ thống kinh tế mới, nền kinh tế phát triển quá nóng, những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu, "Cuộc biến động ngày 4 tháng 6", cũng nư sự trì trệ của sự kiện cải cách Sau một thời gian thực hiệntoàn diện công cuộc đổi mới, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, do chiến lược phát triển truyền thống theo đuổi số lượng bắt kịp chưa thay đổi cơ bản nên xu hướng theo đuổi thành công trước mắt và lòng tham về tốc độ và số lượng trong phát triển vẫn còn tồn tại Cuộc cải cách vẫn đang được tiến hành - hệ thống cũ vẫn chưa được thay đổi về cơ bản; hệ thống mới chưa được thiết lập Và rất nhiều mâu thuẫn, xích mích và sơ hở đã xảy ra trong “hệ thống đường đôi” với sự tồn tại chung của các viện cũ và mới

- Trong giai đoạn này, lạm phát đầu tư, tiêu dùng và tín dụng gia tăng nghiêm trọng, dẫn đến mở rộng tiền tệ, giá cả tăng cao, nền kinh tế phát triển quá nóng, phân phối quá mức thu nhập quốc dân, suy thoái môi trường kinh tế và rối loạn kinh tế Năm 1988, chỉ số giáchung tăng 18,5% so với năm 1987, đạt mức cao nhất kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tình trạng mua bán hoảng loạn trên toàn quốc do giá cả tăng mạnh, cùng với sự chênh lệch giá quá lớn do “hệ thống đường đôi” gây ra đã dẫn đến sự phổ biến của các thỏa thuận quyền lực vì tiền, sự gia tăng của trục lợi chính thức và tư nhân và lây lan tham nhũng Cải cách phân cấp quyền lực và chuyển giao lợi nhuận khó

đi sâu, những khiếm khuyết của chế độ khoán doanh nghiệp ngày càng bộc lộ, thói kinh doanh khống nghiêm trọng, hiện tượng ban thưởng, vật chất bừa bãi vẫn tiếp diễn mặc dù

đã bị nghiêm cấm nhiều lần , và có một sự phân phối xã hội không công bằng mới về chênh lệch thu nhập Giá cả tăng cao, tham nhũng nghiêm trọng và phân phối không công bằng đã trở thành ba vấn đề xã hội nghiêm trọng nhất thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng và gây bất mãn mạnh mẽ trong nhân dân Một số người thậm chí còn cho rằng chính sách cải cách và mở cửa có vấn đề

Trang 15

- Trước tình hình nghiêm trọng đó, chính phủ Trung Quốc bắt đầu tập trung công tác kinh

tế của mình vào việc điều tiết và quản lý nền kinh tế, và nó chủ yếu thực hiện các biện pháp hành chính để cải thiện môi trường kinh tế và khắc phục các rối loạn kinh tế Ngoại trừ những tiến bộ đạt được trong cải cách giá, hầu hết các cải cách trong các lĩnh vực khác đều bị đình trệ hoặc thậm chí đi lùi Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư

và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990,

và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm 1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuống còn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh

- Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980

và đầu những năm 1990, và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm 1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuống còn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm

1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuống còn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình

 Đỉnh thấp thứ ba xuất hiện vào năm 1999 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 7,7%, phần lớn là do sự tái phát của nền kinh tế quá nóng và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Năm 1992, bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong chuyến thị sát miền nam Trung Quốc đã mang lại một sự thúc đẩy cải cách và phát triển khác ở Trung Quốc Do chưa hình thành hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và chưa thay đổi

cơ bản phương thức phát triển truyền thống, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chủ yếu dựavào đầu tư và xuất khẩu Kết quả là nền kinh tế một lần nữa phát triển quá nóng và phải

hạ nhiệt

- Ngày 2/7/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ ở Thái Lan và sau đó quét qua các nước Đông Nam Á và Đông Á Trung Quốc đã hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế của mình và kiên quyết giữ cho đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc không bị mất giá mặc dù đồng tiền của các nước xung quanh đều mất giá đáng kể, dẫn đến giảm đầu tư nước ngoài, giảm mạnh xuất khẩu và suy thoái của nền kinh tế Điều đáng chú ý là các biện pháp mà chính phủ Trung Quốc thực hiện để đối phó với sự suy thoái kinh tế này là thành công nhất trong quá trình cải cách và mở cửa, vì nó đạt được mức đỉnh thấp vừa phải là 7,7% và “hạ cánh nhẹ” Điều này là do mức độ kiểm soát vĩ

mô của chính phủ Trung Quốc đã được cải thiện Sau khi nền kinh tế phát triển quá nóng,chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng áp dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ, dẫn tớitình trạng “Bong bóng kinh tế” trong nền kinh tế Trung Quốc, trước khi diễn ra sự bùng

nổ khủng hoảng tài chính Châu Á

 Đỉnh thấp thứ tư xuất hiện vào năm 2018 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 6,6% Nhìn chung, nguyên nhân chính của đỉnh thấp này bao gồm cơ cấu kinh tế bất hợp lý, cung ứng quá mức kém hiệu quả, cung ứng thiếu hiệu quả, đầu tư và tiêu dùng không đủ và sự suy yếu của ba động lực chính của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là đầu tư, xuất khẩu

và tiêu dùng

Ngày đăng: 07/09/2023, 23:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w