MỞ ĐẦU Văn hóa được coi như là một sức mạnh mềm của mỗi quốc gia và việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của đảng nhà nước mà là của mọ
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Môn: Văn hoá Việt Nam và Hội nhập Quốc tế
Đề tài: “TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN” TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM
THỜI PHONG KIẾN VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên : TS Trần Thị Hồng Thuý
TS Đào Ngọc Tuấn
Trang 2II Định nghĩa “Tam giáo đồng nguyên": 4
B Tìm hiểu chi tiết 5
I Phật giáo 5
1.1 Tổng quan về Phật giáo: 5
1.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 6
1.3 Phật giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam: 6
1.4 Phật giáo trong thời kỳ hiện đại 8
II Nho giáo 10
1.1 Tổng quan chung về Nho giáo 10
1.2 Sự du nhập của Nho giáo vào xã hội Việt Nam và đặc thù của nó 11
1.3 Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam 12
1.4 Nho giáo trong thời kỳ hiện đại: 14
III Đạo giáo 17
3.1 Tổng quan chung 17
3.2 Sự du nhập của Đạo giáo vào xã hội Việt Nam 18
3.3 Đạo giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam 19
3.4 Đạo giáo trong thời kỳ hiện đại 21
IV “Tam giáo đồng nguyên" thời kỳ hiện đại 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3MỞ ĐẦU
Văn hóa được coi như là một sức mạnh mềm của mỗi quốc gia và việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của đảng nhà nước mà là của mọi thành phần xã hội trong đó có các tổ chức tôn giáo vàcác bộ phận giới trẻ ngày nay
Trong giai đoạn phát triển ngày nay với sự xuất hiện của văn hóa hội nhập ở thời
kỳ toàn cầu hóa, các nền văn hóa ngày càng có nhiều cơ hội giao lưu và giao thoa văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Ngày càng có nhiều các nền văn hóa được du nhập vào Việt Nam và tồn tại cùng với văn hóa truyền thống đã và đang biến đổi sâu sắc theo xu hướng mai một bản sắc Điều này dẫn đến hiện tượng ý thức về việc giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc trong một bộ phận lớp trẻ ngày một yếu đi chính
Với nền tảng văn hóa Tam giáo đồng nguyên dân tộc Việt Nam tự hào giữ gìn
được bản sắc dân tộc với nhiều nét đẹp truyền thống vốn có điểm thôi tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong suốt chặng đường hội nhập quốc tế, phát triển đất nước
Với những lý do trên nhóm 4 xin phép khai thác đề tài “Tam giáo đồng nguyên”
trong xã hội phong kiến Việt Nam và sự tồn tại của nó ở Việt Nam hiện nay
làm đề tài tiểu luận của nhóm 4
Trang 4NỘI DUNG
A Các khác niệm
I Tổng quan về tôn giáo I.1 Định nghĩa tôn giáo:
Trong từ điển tiếng Việt, tôn giáo được định nghĩa như sau:
- Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái
những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ;
- Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay những vị thần linh
nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy
I.2 Tôn giáo ở Việt Nam : 1
Có nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo ở Việt Nam:
- Việt Nam thuộc cộng đồng các quốc gia Phật giáo (cùng Lào, Campuchia, Thái Lan…)
- Việt Nam nằm trong cộng đồng các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…)
- Tôn giáo ở Việt Nam mang tính tổng hợp, theo nguyên lý Tam giáo đồng
nguyên Trong đó, Phật giáo giữ vai trò là cơ sở, chất “dung môi” để hòa trộn
hai yếu tố còn lại
⇒ Đối với Việt Nam, việc sử dụng công cụ định vị văn hóa Tôn giáo là rất khó khăn do thiếu tính thuần nhất về tín ngưỡng và tôn giáo
II Định nghĩa “Tam giáo đồng nguyên":
Tam giáo đồng nguyên (Đồng nguyên: cùng một gốc) bao gồm ba tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cùng hòa vào làm một Xuất phát từ Đào Hoằng Cảnh (456-536), là người đầu tiên đề ra thuyết này với lý lẽ rằng ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều cùng một nguồn gốc là đưa con người đến đỉnh cao của như ý toại nguyện Hiện tượng này phổ biến ở một số nước Á Đông, điển hình là
Trung Quốc và Việt Nam Ở Việt Nam: tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đóng vai
trò quan trọng trong suốt thời phong kiến ở nước ta, khi thịnh trị của các vương
1 TS Phạm Thái Việt, TS Đào Ngọc Tuấn (2004), Đại cương về văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà
Trang 5triều hay khi các triều đại bắt đầu suy vong Có thể thấy tính chất Tam giáo đồng
nguyên được thể hiện ngay trong khuôn mẫu, hình ảnh những trí thức phong kiến
cũng như đường hướng cai trị của các triều đại Trong đó, Nho giáo là hệ tư tưởng dùng để quản lý xã hội, Phật giáo là quốc giáo, còn Đạo giáo có ảnh hưởng nhất định trong các tầng lớp dân cư Người làm quan lúc đó ngoài việc am hiểu kinh, sử của đạo Nho cần biết cả nguyên lý của Đạo giáo, Phật giáo
B Tìm hiểu chi tiết
I Phật giáo I.1 Tổng quan về Phật giáo:
I.1.1 Khái niệm
Phật giáo (Buddism) hay đạo Phật, không chỉ là một tôn giáo, mà còn có thể xem như một triết học, “một lối sống” Từ Buddha được phiên âm ra tiếng Việt là Bụt hay Phật, không phải là tên riêng Đó là một quả vị, có nghĩa là người Giác ngộ, người Tỉnh thức, hoặc là người Biết như thật, là người đã hoàn toàn giải thoát, không còn bị sinh tử luân hồi Đạo Phật bao gồm các giáo lý, tư tưởng triết học, cũng như tư tưởng về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích cho các hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, nhằm hướng con người tới một lối sống Chân
I.1.2.3 Tính linh hoạt:
Tính linh hoạt của Phật giáo Việt Nam khi tự tạo riêng ra lịch sử Phật giáo và người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa, coi truyền
Trang 6thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật, đồng nhất ông bà, cha mẹ với Phật và Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi người, ban phát phước lành cho người dân.
I.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 3
Một trong những tôn giáo du nhập vào Việt Nam sớm nhất là Phật giáo Nhưng khác với nhiều tư tưởng cho rằng Phật giáo Việt Nam được truyền bá từ Trung Quốc, nhiều nguồn sử liệu cho thấy rằng, Phật giáo ở Việt Nam được du nhập trực tiếp từ Ấn Độ vào những năm đầu Công nguyên, rồi sau đó mới truyền qua Trung Quốc
Có nhiều tư liệu viết về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam , đạo Phật du nhập và phát triển ở Việt Nam được thể hiện qua các mốc thời gian sau:
- Từ khi Phật giáo du nhập vào cho đến thế kỷ X
- Phật giáo thời Đinh - Lê - Lý - Trần (X-XV)
- Phật giáo thời Lê Sơ đến nhà Nguyễn (XV-XX)
- Phật giáo thế kỷ XX và hiện nay
I.3 Phật giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam: 4 I.3.1 Phật giáo thời Đinh - Lý - Trần (thế kỷ XX - XV)
Từ thế kỷ X, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc Việc này đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một bước mới Dưới hai triều đại Đinh - Lê, tuy không tuyên bố Phật giáo là Quốc đạo nhưng đã công nhận Phật giáo là tôn giáo chính của cả nước Các triều Vua Đinh - Lê có nhiều chính sách nâng đỡ đạo Phật Đặc biệt Vua Lê Đại Hành và Vua Đinh Tiên Hoàng
đã trọng dụng và phong thưởng cho nhiều nhà sư có công giúp Vua lo việc triều chính
Năm 971, Vua Đinh Tiên Hoàng đã triệu tập các vị cao tăng để định rõ phẩm trật cho tăng chúng Thiền sư Ngô Chân Lưu (933-1011), hậu duệ của Ngô Quyền đượcĐinh Tiên Hoàng tôn làm Khuông Việt Thái sư (khuôn mẫu cho nước Việt) và đượcphong chức Tăng thống đứng đầu Phật giáo cả nước Pháp sư Ma Ni được phong Tăng lục, đứng dưới chức Tăng thống; Pháp sư Đặng Huyền Quang với chức Sùng
3 TS Lê Tuấn Huy (2015), Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta và ảnh hưởng của nó trong thế kỉ X-XIV.
4 Ngọc Anh (2020), Tìm hiểu về quá trình du nhập và phát triển đạo Phật ở Việt Nam, Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh
Trang 7trấn uy nghi Các chức phẩm này của Phật giáo được các triều đại sau kế tiếp duy trì Đến thời kỳ dưới triều Vua Lê Đại Hành, ngoài các vị cao tăng trên còn có thêmThiền sư Đỗ Pháp Thuận (915-990) - là người ở đời thứ 10 của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi được Vua trọng dụng, giúp triều đình trong việc đối nội, đối ngoại.
Ở hai triều Đinh - Lê không chỉ trọng dụng các tăng sĩ mà còn hỗ trợ cho Phật giáo phát triển Vua Lê Đại Hành và Đinh Tiên Hoàng đã cho xây dựng nhiều chùa tháp ở vùng Hoa Lư, biến nơi đây không chỉ là một trung tâm kinh tế - chính trị -
xã hội mà còn là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước
Tuy nhiên, đến triều nhà Lý thì mới được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam vì Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ (người sáng lập triều Lý) xuất thân từ chốnthiền môn (là người cùng thụ giới Sa Di với Sư Vạn Hạnh) nên ông hết lòng ủng hộcho Phật giáo Sau lễ đăng quang, Lý Thái Tổ ra sắc chỉ ban phẩm phục cho hàng tăng sĩ Năm 1010, sau khi dời đô về Thăng Long, ông cho xây dựng một số chùa lớn ở Thăng Long như Thiên Phủ, Hưng Long và cho tu bổ lại các chùa bị hư hỏng.Dưới triều Lý đã có rất nhiều nhà sư nổi tiếng về việc tu hành và có những đóng góp cho đất nước như sư Vạn Hạnh được Lý Thái Tổ phong làm Quốc sư; Huệ Sinh được Lý Thánh Tông phong làm Tăng thống
Dưới triều nhà Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh và trở thànhtôn giáo chính thống của cả nước Vị vua đầu tiên của Triều Trần là vua Trần Thái Tông trong ba mươi ba năm giữ ngôi (1225-1258), ông vừa trị quốc vừa nghiên cứuPhật giáo và trở thành người có trình độ Phật học uyên thâm Bản thân ông cũng đãviết rất nhiều sách văn thơ mang tư tưởng Phật giáo như Thiền tông chỉ nam, Lục thời xám hối khóa nghi, Kim cương tam muội chú giải Dưới thời nhà Trần, ngoài Vua Trần Thái Tông thì còn có nhiều vị Vua, quan khác đóng vai trò quan trọng đốivới sự phát triển của đạo Phật được lịch sử ghi nhận và tôn vinh
Trong thời kỳ nhà Trần, ở Việt Nam xuất hiện phái Thiền Trúc lâm Yên Tử Thực
ra, Thiền Trúc lâm Yên Tử là thế hệ thứ IV của truyền thống Yên Tử thuộc Thiền
Vô Ngôn Thông nhưng đến đời vua Trần Nhân Tông mới trở thành phái thiền riêng
có tư tưởng nhập thế với ba vị tổ sư là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Nét đặc sắc của Thiền Trúc lâm Yên Tử là quy tụ được tất cả các dòng thiền
có ở Việt nam như Tỳ Ni Đa Lưu Chi,Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, do đó Thiền
Trang 8Trúc lâm Yên Tử được xem là dòng thiền thuần túy ở Việt Nam và là nền móng đầutiên cho việc thống nhất Phật giáo ở Việt Nam.
I.3.2 Phật giáo thời Lê sơ đến nhà Nguyễn
Từ triều Lê Sơ (thế kỷ XV) trở đi, chế độ Phong kiến ở Việt Nam phát triển lên một bước mới, lấy Nho giáo làm chỗ dựa cho tư tưởng chính trị và đạo đức nên Phật giáo từ chỗ phát triển cực thịnh đã suy yếu dần Tuy nhiên với truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc thì Phật giáo vẫn giữ được gốc rễ sâu bền trong lòng nhân dân; đồng thời với thái độ khoan dung, Phật giáo đã làm cho tư tưởng Tam giáo (Phật, Lão, Nho) vốn có từ trước bắt đầu mang một sắc thái mới
Thời kỳ Nam - Bắc triều, khi chúa Trịnh ở đàng ngoài, chúa Nguyễn ở đàng trong, Phật giáo có sự khởi sắc trở lại khi các Chúa Trịnh, Nguyễn đều tạo điều kiện cho việc tôn tạo, sửa chữa chùa chiền Trong giai đoạn này có nhiều chùa đượcChúa Trịnh, Nguyễn cho xây dựng như: chùa Phúc Long (xây năm 1618), chùa Thiền Tây ở Vĩnh Phúc (xây năm 1727), chùa Thiên Mụ ở Huế (xây năm 1601) Cũng thời kỳ này, ở Việt Nam xuất hiện phái thiền mới là Thiền Tào Động
ở đàng ngoài và Thiền Lâm tế ở Đàng trong
I.4 Phật giáo trong thời kỳ hiện đại I.4.1 Thực trạng Phật giáo ở Việt Nam thời hiện đại
Theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2020 và Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam hiện có hơn 4,600,000 tín đồ Phật giáo, cả nước có gần 45 triệu tín
đồ quy y tam bảo, khoảng 44.498 tăng ni, hơn 14.775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường
Tổ chức lớn nhất: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
- Là tổ chức Phật giáo toàn quốc của Việt Nam, là đại diện Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, được thành lập năm 1981 và phát triển mạnh
Trang 9Hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 04 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ
- Đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Phật học tại học viện Phật giáo Việt Nam –
TP Hồ Chí Minh có 155 Tăng ni sinh theo học
- Học viện Phật giáo Việt Nam đã có 2.210 Tăng ni sinh tốt nghiệp cử nhân Phật học, đang đào tạo 1.732 Tăng ni sinh 6
Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn thường xuyên tham gia và tổ chức nhiều hội thảo khoa học về tôn giáo với tinh thần học hỏi, cầu thị
Phật giáo Việt Nam có nhiều hoạt động sôi nổi góp phần vào xây dựng đời sống của nhân dân cả nước: Tham gia hiến máu nhân đạo, dọn vệ sinh tại các khu công cộng, khắc phục thiên tai, xây nhà tình thương, tham gia đoàn cứu trợ đồng bào vùng sâu, các trại trẻ mồ côi, người già, người tàn tật, tổ chức và tham gia các đợt học tập, huấn luyện về phòng chống dịch tệ nạn, dịch bệnh…
- Trong phạm vi cả nước có trên 1000 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, nuôi dạy trẻ mồ côi khuyết tật, với trên 20.000 trẻ em…
- Số tiền cho công tác từ thiện của Giáo hội trong nhiệm kỳ qua lên đến 15 tỷ đồng
Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân ở nhiều lĩnh vực: chính trị,văn hóa, tư tưởng, đạo đức… Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, đã
6 TS Trần Thị Hằng (2017), Đào tạo Tôn giáo học ở Việt Nam quá trình hình thành và phát triển, NXB Tôn giáo,
Trang 10và đang đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển toàn cầu
Trong bối cảnh xu thế đổi mới và hội nhập toàn cầu của đất nước, trong tinh thần hòa bình, hữu nghị, để hợp tác cùng nhau góp phần củng cố nền hòa bình, Phật giáoViệt Nam đã phát triển theo hướng tích cực hội nhập quốc tế Cụ thể như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tham gia vào tổ chức “Giáo hội Phật giáo Thế giới” và tổ chức “Phật giáo châu Á vì hòa bình”
I.4.3 Vấn đề:
Tuy mang lại nhiều giá trị tích cực cho xã hội trên nhiều phương diện, sự phát triển của Phật giáo trong một thời kì liên tục đổi mới cũng xuất hiện những chiều hướng xấu, đi ngược lại với giá trị của đạo Phật:
Phật giáo đang gặp nhiều vấn nạn từ mặt trái của kinh tế thị trường, ảnh hưởng rõnét đến lớp Tăng ni hiện nay Ví dụ: hiện tượng một số Tăng ni có lối sống thiên về thực dụng, hưởng thụ, nhiều tiêu cực nảy sinh trong cuộc sống tu hành, dẫn đến sự xuống cấp đạo đức
Hiện tượng một số kẻ lợi dụng thần Phật để mưu cầu lợi ích cá nhân Chùa chiền được mở rộng với quy mô trên mức bình thường và đôi khi việc xây chùa dựng tháp lại mang tính chất thương mại của cá nhân, doanh nghiệp
Đối với quần chúng Phật tử nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung thì mê tín dị đoan vẫn luôn là nỗi trăn trở Tại những cơ sở tín ngưỡng, tình trạng người đến xin bói quẻ thường xuyên diễn ra, và hiện tượng lạm dụng tín ngưỡng cũng thường xảyra
II Nho giáo 1.1 Tổng quan chung về Nho giáo
Nho giáo hay còn được gọi là đạo Nho hoặc đạo Khổng, ra đời vào khoảng thế kỉ
VI TCN ở Trung Quốc là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội do Khổng Tử thành lập và được các đệ tử của ông trên khắp nơi phát triển với mục đích tạo dựng một xã hội tốt đẹp với những con người có đạo đức và lễ nghi chuẩn mực từ đó tạo thành nền móng vững chắc để phát triển đất nước
Trang 11“Nho”: theo Hán tự, do chữ Nhân và chữ Nhu ghép lại Nhân là người, Nhu là cầndùng Nho giáo là một tôn giáo hay một học thuyết có hệ thống và có phương 7
pháp, dạy về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm một con người trong gia đình và trong xã hội
Những người sống và làm việc theo các tư tưởng được đề cập đến trong Nho giáothì được gọi là các “Nho sĩ” trong đó chữ “Nho” là để chỉ những người có học thức,biết phép cư xử và lễ nghĩa đúng Tôn chỉ chính của Nho giáo bao gồm 3 điều đó chính là:
- Con người và vạn vật trời đất đều có tương thông với nhau
- Mọi việc đều phải lấy thực nghiệm để chứng minh
- Và lấy trực giác và năng khiếu để tìm hiểu làm rõ vạn vật
1.2 Sự du nhập của Nho giáo vào xã hội Việt Nam và đặc thù của nó 1.2.1 Sự du nhập
Nho giáo là học thuyết triết học của Trung Quốc được hình thành và phát triển qua
ba giai đoạn lớn, từ Nho thời Tiên Tần đến Nho Lưỡng Hán và Nho thời Tống - Minh - Thanh
1.2.3 Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX có những đặc điểm, tính chất sau: 8
- Tính phức tạp của quá trình du nhập Nho giáo
- Tính dung hợp của Nho giáo với Phật giáo và Đạo giáo trên cơ sở văn hóa
truyền thống Việt Nam
- Tính Việt hóa Nho giáo.
7 PGS Hà Hoàng Kiệm (2016), Tìm hiểu về Nho giáo (Khổng giáo).
8 Phạm Thị Loan (2015), Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến thế kỉ XIX, NXB
Trang 121.2.4 Đặc thù : 9
1.2.4.1 Xu hướng ưa ổn định:
Xã hội quốc gia cổ đại vùng Trung Hoa với cái gốc du mục luôn đầy biến động Bởi vậy, mục đích của Nho giáo là tạo ra một xã hội ổn định Đối với văn hoá Việt Nam nông nghiệp, ước mong về một cuộc sống ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu dời Nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam và Trung Hoa từng phải thực hiện đều mang tính tự vệ
1.2.4.2 Trọng tình người:
Vì trọng tình vốn là truyền thống văn hoá lâu đời của Việt Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, dù là Nho giáo đã đựơc cải biến nhiều lần, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ Nhân hơn cả Nhân - đó là lòng thương người
1.2.4.3 Xu hướng trọng văn:
Là truyền thống của văn hoá nông nghiệp Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hoá nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo nguyên thuỷ rất coi trọng văn, trọng văn hoá, trọng kẻ sĩ, trong khi đó thì “võ”, “dũng” lại ít được nhắc đến
1.2.4.4 Tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc
Ở Việt Nam đây là một truyền thống rất mạnh.Trái lại, tư tưởng trung quân ở Nhogiáo Trung Hoa đóng vai trò quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến
1.2.4.5 Tâm lý khinh rẻ nghề buôn:
Ở Việt Nam là sản phẩm của truyền thống văn hoá nông nghiệp, của tính cộng đồng và tính tự trị Nó đã bám rễ vào suy nghĩ và tình cảm mỗi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không phát triển được, nó còn khái quát hoá thành quan điểm: Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt và đường lối trọng nông ức thương
Nho giáo Trung Hoa đã đựơc người Việt Nam dỡ ra, cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình như thế là vì giữa Nho giáo Trung Hoa và văn hoá Việt Nam có những nét tương đồng Như vậy, với tất cả những đặc điểm trên, Nho giáo Việt Nam là một thứ Nho giáo mang bản sắc riêng khá độc đáo