1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

91 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cam Kết Về Lao Động Cưỡng Bức Và Sử Dụng Lao Động Trẻ Em Trong Các Hiệp Định Thương Mại Tự Do Thế Hệ Mới
Tác giả Nguyễn Thị Kim Cúc
Người hướng dẫn TS. Ngô Hữu Phước
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI (15)
    • 1.1. Những vấn đề cơ bản về cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (15)
      • 1.1.1. Khái niệm cam kết về lao động (15)
      • 1.1.2. Nội dung cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (19)
      • 1.1.3. Vai trò của cam kết về lao động trong hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (31)
    • 1.2. Những vấn đề cơ bản về lao động cưỡng bức (34)
      • 1.2.1. Khái niệm lao động cưỡng bức (34)
      • 1.2.2. Phân loại lao động cưỡng bức (35)
      • 1.2.3. Các dấu hiệu của lao động cưỡng bức (36)
    • 1.3. Những vấn đề cơ bản về lao động trẻ em (39)
      • 1.3.1. Khái niệm lao động trẻ em và tuổi lao động tối thiểu (39)
      • 1.3.2. Những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (41)
  • CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XOÁ BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN . 39 2.1. Các quy định về xoá bỏ lao động cưỡng bức và lao động trẻ em trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên (45)
    • 2.1.1. Những nội dung cơ bản về xoá bỏ lao động cưỡng bức và lao động trẻ em (45)
    • 2.2. Pháp luật lao động Việt Nam về xoá bỏ lao động cưỡng bức (50)
      • 2.2.1. Các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về xoá bỏ lao động cưỡng bức (50)
      • 2.2.2. Một số kiến nghị về xoá bỏ lao động cưỡng bức (65)
    • 2.3. Pháp luật lao động Việt Nam về xóa bỏ lao động trẻ em (70)
      • 2.3.1. Các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về xóa bỏ lao động trẻ em (70)
      • 2.3.2. Một số kiến nghị về xóa bỏ lao động trẻ em (75)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH[.]

TỔNG QUAN VỀ CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

Những vấn đề cơ bản về cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

mại tự do thế hệ mới

1.1.1 Khái niệm cam kết về lao động

Các cam kết về lao động, theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thường được quy định trong nhiều hình thức cam kết và thỏa thuận thương mại, đặc biệt là các cam kết thương mại đơn phương và hiệp định thương mại song phương và khu vực Cam kết thương mại đơn phương thường là ưu đãi thương mại một chiều từ quốc gia phát triển dành cho các quốc gia đang phát triển Một ví dụ tiêu biểu là hệ thống ưu đãi phổ cập của Hoa Kỳ năm 1984, là cam kết thương mại đơn phương đầu tiên đề cập đến cam kết về lao động Theo đó, một trong các điều kiện để các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại là việc thực hiện hoặc nỗ lực công nhận quyền của người lao động theo các tiêu chuẩn quốc tế.

(i) quyền tự do lập hội;

(ii) quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể;

(iii) quyền tự do lao động, không là nạn nhân của lao động cưỡng bức; (iv) quyền được đảm bảo về độ tuổi làm việc tối thiểu;

Quyền được đảm bảo về điều kiện làm việc chấp nhận bao gồm mức lương tối thiểu, thời gian làm việc hợp lý, và an toàn vệ sinh lao động Các cam kết cần được thực thi nhằm xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất Các tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động, và các tổ chức xã hội dân sự có thể nộp đơn khiếu nại về các hành vi vi phạm các quy định này.

Năm 1995, Ủy ban châu Âu đã thiết lập các cam kết về lao động trong hệ thống ưu đãi phổ cập của Liên minh châu Âu.

6 ILO (2016), Studies on Growth with Equity: Assessment of labour provisions in trade and investment arrangements, Printing and Distribution Branch (PRODOC) of the ILO, tr.21

7 UNCTAD (2016), Generalized System of Preferences: Handbook on the Scheme of the United States of America, United Nations, tr.9

Hệ thống ưu đãi phổ cập của EU áp dụng phương pháp "cà rốt và cây gậy", bao gồm các biện pháp trừng phạt đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng các cam kết về lao động và ưu đãi bổ sung cho những quốc gia thực thi đầy đủ quyền lợi của người lao động Qua các thế hệ, các quyền và lợi ích này đã được mở rộng Ở thế hệ đầu tiên năm 1995, các ưu đãi thương mại sẽ bị rút bỏ nếu có vi phạm nghiêm trọng liên quan đến lao động cưỡng bức Hệ thống thế hệ thứ hai năm 1999 đã mở rộng nội dung cam kết, yêu cầu các quốc gia thực hiện đầy đủ các quyền như tự do liên kết, công nhận quyền thương lượng tập thể, xóa bỏ lao động trẻ em và phân biệt đối xử trong việc làm Cuối cùng, ở thế hệ thứ ba, việc vi phạm nghiêm trọng các cam kết về bốn tiêu chuẩn lao động quốc tế sẽ dẫn đến việc rút bỏ ưu đãi thương mại, trong khi các ưu đãi bổ sung sẽ được cấp cho các quốc gia tuân thủ các tiêu chuẩn này.

Các hiệp định thương mại song phương và khu vực phản ánh sự chuyển hướng trong chính sách tự do hóa thương mại toàn cầu, cho thấy sự hợp tác ngày càng tăng giữa các quốc gia trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư.

Kể từ khi kết thúc vòng đàm phán U-ru-goay, thương mại đa phương đã dần nhường chỗ cho sự phát triển của thương mại song phương và khu vực Xu hướng “phân mảnh” trong hệ thống thương mại toàn cầu đã xuất hiện như một phản ứng tự nhiên trước những bế tắc trong các cuộc đàm phán thương mại đa phương.

8 ILO, International Institute for Labour Studies (2009), World of Work Report 2009: The Global Jobs Crisis and Beyond, ILO Publications, International Labour Office, tr 67

Theo Baldwin (2006), sự chuyển hướng sang ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh vòng đàm phán Đô-ha Tính đến đầu năm 2020, Tổ chức Thương mại thế giới ghi nhận 262 FTA trong tổng số 484 hiệp định thương mại khu vực Ngày nay, FTA không chỉ giới hạn trong các thỏa thuận hội nhập khu vực hay song phương đơn giản, mà đã phát triển thành các thỏa thuận sâu hơn giữa nhiều quốc gia, được gọi là FTA thế hệ mới Những hiệp định này không chỉ bao gồm các lĩnh vực truyền thống như biện pháp phi thuế quan và thương mại dịch vụ, mà còn mở rộng ra các vấn đề phi truyền thống như lao động và môi trường.

Cam kết về lao động đã trở thành nội dung quan trọng trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) là FTA đầu tiên có quy định liên quan đến cam kết lao động, thông qua Hiệp định Hợp tác lao động Bắc Mỹ (NAALC) Hiệp định này đã liệt kê 11 nguyên tắc lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.

Quyền tự do hiệp hội bao gồm quyền thành lập công đoàn và quyền liên kết để hình thành các hiệp hội lớn hơn của người lao động, đảm bảo rằng họ có thể tổ chức và bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

(ii) quyền thương lượng tập thể;

Chương trình nghị sự Đô-ha về phát triển, hay còn gọi là 10 Vòng đàm phán Đô-ha, được khởi động tại Hội nghị Bộ trưởng Tổ chức Thương mại Thế giới lần thứ 4 diễn ra vào tháng 11 năm 2001 tại Đô-ha, Ca-ta.

Vào năm 2001, các bộ trưởng đã đặt ra mục tiêu kết thúc vòng đàm phán Đô-ha vào năm 2005, nhằm giảm rào cản thương mại và thúc đẩy phát triển cho các quốc gia nghèo Mục tiêu này cũng nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn còn tồn tại, đặc biệt là trợ cấp nông nghiệp, mà chưa được giải quyết trong các hiệp định trước đó như GATT.

“Global Trade After the Failure of the Doha Round”, https://www.nytimes.com/2016/01/01/opinion/global- trade-after-the-failure-of-the-doha-round.html, 09/12/2018

11 Bùi Trường Giang (2010), Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.40

12 Tên tiếng Anh: North American Free Trade Agreement, viết tắt là NAFTA NAFTA được ký kết năm 1994 giữa Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô

13 Tên tiếng Anh: North American Agreement on Labor Cooperation, viết tắt là NAALC

(iv) nghiêm cấm cưỡng bức người lao động làm việc;

(v) nghiêm cấm sử dụng lao động là trẻ em;

(vi) xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp giữa lao động nam và lao động nữ;

(vii) trả lương bình đẳng dựa trên giá trị công việc cho lao động nam và lao động nữ;

(viii) đảm bảo các tiêu chuẩn việc làm tối thiểu;

(ix) phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;

(x) thực hiện đền bù phù hợp khi xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;

(xi) bảo vệ người lao động di cư làm việc ở nước ngoài 14

Các thành viên của NAALC cam kết thúc đẩy các nguyên tắc lao động dựa trên quy định của hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó không được thiết lập tiêu chuẩn tối thiểu chung về lao động Họ cũng phải bảo vệ quyền lợi của người lao động thông qua các văn bản pháp luật và quy định thực tiễn Nếu pháp luật quốc gia vi phạm cam kết liên quan đến lao động trẻ em, an toàn lao động, và mức lương tối thiểu, mức phạt có thể lên tới 20 triệu USD Kể từ khi NAFTA ra đời, số lượng FTA có điều khoản về lao động đã tăng mạnh, từ ba hiệp định năm 1995 lên 77 hiệp định vào năm 2016, trong đó gần một nửa được ký kết sau năm 2008 và hơn 80% có hiệu lực từ năm 2013 có quy định về lao động.

Các báo cáo thường niên của ILO đã thống nhất về cách hiểu các điều khoản liên quan đến cam kết lao động trong các FTA, trong đó các cam kết lao động được định nghĩa là những quy định chứa đựng các yêu cầu cụ thể về quyền lợi và điều kiện làm việc cho người lao động.

16 ILO (2017), Studies on Growth with Equity: Handbook on assessment of labour provisions in trade and investment arrangements, Printing and Distribution Branch (PRODOC) of the ILO, tr.11

Tiêu chuẩn lao động bao gồm các điều kiện làm việc tối thiểu, điều khoản tuyển dụng và quyền lợi của người lao động Đồng thời, cần có cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đảm bảo việc thực thi các cơ chế này theo luật lao động quốc gia.

(iii) bất kỳ khuôn khổ hợp tác và/hoặc giám sát các vấn đề này 18

Nội dung bài viết đề cập đến ba khía cạnh chính trong cam kết về tiêu chuẩn lao động và điều kiện làm việc Thứ nhất, các cam kết này bao gồm quyền tự do lựa chọn công việc, đảm bảo tiền lương tối thiểu, thời gian làm việc hợp lý và an toàn sức khỏe Thứ hai, có các cam kết về thể chế và thủ tục nhằm thực thi nghĩa vụ và đảm bảo tuân thủ, bao gồm khuôn khổ đối thoại và giám sát cũng như thủ tục giải quyết tranh chấp Cuối cùng, nội dung nhấn mạnh các hoạt động hợp tác để thúc đẩy tuân thủ, bao gồm hỗ trợ thực thi và giám sát thông qua các cơ quan được thành lập dựa trên cơ chế tham vấn và đối thoại thường xuyên giữa các bên.

1.1.2 Nội dung cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Những vấn đề cơ bản về lao động cưỡng bức

1.2.1 Khái niệm lao động cưỡng bức

Khái niệm lao động cưỡng bức được chính thức ghi nhận trong Công ước số

29 về Lao động cưỡng bức năm 1930 của ILO Theo đó, lao động cưỡng bức là

Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc thực hiện dưới sự đe dọa của hình phạt nào đó, mà không có sự tự nguyện từ bản thân, được xem là hành vi cưỡng bức.

1, Điều 2) Ở đây, lao động cưỡng bức được nhìn nhận như một tập hợp các loại hành vi khác nhau, thỏa mãn các đặc tính gồm:

Hành vi này bao gồm mọi loại công việc hoặc dịch vụ, không chỉ giới hạn trong các công việc hợp pháp theo hợp đồng lao động mà còn có thể bao gồm cả những công việc bất hợp pháp Điều này có nghĩa là các hình thức công việc và dịch vụ ở đây được hiểu là đa dạng, không phân biệt lĩnh vực hay tính hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Các hành vi không tự nguyện và bị ép buộc thường không phản ánh ý chí hay mong muốn của người thực hiện Những người này bị buộc phải thực hiện công việc hoặc dịch vụ dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể là hành động hoặc không hành động Những hành vi này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người thực hiện mà còn tác động đến các thành viên trong gia đình hoặc những người có mối quan hệ gần gũi với họ.

Người thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải chịu hình phạt, không nhất thiết phải là hình phạt hình sự theo quy định pháp luật Hình phạt có thể bao gồm việc mất đi một số quyền lợi, như tiền thưởng, phúc lợi, hỗ trợ tái tạo sức lao động, hoặc quyền chăm sóc y tế.

61 Phan Thị Thanh Huyền (2015), Nhận diện về lao động cưỡng bức trong pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, Tạp chí Dân chủ và pháp luật điện tử

62 The Asian Development Bank and International Labour Office (2006), Core Labour Standards, tr.42

1.2.2 Phân loại lao động cưỡng bức

Phân loại lao động cưỡng bức được thực hiện dựa trên ba tiêu chí chính: đối tượng gây ra tình trạng lao động cưỡng bức, đối tượng là nạn nhân, và mục đích của lao động cưỡng bức.

Theo tiêu chí về chủ thể gây ra tình trạng lao động cưỡng bức, lao động cưỡng bức gồm:

Lao động cưỡng bức do người sử dụng lao động gây ra là hình thức phổ biến nhất hiện nay, trong đó người sử dụng lao động thực hiện nhiều hành vi khác nhau để biến người lao động thành nạn nhân của tình trạng này.

Lao động cưỡng bức xảy ra khi những người có liên quan trong mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động gây ra Những người này có thể bao gồm những cá nhân được người sử dụng lao động thuê để thực hiện các công việc tại cơ sở lao động, chẳng hạn như quản đốc phân xưởng.

Theo tiêu chí về chủ thể là nạn nhân của lao động cưỡng bức, lao động cưỡng bức gồm:

Lao động cưỡng bức không chỉ ảnh hưởng đến người lao động thông thường mà còn đặc biệt tác động đến những nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ và lao động di trú.

Mỗi loại chủ thể nạn nhân của lao động cưỡng bức phải chịu đựng các hình thức cưỡng bức khác nhau Việc phân loại lao động cưỡng bức sẽ hỗ trợ các cơ quan chức năng xây dựng phương án và biện pháp linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là những nhóm đối tượng đặc thù.

Theo tiêu chí về mục đích của lao động cưỡng bức, lao động cưỡng bức gồm:

Lao động cưỡng bức vì mục đích kinh tế xảy ra khi các chủ thể buộc cá nhân thực hiện công việc hoặc dịch vụ mà họ không muốn, nhằm khai thác tối đa nguồn lực sẵn có và tối ưu hóa lợi ích kinh tế.

Lao động cưỡng bức vì mục đích khác thường được áp dụng như một hình phạt hoặc để răn đe khi người lao động có ý kiến trái ngược với người sử dụng lao động, đặc biệt liên quan đến lương, thời gian làm việc và nghỉ ngơi Khi xảy ra đình công hoặc biểu tình, người sử dụng lao động có thể sử dụng lao động cưỡng bức như một biện pháp trừng phạt Ngoài ra, lao động cưỡng bức cũng có thể diễn ra vì mục đích tình dục hoặc mại dâm, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em gái.

1.2.3 Các dấu hiệu của lao động cưỡng bức

Theo Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức, ILO đã giới thiệu 63 dấu hiệu để nhận diện lao động cưỡng bức Những dấu hiệu này giúp xác định và phân biệt tình trạng lao động cưỡng bức trong các môi trường làm việc khác nhau.

(i) Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động

Nạn nhân của lao động cưỡng bức rất đa dạng, và bất kỳ ai cũng có thể rơi vào tình trạng này Tuy nhiên, những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những người thiếu kiến thức về ngoại ngữ và pháp luật, thường dễ bị lạm dụng và buộc phải thực hiện công việc không tự nguyện Ngoài ra, các nhóm dễ bị tổn thương cũng là những nạn nhân phổ biến của lao động cưỡng bức.

Không phải mọi cá nhân gặp khó khăn đều là nạn nhân của lao động cưỡng bức Lao động cưỡng bức xảy ra khi người sử dụng lao động lợi dụng tình trạng khó khăn của người lao động để áp đặt các quy định như thời gian làm việc quá nhiều và giữ lại tiền lương Hơn nữa, lao động cưỡng bức cũng phát sinh khi người lao động phụ thuộc vào người sử dụng lao động về các điều kiện sinh hoạt cho gia đình họ, như nhà ở, thực phẩm và công việc.

Lừa gạt trong môi trường lao động xảy ra khi người sử dụng lao động không thực hiện các cam kết đã hứa với người lao động, những cam kết này có thể được ghi nhận bằng lời nói hoặc văn bản Thực tế cho thấy, người lao động thường xuyên nhận được những lời hứa hẹn từ phía nhà tuyển dụng.

63 Nội dung của các dấu hiệu này được tham khảo tại tài liệu “Các dấu hiệu nhận biết lao động cưỡng bức của

Những vấn đề cơ bản về lao động trẻ em

1.3.1 Khái niệm lao động trẻ em và tuổi lao động tối thiểu

Trong pháp luật quốc tế, trẻ em được định nghĩa là những người dưới 18 tuổi, theo Điều 1 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 Tuy nhiên, nếu pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn, thì quy định đó sẽ được áp dụng Thêm vào đó, theo Điều 2 của Công ước số 182 về Những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999, thuật ngữ “trẻ em” cũng được áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi trong phạm vi của Công ước này.

Lao động trẻ em, theo định nghĩa của ILO, là những công việc làm trẻ em mất đi tuổi thơ, tiềm năng và nhân cách, đồng thời có thể gây hại đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ Hình thức lao động này cũng cản trở khả năng đến trường của trẻ em.

(i) nguy hiểm và gây hại cho trẻ em về mặt tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức; và

Việc cản trở học tập của trẻ em xảy ra khi các em bị tước đi cơ hội học hành, dẫn đến tình trạng phải nghỉ học sớm hoặc phải kết hợp việc học với lao động nặng nhọc trong nhiều giờ.

Thuật ngữ "lao động trẻ em" chỉ tình trạng trẻ em dưới 18 tuổi thực hiện công việc gây hại đến sức khỏe, tinh thần, và sự phát triển của họ, đồng thời làm mất cơ hội học tập Để xác định khi nào công việc của trẻ em trở thành lao động trẻ em, cần làm rõ khái niệm về tuổi lao động tối thiểu theo quy định.

Theo Điều 1 và Điều 2 của Công ước số 138 về Tuổi tối thiểu năm 1973, tuổi lao động tối thiểu được xác định là độ tuổi mà trẻ em có thể tham gia vào lao động mà không gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực và trí lực Độ tuổi này không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và phải tuân theo quy định của pháp luật quốc gia.

Theo Công ước số 138 về Tuổi tối thiểu năm 1973, quy định về tuổi lao động tối thiểu bao gồm ba loại: tuổi tối thiểu cơ bản, tuổi tối thiểu cho công việc nguy hại và tuổi tối thiểu cho công việc nhẹ nhàng.

(i) Tuổi tối thiểu chung áp dụng cho mọi quốc gia là không dưới 15 tuổi, và không dưới 14 tuổi cho các quốc gia đang phát triển

Tuổi tối thiểu cho các công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại mọi quốc gia là 18 tuổi Tuy nhiên, nếu tuổi tối thiểu cho những loại công việc này là 16 tuổi, thì

Các quốc gia cần phải bảo vệ an toàn và phẩm giá của trẻ em Việc sử dụng trẻ em trong các công việc nguy hiểm được coi là một trong những hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em.

Tuổi tối thiểu cho các công việc nhẹ ở nhiều quốc gia thường dao động từ 13 đến 15 tuổi Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển, độ tuổi này có thể giảm xuống còn từ 12 đến 14 tuổi Công việc nhẹ được xác định là những công việc mà trẻ em có thể thực hiện mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn, cũng như không cản trở quá trình học tập hoặc đào tạo nghề của các em.

1.3.2 Những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Theo Điều 3 của Công ước số 182 về những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999, các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất bao gồm những công việc gây tổn hại đến sức khỏe, sự phát triển và nhân phẩm của trẻ em.

Mọi hình thức nô lệ, bao gồm buôn bán và vận chuyển trẻ em, gán nợ, lao động nô lệ và lao động cưỡng bức, đều vi phạm nhân quyền Đặc biệt, việc tuyển mộ cưỡng bức trẻ em để tham gia xung đột vũ trang là một tội ác nghiêm trọng cần được ngăn chặn.

Nô lệ trẻ em là tình trạng mà trẻ em bị phụ thuộc vào người khác, buộc phải làm việc mà không có quyền bày tỏ ý kiến Họ thường bị giam giữ trái ý muốn, từ khi bị bắt, mua hoặc ngay từ khi sinh ra, và không có khả năng tự do rời khỏi nơi sống và làm việc hay từ chối công việc.

Buôn bán trẻ em là hành vi bất hợp pháp liên quan đến việc mua, bán hoặc vận chuyển trẻ em nhằm mục đích bóc lột sức lao động hoặc tình dục Trẻ em thường bị buôn bán để tham gia vào lao động cưỡng bức, mại dâm, hoặc chiến tranh Gán nợ, một hình thức lao động cưỡng bức, xảy ra khi gia đình nghèo phải giao con cái cho người khác để trả nợ, khiến trẻ em phải làm việc nhiều năm cho đến khi khoản nợ được thanh toán.

Lao động nô lệ là tình trạng mà một cá nhân bị buộc phải sống và làm việc cho người khác, thường nhận được mức lương rất thấp hoặc không có lương.

(ii) Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào hoạt động mại dâm, sản xuất các sản phẩm phim ảnh khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm

Trẻ em có thể bị mua bán để kết hôn, tham gia mại dâm hoặc trở thành nô lệ tình dục ở cả nước phát triển và đang phát triển Đặc biệt, trẻ em gái thường bị bắt cóc và buôn bán xuyên biên giới, dẫn đến việc trở thành gái mại dâm ở nước ngoài Những hình thức lao động trẻ em tồi tệ này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, bao gồm suy giảm thể chất, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và rối loạn tâm lý.

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XOÁ BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN 39 2.1 Các quy định về xoá bỏ lao động cưỡng bức và lao động trẻ em trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên

Ngày đăng: 07/09/2023, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w