Xây dựng E-learning chương hóa học và dòng điện phần hóa đại cương trường Cao đẳng Kĩ thuật Cao Thắng
Trang 1Nguyễn Phúc Hậu
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG HÓA HỌC
VÀ DÒNG ĐIỆN PHẦN HÓA ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KĨ THUẬT CAO THẮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 2Nguyễn Phúc Hậu
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG HÓA HỌC
VÀ DÒNG ĐIỆN PHẦN HÓA ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KĨ THUẬT CAO THẮNG
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ TRỌNG TÍN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 3Thưa thầy cô và các bạn đồng nghiệp!
Mới ngày nào tôi còn chưa xác định được hướng làm đề cương luận văn
mà giờ đây trên tay cầm cuốn luận văn này lòng cảm thấy vui sướng Với thời gian hạn hẹp và những khó khăn trong thời gian thực hiện đề tài, hoàn thành được luận văn tốt nghiệp : “XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG HÓA HỌC VÀ DÒNG ĐIỆN PHẦN HÓA ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CAO THẮNG” là sự cố gắng nỗ lực không ngừng của bản thân và trên hết là sự giúp
đỡ, động viên chân thành, nhiệt tình của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Vì vậy, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Tiến sĩ Lê Trọng Tín – Người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Các giảng viên giảng dạy tại dạy khoa Hóa ở trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh và trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Ban giám hiệu trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng, đặc biệt là tập thể
giảng viên khoa Giáo dục đại cương và các nhân viên thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình giảng dạy và thực nghiệm
Ban quản trị các trang web www.hochanh.info và www.hoclieumo.com
Ba mẹ, cô Mai, các anh chị (anh Đại, chị Linh, anh Thiện…) cùng các bạn
( Nam Kỳ, Thu Hằng, Quỳnh San, Hồng Trâm,…) đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều để vượt qua khó khăn và hoàn thành luận văn
Với đề tài này, tôi hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, sáng tạo
TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 08 năm 2009
Tác giả Nguyễn Phúc Hậu
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế tri thức toàn cầu và những yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trong bước đường hội nhập WTO, Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã định hướng phát triển giáo
dục và đào tạo 5 năm 2006-2010: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất
quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lí để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh …” Cụ thể là công
cuộc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và trường cao đẳng, đại học đã đặt ra cho giáo viên và học sinh, SV nhiều thách thức và nhiệm vụ Vai trò mới của người giáo viên với tư cách người thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa trong các hoạt động dạy Từ đó, vai trò và trách nhiệm của giáo viên bây giờ trở nên quan trọng hơn, nặng nề hơn và tế nhị hơn Học sinh, SV học tập phải chủ động tích cực sáng tạo hơn, khả năng tự học và học suốt đời phải được phát huy Nhằm đạt được mục đích trên, người giáo viên bên cạnh phải có nền tảng kiến thức vững chắc còn phải luôn luôn tìm tòi học hỏi, sáng tạo trong bài giảng nhằm đạt kết quả cao nhất
Trang 5Ngày nay, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học đã trở nên phổ biến rộng rãi Trong đó, công nghệ đa phương tiện (multimedia), bao gồm các công cụ hỗ trợ việc trình diễn, sự mô phỏng nhờ máy tính và các lớp học ảo, học tập điện
tử (E-learning) đã dần dần quen thuộc với người học Với E-learning thực hiện theo một quan điểm rộng nhất về việc học – các giải pháp học tập không còn bị ràng buộc bởi các mô hình đào tạo truyền thống E-learning là một dạng của học tập từ xa nhưng học tập từ xa không phải là E-learning Việc chuẩn bị cho phương hướng này không chỉ ở hạ tầng internet và các trang bị
kĩ thuật khác mà còn ở công nghệ dạy và học, đánh giá tương ứng với loại hình dạy và học đó
Xây dựng chương trình E-learning cho SV trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng là một việc làm thiết thực Với điều kiện học tập của SV, nhất là
SV học hệ liên thông vừa học vừa đi làm không có nhiều thời gian nghiên cứu, với E-learning các em có thể tự học vào những lúc rảnh và chủ động được thời gian Mặt khác ngành nghề do trường đào tạo như cơ khí, ô tô, điện, điện tử… cũng liên quan đến môn hóa học rất nhiều, nhất là phần Điện hóa và Điện phân
Tất cả những phân tích trên là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu với tiêu đề: “XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG HÓA HỌC VÀ
DÒNG ĐIỆN PHẦN HÓA ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CAO THẮNG” Việc lựa chọn đề tài này nhằm góp phần vào việc
đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học ở trường cao đẳng, đại học
2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng
Trang 62.2 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình E-learning chương “Hóa học và dòng điện” phần HÐC
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng chương trình E-learning chương “Hóa học và dòng điện” phần HĐC nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi, tự học và sáng tạo của SV
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tôi phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận về E-learning
- Tổng quan cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học
- Xây dựng chương trình E-learning chương “Hóa học và dòng điện” phần HĐC
- Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả và tính khả thi của những
đề xuất Từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm giúp cho GV dạy tốt hơn và
SV học có kết quả cao hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
- Phép biện chứng duy vật
- Quan điểm tiếp cận hệ thống
4.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cở sở lý thuyết và nội dung của đề tài
4.3 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: trắc nghiệm, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
4.4 Phương pháp xử lý thông tin
Trang 7Phương pháp toán học thống kê: lập bảng số liệu, xây dựng đồ thị và tính các tham số đặc trưng
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng thành công E-learning chương “Hóa học và dòng điện” phần HĐC thì sẽ mang lại các kết quả sau:
- Rèn luyện cho SV tính tự giác học hỏi, chủ động và sáng tạo
- SV có nhiều thời gian tự nghiên cứu bài học, được tự kiểm tra kiến thức, từ đó có hứng thú trong việc học
- Nâng cao kết quả học tập của SV phần HĐC của chương “Hóa học và dòng điện”
6 Phạm vi, giới hạn của đề tài
Xây dựng E-learning chương “Hóa học và dòng điện” phần HĐC
7 Đóng góp mới của đề tài
7.1 Về lý luận
- Xây dựng các qui tắc tạo nên E- learning môn HĐC
- Xây dựng cấu trúc hoàn chỉnh của E- learning môn HĐC
7.2 Về thực tiễn
- Xây dựng được E-learning chương “Hóa học và dòng điện”
- Chất lượng dạy và học chương trình HĐC của trường Cao đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng được cải thiện
- Giảng dạy môn HĐC hoàn toàn bằng E-learning
Trang 8Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Sự ra đời của E-learning
Theo tài liệu của tác giả Bùi Thanh Giang [16] thì E-learning chia làm
4 giai đoạn như sau:
Trước năm 1983: Kỷ nguyên GV làm trung tâm
Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi, quan điểm giáo dục “Lấy
GV làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung quanh GV và các bạn học Đặc điểm của loại hình này là giá thành đào tạo rẻ
Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện
Hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn powerpoint đây là các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phương tiện Nó cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trên máy tính
sử dụng công nghệ CBT phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm vào bất
kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và học Tuy nhiên sự hướng dẫn của giáo viên là rất hạn chế
Giai đoạn 1994-1999: Làn sóng E-learning thứ nhất
Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiếp phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-mail, CBT qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ web với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng
Giai đoạn 2000-2005: Làn sóng E-learning thứ hai
Các công nghệ tiên tiến bao gồm Java và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ
Trang 9thiết kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Ngày nay thông qua web giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo Ngày qua ngày công nghệ web đã chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng và hiệu quả Đó chính là làn sóng thứ hai của E-learning
1.1.2 Tình hình phát triển và ứng dụng của E-learning [13], [36], [46]
Hiện nay, E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới Phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu E-learning cũng rất
có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này còn nhiều bất cập
Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng
áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003; Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004
và Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ - Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ - Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là Hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo
và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ, Viện Công nghệ Thông tin
Trang 10(Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh, Học viện Bưu chính - Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning (http://el.edu.net.vn) nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm
ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo như các phần mềm tạo bài giảng điện tử, các phân mềm quản lý học sinh, sắp xếp thời khóa biểu Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập Mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính - Viễn Thông Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
1.1.3 Triển vọng của E-learning [16], [46]
Hiệu quả của learning cao hơn so với cách học truyền thống do learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
E-E-learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, E-learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-learning ra đời Nhiều nhà chuyên môn cho rằng E-learning - phương pháp giáo dục đào tạo mới được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỷ 21 Theo ông
Trang 11Keith Holtham, Giám đốc phụ trách các giải pháp cho doanh nghiệp khu vực châu á - Thái Bình Dương, E-learning căn bản dựa trên công nghệ mạng ngang hàng P2P Đây là giải pháp sử dụng công nghệ cao để hỗ trợ quá trình học tập, cung cấp các dịch vụ đào tạo, khóa học qua mạng Internet hoặc Intranet cho người dùng máy tính Ưu điểm nổi trội của E-learning so với các phương pháp giáo dục truyền thống là việc tạo ra một môi trường học tập mở
và tính chất tái sử dụng các đơn vị tri thức Với công nghệ này, quá trình dạy
và học sẽ hiệu quả và nhanh chóng hơn, giúp giảm khoảng 60% chi phí, đồng thời giảm thời gian đào tạo 20-40% so với phương pháp giảng dạy truyền thống E-learning chuyển tải nội dung phong phú, ấn tượng và dễ hiểu thông qua trang web, bảo đảm chất lượng đào tạo qua những phần mềm quản lý Mô hình này cho phép học viên cũng như nhân viên tại các công ty chọn học những thứ cần thiết chứ không bó buộc như trước Bên cạnh đó, học viên có thể học bất cứ lúc nào bằng cách nối mạng mà không cần phải đến trường
Trên phạm vi toàn cầu hiện nay có nhiều công ty lớn đầu tư vào learning Năm 2000, thị trường này đã đạt doanh số 2,2 tỷ USD Người ta dự tính, đến năm 2005, E-learning trên toàn cầu sẽ đạt tới 18,5 tỷ USD Ở các nước công nghiệp phát triển, điển hình là Mỹ, lĩnh vực này đang phát triển rất nhanh Thị trường E-learning ở Mỹ đạt 11,4 tỷ USD vào năm 2004 Tại châu
E-Á, thị trường này tăng trưởng 25% mỗi năm (đạt 6,2 tỷ USD)
Theo số liệu của tập đoàn dữ liệu quốc tế IDC, năm 2003, thế giới sẽ thiếu khoảng 1,45 triệu chuyên gia mạng Do đó nhu cầu về nguồn nhân lực này ngày càng lớn cùng với mức độ phức tạp xung quanh việc thiết kế, triển khai và bảo trì hệ thống mạng máy tính trong nền kinh tế Internet Chính vì vậy, E-learning đang được rất nhiều người học quan tâm và theo học
Trang 121.1.4 Các đề tài nghiên cứu về E-leaning
Thông qua việc thống kê các luận văn, luận án được bảo vệ trong và ngoài nước về phương pháp dạy học hóa học của các trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, trường Đại học Sư phạm TP.HCM …, chúng tôi chỉ tìm được một đề tài nghiên cứu về E-learning Đó là luận văn thạc sĩ giáo dục học “Xây dựng E-learning chương “Liên kết hóa học và cấu tạo phân tử” học phần HĐC trường cao đẳng Giao thông vận tải 3” của Nguyễn Thị Thùy Linh, học viên Khóa 16, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Với đề tài này tác giả đã làm được những công việc sau:
- Xây dựng E-learning chương “Liên kết hóa học và cấu tạo phân tử” học phần HĐC
- Tiến hành giảng dạy kết hợp hình thức tổ chức dạy học truyền thống với hình thức tổ chức dạy học E-learning
Với hướng đi của chúng tôi có điểm khác biệt như sau:
- Đề xuất các quy tắc xây dựng E- learning chương “Hóa học và dòng điện” môn HĐC
- Xây dựng E-learning chương “Hóa học và dòng điện” học phần HĐC trên một trang web về giáo dục có tổ chức và quy mô lớn
- Tiến hành giảng dạy bằng hình thức tổ chức dạy học E-learning
Như vậy, chúng tôi có thể kết luận rằng, đây là một hướng đi mới và có giá trị của luận văn
1.2 Cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1 Học tập [23]
Học tập có những đặc điểm sau:
- Đặc tính cá nhân của việc học tập
- Vai trò xúc tác của những hiểu biết tích lũy từ trước
- Tầm quan trọng của các “tài nguyên” dành cho SV
Trang 13- Vai trò của hoàn cảnh giảng dạy và kinh nghiệm cụ thể
- Các năng lực chuyên sâu cần rèn luyện
- Con đường khám phá trong quá trình học tập
- Vai trò quan trọng của phương pháp xây dựng và thực hành
- Vai trò quan trọng của “siêu nhận thức” (tư duy của người học về quá trình học tập của họ)
1.2.2 Học tập đổi mới [4], [6], [23], [30]
Học tập giải quyết vấn đề
Học tập giải quyết vấn đề là một cách học trong đó người học làm trung tâm, người học vừa là mục đích vừa là chủ thể của quá trình học tập, người học tham gia tích cực vào quá trình hình thành và kiểm soát hoạt động học, huy động kinh nghiệm và nguồn lực của chính bản thân mình nhằm phát huy năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề của đời sống
Mục tiêu chính của học tập giải quyết vấn đề
- Người học tiếp thu được một nền tảng kiến thức tích hợp, dễ nhớ và
áp dụng trong việc giải quyết các vấn đề nhận thức
- Người học phát triển các kĩ năng thực tế và hiệu quả đó là cách giải quyết vấn đề, năng lực tự học, cách thức làm việc phối hợp
Đặc điểm của các tình huống có vấn đề
- Phức tạp: liên quan đến nhiều chủ đề khác nhau, đòi hỏi thăm dò nhiều cách kết hợp mới
- Thực tế: đáp ứng một nhu cầu, có ý nghĩa, đòi hỏi áp dụng tri thức
- Bất ổn: thể hiện một trở ngại cần phải vượt qua, gây ra trạng thái mất cân bằng hay xung đột nhận thức
- Phong phú: dẫn dắt đến việc đối sánh các quan điểm khác nhau, gây tranh luận, kích thích tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn, không chỉ đưa ra một câu trả lời duy nhất
Trang 14Đối với người học, tình huống có vấn đề cần phải là cơ hội thường xuyên giúp họ đánh giá lại những hiểu biết từ trước, đối sánh với những hiểu biết của người khác và những hiểu biết mới lĩnh hội được qua quá trình học tập Vai trò của những hiểu biết từ trước của SV là rất quan trọng Như Ph Meirieu (một giáo sư tại trường đại học Lumiere Lyon- Pháp) đã nói “Một người không thể nắm bắt tri thức ngay từ chỗ không biết gì, mà phải tích luỹ hiểu biết dần dần, ngày càng sâu sắc hơn, có khả năng giải thích ở phạm vi rộng hơn, và giúp họ tiến xa hơn nữa trong nhận thức thế giới đồng thời hệ thống hoá các tri thức đã lĩnh hội”
Các bước của học tập giải quyết vấn đề
- Gặp vấn đề mâu thuẫn và xây dựng các giả thuyết từ những kiến thức
đã có
- Nhận diện các thông tin cần thiết phải có
- Tự học: tìm kiếm và sử dụng các tài nguyên khác nhau
- Kiểm tra lại vấn đề với những thông tin mới thu được: loại bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung các giả thuyết
- Trừu tượng hóa: đối sánh các trường hợp khác nhau để xác định các mối liên hệ nhận thức giúp tăng cường hiệu quả của các kiến thức vừa tiếp thu được
- Nhận xét và đánh giá nhanh: xem xét lại toàn bộ quá trình để rút tỉa kinh nghiệm và xác định vùng cải thiện của quá trình học tập
- Trong quá trình học tập, nhóm học tập lý tưởng nhất là từ 5 đến 7 người Trong suốt quá trình cùng nhau học tập và giải quyết các vấn đề, người học sẽ dần hình thành thói quen học tập phối hợp và kĩ năng lám việc nhóm Giáo viên có thể dự kiến việc tăng thêm số lượng thành viên của mỗi nhóm
Vai trò của giáo viên
Giáo viên không trực tiếp dạy mà giúp đỡ người học học tập, không
Trang 15cho biết các giải pháp hoàn thiện, kiểm soát và định hướng quá trình học tập Giáo viên phải thực sự là một người hướng dẫn hay người trợ lực Giáo viên
có vai trò quyết định sự thành công của bất cứ phương pháp sư phạm nào, giáo viên hướng đến các mục tiêu là phát triển kĩ năng nhận xét và tư duy của người học (giải quyết vấn đề, siêu nhận thức, óc phê bình) và giúp người học trở nên độc lập và có khả năng tự chủ trong việc học tập của bản thân
Các nguyên tắc cơ bản của học tập giải quyết vấn đề
- Người học phải có trách nhiệm với việc học tập của họ
- Giáo viên thiết lập các tình huống học tập sao cho có mâu thuẫn, tương tự như các tình huống phải giải quyết trong đời sống và thuận tiện để tìm kiếm thông tin
- Việc học tập phải được tích hợp trong một phạm vi rộng rãi nhiều chuyên ngành hay chủ đề
- Phối hợp nhóm là hoạt động thiết yếu vì đây chính là điểm thể hiện hiệu quả cao nhất của học tập giải quyết vấn đề
- Kết quả tự học phải được tái đầu tư vào việc tái phân tích và tìm ra giải pháp cho vấn đề nhận thức
- Việc phân tích những gì đã học được qua quá trình giải quyết vấn đề
và thảo luận các khái niệm là thiết yếu
- Cần có tự đánh giá và đánh giá trong nhóm sau mỗi vấn đề và mỗi đơn vị kiến thức
- Những hoạt động được thực hiện trong quá trình giải quyết vấn đề phải là những hoạt động có giá trị trong đời sống thực tế
- Các bài kiểm tra phải đánh giá được sự tiến bộ của người học hướng đến các mục tiêu của học tập giải quyết vấn đề
Như vậy, khi giảng dạy trực tuyến, nếu không quan tâm đến các vấn đề này, người giáo viên sẽ dễ dàng rơi vào tình huống thất bại Giảng dạy trực
Trang 16tuyến không phải là bản sao máy móc của giảng dạy trực diện Để duy trì động cơ học tập của người học trực tuyến, cần phải biết đặt họ vào những tình huống bắt buộc họ phải nhận thức được sự khác biệt, phải tranh luận, tương tác, chấp nhận và chịu thử thách Như vậy, học tập giải quyết vấn đề là một hướng đi thích hợp và đúng đắn
1.3 E-learning
1.3.1 Khái niệm E-learning [44]
E-learning (electronic learning: Học điện tử) là:
- Thuật ngữ bao hàm một tập hợp các ứng dụng và quá trình, như học qua web, học qua máy tính, lớp học ảo và sự liên kết số Trong đó bao gồm việc phân phối nội dung các khoá học tới học viên qua internet, mạng intranet/extranet (LAN/WAN), băng audio và video, vệ tinh quảng bá, truyền hình tương tác, CD-ROM và các loại học liệu điện tử khác
Hình 1.1 : Mô hình E-learning
- Hình 1.1 mô tả một cách tổng quát khái niệm E-learning Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm bốn thành phần, toàn bộ hoặc một phần của những thành phần này được chuyển tải tới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử
+ Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng
Trang 17các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện Ví dụ các bài giảng viết bằng toolbookII …
+ Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên học trên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia …
+ Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet …
+ Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua chat, forum trên mạng …
Tóm lại E-learning được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thông qua các phương tiện điện tử Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông E-learning được hiểu một cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng internet và công nghệ web
1.3.2 Moodle [16], [44], [54]
1.3.2.1 Moodle là gì?
Moodle là hệ thống quản lý khóa học nguồn mở được dùng bởi những trường đại học, trường cao đẳng cộng đồng, các trường phổ thông, những doanh nghiệp và thậm chí những giáo viên độc lập cần thêm công nghệ mạng vào những khóa học của họ Moodle hiện thời được sử dụng bởi 3000 tổ chức giáo dục trên thế giới để tạo những khóa học trực tuyến và để hỗ trợ những khóa học truyền thống Moodle là hệ thống miễn phí trên mạng (http://www.moodle.org) vì thế bất cứ ai cũng có thể tải xuống và thiết đặt nó Moodle được tạo ra bởi Martin Dougiamas, một nhà khoa học máy tính
và nhà giáo dục, người đã trải qua thời gian hỗ trợ một khóa học nguồn mở tại
Trang 18một trường đại học ở Perth, Autralia Ông dần dần trở nên không hài lòng với
hệ thống quản lý hiện có và đã học nghề kỹ sư về tin học Ông đặt những SV tốt nghiệp của ông trong sự giáo dục và khoa học máy tính để làm việc và bắt đầu phát triển Moodle như một giải pháp Ông hiện đang làm việc trên Moodle cả ngày Một cộng đồng của những người phát triển phần mềm mã nguồn mở chuyên dụng từ khắp thế giới làm việc với ông ấy trong một nỗ lực cộng tác để làm cho Moodle là một khóa học nguồn mở tốt nhất sẵn có
1.3.2.2 Các tính năng quản lý của E-learning – Các Moodle
Moodle có thiết kế mang tính mở nên có thể dễ dàng đưa thêm các hoạt động để tạo vào E-learning Với Moodle, các học viên là những người tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học Với cách tiếp cận như vậy, moodle tạo mọi điều kiện giúp học viên có thể phân tích, điều tra, hợp tác, chia sẻ, xây dựng và sinh ra ý tưởng từ những cái gì đã biết
Moodle cung cấp các tính năng sau:
- Assignments: Bài tập
Học viên được nhận các bài tập và có thể nộp sản phẩm với bất kì định dạng nào (Vd: MS Office, PDF, ảnh )
- Chats: Tán gẫu
Cho phép trao đổi thông tin trực tiếp giữa các học viên
- Dialogues: Cuộc đối thoại
Cho phép trao đổi thông tin một cách gián tiếp giữa giáo viên và học viên, hoặc học viên với học viên
- Forums: Các diễn đàn
Các cuộc thảo luận được phân chia thành từng chủ đề, các nhóm chia sẻ
ý tưởng của vấn đề cùng quan tâm Sự tham gia trong các diễn đàn là một phần của việc học tập, giúp các học viên bổ sung và phát triển sự hiểu biết về vấn đề đó
Trang 19Các học viên phản ánh, ghi và xem lại các ý tưởng
- Nhãn: Đưa thêm các mô tả cùng với hình ảnh trong bất kỳ khu vực nào của cua học
- Lessons: Bài học
Cho phép các giáo viên tạo ra và quản lý một nhóm trang được kết nối Mỗi trang có thể kết thúc bởi các câu hỏi, có thể tùy chọn để trả lời
- Quizzes: Các câu hỏi kiểm tra
Moodle cung cấp những chức năng, phương tiện hữu hiệu để xây dựng những kỳ kiểm tra có chất lượng, công bằng, khách quan Hình thức kiểm tra
đa dạng (đúng-sai, đa lựa chọn, câu trả lời ngắn, câu hỏi phù hợp, câu hỏi ngẫu nhiên, câu hỏi số, các câu trả lời nhúng với đồ họa và text mô tả); cách cho điểm, xếp loại phong phú, phù hợp từng đối tượng để học viên và giáo viên có thể lựa chọn; nhiều kiểu câu hỏi, nhiều hình thức đánh giá khác nhau cũng như hỗ trợ việc hồi đáp câu trả lời giúp cho việc học của học viên hiệu quả hơn
- Resources: Tài nguyên
Công cụ chính yếu này để mang nội dung vào bên trong cua học, có thể
là văn bản bình thường, các file được tải lên, các liên kết tới web, wiki hoặc Rich Text (Moodle có sẵn cài đặt bên trong)
- Surveys: Điều tra
Module này giúp đỡ giảng viên làm cho các lớp học trên mạng thêm hiệu quả bằng cách cung cấp một tập các điều tra bao gồm cả các điều tra bất
Trang 20thường, quan trọng
- Wordshops: Hội thảo
Một hoạt động để đánh giá các tài liệu của bạn mình mà các học viên nộp trên mạng Các người tham gia có thể đánh giá đồ án của nhau Giáo viên thực hiện đánh giá cuối cùng và có thể kiểm soát thời gian bắt đầu và kết thúc
1.3.3 E-learning một hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả bằng hoặc cao hơn so với hình thức tổ chức dạy học truyền thống [4], [10], [14], [30] [41]
Người học làm trung
tâm
Thực hành viết thường xuyên
Hình 1.2 : Sơ đồ sử dụng CNTT trong học tập
Trang 211.3.3.1 Học tập lấy người học làm trung tâm
Ngày nay ai cũng thừa nhận những hạn chế của dạy học lấy người thầy làm trung tâm Trong thời gian gần đây, các giáo viên đã có nhiều nỗ lực nhằm vượt qua những hạn chế này trong hình thức dạy học trực diện (hoạt động theo nhóm nhỏ, diễn kịch ) nhưng hiệu quả vẫn chưa cao và giáo viên vẫn là người có vai trò chủ đạo Tuy vậy, trong môi trường trực tuyến, giáo viên thường là người chủ động lui về phía sau
Người học được yêu cầu tự học và hơn nữa là học theo cặp, nhóm và học từ bạn cùng nhóm Trong các cuộc trao đổi nhóm và trên các diễn đàn, người học có cơ hội để giải thích, lập luận, chia sẻ, nhận xét, phê bình và chính mình tham gia tự sáng tạo các nội dung sư phạm với một cách thức khó thấy được trong lớp học truyền thống
1.3.3.2 Tương tác và hỗ trợ theo nhu cầu
Trong môn học trực tuyến, có khi chỉ cần nhấp chuột là đã gửi được lời
đề nghị giúp đỡ Giáo viên có thể cung cấp nhiều công cụ học tập tương tác khác nhau (bài tập có phản hồi tức thời, trình chiếu Powerpoint, các phương tiện “nhấp chuột là mở” …)
Có thể liên hệ được với giáo viên và bạn học cùng lớp qua điện thư bất
cứ lúc nào, chứ không chỉ trong những lúc hiếm hoi có mặt ở trường học
SV có thể sử dụng điện thư, phòng chat hay diễn đàn để thực hiện các cuộc thảo luận tự phát hay có hẹn trước mà không cần bận tâm nhiều đến các trở ngại không gian và thời gian như trong lớp học truyền thống
Điều quan trọng nữa là các hệ thống trực tuyến có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ tiện lợi khác cho SV như đăng kí, các tài liệu hướng dẫn hỗ trợ, truy cập cơ sở dữ liệu …
1.3.3.3 Đáp ứng và phản hồi tức thời
Dù không có sự tiếp xúc cơ học với giáo viên, học viên trực tuyến vẫn
Trang 22có khả năng tiếp cận với giáo viên cao hơn Trong lớp học truyền thống, học viên thường phải hối hả đến các lớp học khác hay vì bất cứ lý do gì, nên ít khi dồn đến hỏi hay thắc mắc với giáo viên và chờ đợi những câu trả lời vừa ý
Bù lại, học viên trực tuyến có thể hỏi vô số vấn đề qua điện thư hay diễn đàn, tạo nên một cách đối thoại hiệu quả hiếm thấy so với trong lớp học trực diện
Bên cạnh đó, cần phải kể thêm các thông tin phản hồi tự động rất phong phú từ các nội dung và bài tập tương tác Nhờ đó không còn phải chờ đợi dài ngày mới mong nhận được ý kiến nhận xét của giáo viên dạy trực diện
1.3.3.4 Thảo luận tương tác cao độ
Trong lớp học trực diện, việc trao đổi thảo luận thường chỉ giới hạn giữa giáo viên và một vài SV có tính hướng ngoại cao
Trong các môi trường trao đổi trực tuyến, các diễn đàn và phòng chat
mở rộng biên độ của các cuộc thảo luận này, kể cả về cường độ, chất lượng và
độ sâu Khi mở một diễn đàn, tất cả người học đều được tham gia hết mức có thể và bao nhiêu lần tùy ý
Rất nhiều SV đã cho biết rằng trong học tập trực diện họ chưa bao giờ
có được nhiều cơ hội để phát biểu như vậy Giáo viên thì đánh giá cao cả chất lượng lẫn tính độc đáo của những SV hướng nội vốn im lặng trong hầu hết các lớp học trực diện Người ta cũng đã nhận thấy cách thức trao đổi khuyết danh đã cho phép những SV “bên lề” như phụ nữ, người khuyết tật, người nước ngoài cất lên tiếng nói của mình như thế nào Trên các diễn đàn trực tuyến, những người này hoàn toàn thoát khỏi những dấu ấn hình thức vốn hay khiến họ bị lâm vào trạng thái ức chế…
1.3.3.5 Tính mềm dẻo cao độ
Do điều kiện thời gian, những người học có ràng buộc về trách nhiệm gia đình hay công việc thường khó theo học một cách đầy đủ các chương trình
Trang 23đào tạo trực diện
Ngay cả những trường có khả năng sắp xếp thời khoá biểu linh động cũng ít khi tạo đủ điều kiện cho các học viên không thể đảm bảo duy trì mức
độ “chuyên cần” của mình
Học tập trực tuyến mở ra cơ hội cho mỗi người, giúp họ có thể bố trí thời gian học sao cho phù hợp với thời gian biểu vốn đã quá bận rộn với những việc không thuộc về trường lớp khoa bảng
1.3.3.6 Chuẩn bị cho quá trình học tập suốt đời
Trong đời sống hàng ngày, mỗi người không ai có một người thầy thường trực để chỉ dẫn cách tìm hiểu thêm tri thức mới Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người dạy học đó là khắc sâu tinh thần tự học cho SV Điều đó sẽ giúp họ tự chủ trong quá trình tìm kiếm, đánh giá và khai thác những thông tin mới mẻ theo nhu cầu của mình
E-learning tạo điều kiện cho tính tự chủ phát huy, thúc đẩy động cơ tự thân nhằm học tập suốt đời
Dĩ nhiên, điều đó chắc chắn không đủ để đảm bảo cho tinh thần sáng tạo của SV nhưng hẳn là có thể tạo nên một nền tảng vững chắc để giúp họ nâng cao tinh thần đó cũng như là duy trì quá trình tự học
1.3.3.7 Cộng đồng học tập gắn bó
Không như nhiều người tưởng, các giáo viên tham gia nhiều chương trình E-learning đã có cùng ghi nhận là các mối quan hệ giữa giáo viên với học viên cũng như giữa học viên với nhau được phát triển gắn bó một cách kì
lạ Họ ngạc nhiên nhận thấy rằng ở học viên trực tuyến đã hình thành một tinh thần tập thể vững chắc, giúp quá trình học tập diễn ra tốt hơn
Những ghi nhận kiểu này hoàn toàn đối nghịch với lối suy nghĩ rập khuôn quy kết rằng E-learning dẫn đến tình trạng “xóa nhòa cá tính” và “phi nhân tính hóa” trong các hoạt động sư phạm
Trang 24Các mối quan hệ có khi còn đạt đến một mức độ thân thiết mà trong lớp học truyền thống không dễ gì đạt được (mừng sinh nhật, mừng sinh con, chia buồn, các vấn đề gia đình, )
1.3.3.8 Sáng tạo nội dung sư phạm phong phú
CNTT cho phép đưa lên mạng nhiều loại tài liệu giảng dạy khác nhau, rất phong phú và đa dạng
Bài tập tương tác, mô phỏng, hình ảnh động, phân chia không gian làm việc ảo là những ví dụ điển hình về việc đưa các nguồn tài nguyên vào môi trường học tập trực tuyến một cách dễ dàng, giúp người học tự do khai thác
và sử dụng theo nhu cầu và nhịp điệu làm việc của mình
Các môi trường làm việc này còn cho phép giáo viên giải quyết được những khó khăn về không gian, thời gian và số lượng SV thường gặp trong giảng dạy trực diện, nhờ đó mà tăng cường hiệu quả sư phạm của hoạt động giảng dạy
1.3.3.9 Thực hành viết thường xuyên
Giới ngôn ngữ học luôn khẳng định rằng để học cách viết không có phương pháp nào tốt hơn là tự viết thường xuyên, ở mức cao nhất mà điều kiện cho phép Trong xu hướng học tập trực tuyến, khẳng định đó càng đúng đắn E-learning bắt buộc người học phải thường xuyên viết hàng ngày (viết điện thư, viết bài trên diễn đàn, viết trong phòng chat, nộp bài viết ), qua đó rèn luyện được thói quen và kĩ năng viết
Khi người giáo viên đặt ra yêu cầu cao về chất lượng viết Theo thời gian, giáo viên sẽ thu được những thành quả đáng kể với bài viết của SV đạt chất lượng cao hơn nhiều so với khi dạy trực diện
1.3.3.10 Phát triển phương pháp sư phạm
Có thể nói rằng E-learning là một yếu tố tuyệt vời để giúp đổi mới phương pháp sư phạm
Trang 25Người giáo viên đưa giáo trình lên mạng đúng cách sẽ cảm thấy sung sướng, hưng phấn vì làm được một điều đặc biệt và sẽ lấy lại thói quen tự hỏi mình, vốn đã mất đi từ lâu trong cách dạy truyền đạt kiến thức trực diện
Dù thiết kế giáo trình trực tuyến đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức nhưng những giáo viên thực sự tích cực sẽ có được kinh nghiệm phong phú qua một quá trình làm việc bài bản (suy nghĩ, lập kế hoạch, tìm kiếm thông tin, chất vấn, )
Chủ nghĩa hoài nghi sơ đẳng sẽ nhường chỗ cho cảm giác thỏa ý vì đã tham gia vào một bước tiến bộ mới Những ai thấy công việc của mình nhàm chán sẽ có thể tìm lại được ngọn lửa đam mê
1.4 Một vài nét về trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng buổi đầu có tên là trường Cơ Khí Á Châu, là một trong những trường dạy nghề đầu tiên ở Nam Bộ, được thực dân Pháp lập ra ngày 20-2-1906 Trường ở ngay trung tâm Thành phố
Hồ Chí Minh, số 65 Huỳnh Thúc Kháng, phường Bến Nghé, quận I Tính đến nay trường thành lập được 103 năm và có nhiều thành tích đáng kể Hàng năm trường đào tạo gần 8000 công nhân tay nghề cao với các bậc cao đẳng, cao đẳng liên thông và trung cấp chuyên nghiệp gồm nhiều chuyên ngành trong đó:
- Bậc cao đẳng gồm 10 chuyên ngành: Công nghệ Kỹ thuật Điện, Công
nghệ kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ Kỹ thuật Ô tô, Công nghệ Kỹ thuật Điện tử, Tin học, Công nghệ Nhiệt lạnh, Công nghệ Cơ – Điện tử, Công nghệ Tự động, Công nghệ Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông và Kế toán
- Bậc cao đẳng liên thông gồm 5 chuyên ngành: Công nghệ Kỹ thuật
Điện, Công nghệ Kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ Kỹ thuật Ô tô, Công nghệ Kỹ thuật Điện tử và Tin học ứng dụng
Trang 26- Bậc trung cấp chuyên nghiệp gồm 7 chuyên ngành: Sữa chữa cơ khí,
Chế tạo Cơ khí, Cơ khí Ô tô, Điện công nghiệp, Tin học, Điện lạnh và Điện
tử công nghiệp
- Bậc cao đẳng nghề gồm 9 chuyên ngành: Cơ khí chế tạo, Sữa chữa cơ
khí, Hàn, Ôtô, Kỹ thuật Máy lạnh và Điều hòa không khí, Điện công nghiệp, Điện tử công nghiệp, Quản trị mạng máy tính và Kỹ thuật Sữa chữa, láp ráp máy tính
Đây là một trường Cao đẳng nghề có quy mô lớn và theo dự kiến, trường sẽ lên Đại học vào năm 2011 Vì vậy, vai trò của mỗi GV ngày càng quan trọng, GV là một trong những yếu tố nâng cao chất lượng về mọi mặt của trường Hiện nay với chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, các GV trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng cũng áp dụng rất nhiều Theo khảo sát, đa số các GV vẫn giữ nguyên phương pháp dạy bằng lời truyền thống và áp dụng các phương pháp dạy học mới Tất
cả các GV chưa xây dựng và áp dụng giảng dạy bằng E-learning
Đối với bộ môn Hóa đại cương, tôi giảng dạy tại lớp Công nghệ Kỹ thuật Điện tử viễn thông 2008 A, B, C Trong học phần này, với phương pháp dạy truyền thống nửa học kì đầu thông qua bài kiểm tra, tôi thấy kết quả chưa thật sự cao Với sự đánh giá sơ bộ, kết quả này có thể do có những kiến thức trừu tượng SV khó tiếp nhận, thời gian học hạn hẹp…
Với mong muốn nâng cao chất lượng giảng dạy môn HÐC đồng thời
SV tiếp cận được một phương pháp học tập hiện đại, chúng tôi đã quyết định xây dựng E-learning Với chương trình này, SV có thể tự học, học bất cứ thời gian nào, bất cứ ở đâu, tự mình khám phá và sẽ thể hiện năng lực bản thân Từ
đó SV sẽ yêu thích bộ môn hơn, có điều kiện phát triển các kĩ năng học và làm việc và cũng chính là mục đích lâu dài của ngành giáo dục
Trang 27Tóm tắt chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã nghiên cứu các vấn đề sau:
- Sự phát triển của E-learing trải qua 4 giai đoạn đi kèm với nhiều sự kiện lớn xảy ra
- Tình hình phát triển và ứng dụng E-learing trên thế giới cũng như trong nước ngày càng lan rộng trong nhiều lĩnh vực Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm và bước đầu xây dựng Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước Chính vì vậy, E-learning đang được rất nhiều người học quan tâm và theo học
- So sánh với các luận văn đã nghiên cứu về E-learing, hướng đi của đề tài này là hướng đi mới và có giá trị
- Tổng quan về đổi mới phương pháp dạy học gồm học tập và học tập đổi mới
- Tổng quan về E-learning, Moodle và E-learning một hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả bằng hoặc cao hơn so với hình thức tổ chức dạy học truyền thống
- Giới thiệu đôi nét về trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng, đây là trường đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề và chất lượng giáo dục ngày được nâng cao
Trang 28Chương 2 XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG “HÓA HỌC
VÀ DÒNG ĐIỆN” PHẦN HÓA ĐẠI CƯƠNG
2.1 Tổng quan về chương 9 “Hóa học và dòng điện”
2.1.1 Mục tiêu
- Hiểu các khái niệm cơ bản về phản ứng oxi hoá khử
- Viết và cân bằng các phản ứng oxi hoá khử
- Phân biệt các khái niệm trong pin và bình điện phân
- Dự đoán được chiều của các phản ứng oxi hoá khử dựa trên sức điện động tiêu chuẩn
- Hiểu các nguyên lí hoạt động của các vật dụng có hiện tượng điện phân
và điện hóa
2.1.2 Nội dung
1 Phản ứng oxi hoá – khử
2 Cách lập phương trình oxi hóa khử
3 Phản ứng oxi hoá – khử và dòng điện
3.1 Pin 3.2 Thế điện cực 3.3 Sức điện động của pin 3.4 Thế điện cực quy ước 3.5 Giản đồ Eo
4 Chiều của phản ứng oxi hoá – khử
5 Vài nguồn điện hoá thông dụng
5.1 Pin 5.2 Ac quy
6 Điện phân
6.1 Định nghĩa 6.2 Điện phân nóng chảy
Trang 296.3 Điện phân dung dịch 6.4 Điện phân điện cực tan
2.1.3 Hệ thống bài tập trắc nghiệm
- Bài tập phản ứng oxi hóa khử
- Bài tập điện hóa
- Bài tập điện phân
- Bài tập về các nguồn điện hóa thông dụng
1 Chọn câu đúng
a Trong phản ứng oxy hoá khử, quá trình oxy hoá và quá trình khử
lần lượt xảy ra
b Trong phản ứng oxy hoá khử, quá trình oxy hoá và khử cùng xảy
ra đồng thời
c Quá trình oxy hoá là quá trình nhận electron gọi là sự oxy hóa Quá trình khử là quá trình nhường electron gọi là sự khử
d b, c đều đúng
2 Điều kiện của sự điện phân là
a xảy ra sự oxy hóa và sự khử của các chất
b các chất điện phân ở trạng thái nóng chảy hay dung dịch
Trang 30c Cặp Zn2+ – Zn có Zn2+ khó nhận electron nên ion Zn2+ là chất oxy
a Chất khử là chất nhường electron, sự khử là quá trình nhường
electron của nguyên tố trong một chất
b Chất khử là chất nhận electron, sự khử là quá trình nhường
electron của nguyên tố trong một chất
c Chất khử là chất nhường electron, sự khử là quá trình nhận
electron của nguyên tố trong một chất
d Chất khử là chất nhận electron, sự khử là quá trình nhận electron
của nguyên tố trong một chất
6 Chọn câu đúng
a Điện cực là một hệ gồm một thanh dẫn điện tiếp xúc với dung
dịch điện ly
b Anot là điện cực tại đó xảy ra quá trình oxy hóa
Catot là điện cực tại đó xảy ra quá trình khử
Trang 31c Electron từ điện cực dương theo dây dẫn ở mạch ngoài di chuyển
đến điện cực âm
d Quá trình điện hóa xảy ra trong pin Daniell hoàn toàn giống phản
ứng xảy ra khi nhúng thanh Zn vào dung dịch CuSO4
7 Nhúng tấm đồng vào dung dịch AgNO3 thế khử tiêu chuẩn của
Ag+/Ag là +0,799V và của Cu2+/Cu là +0,337V thì
a không có hiện tượng gì xảy ra
b có phản ứng xảy ra và Cu đóng vai trò chất khử và Ag+ đóng vai
a Phản ứng 2Hg + 2Ag+ 2Ag + Hg22+ luôn luôn xảy ra
b Phản ứng 2Hg + 2Ag+ 2Ag + Hg22+ xảy ra khi
[Ag+] = [Hg22+]
c Phản ứng 2Hg + 2Ag+ 2Ag + Hg22+ có xảy ra hay không là
tùy thuộc vào nồng độ của Ag+ và Hg22+
d Phản ứng 2Hg + 2Ag+ 2Ag + Hg22+ có xảy ra hay không là
tùy thuộc vào nồng độ của Hg22+
9 Chọn câu đúng
a Phương trình Nert cho biết sự phụ thuộc của thế khử của một cặp
oxy hoá khử vào nồng độ dạng oxy hoá của nó
Trang 32b Phương trình Nert cho biết sự phụ thuộc của thế khử của một cặp
oxy hoá khử vào nồng độ dạng khử của nó
c Phương trình Nert cho biết sự phụ thuộc của thế khử của một cặp
oxy hoá khử vào nồng độ dạng oxy hoá và dạng khử của nó
d a, b, c đều sai
10 Phương pháp điện phân nóng chảy sẽ có
a rất nhiều loại sản phẩm tùy thuộc vào điều kiện điện phân
a Ox là chất oxy hóa mạnh và Kh là chất khử yếu
b Ox là chất oxy hóa yếu và Kh là chất khử yếu
c Ox là chất oxy hóa mạnh và Kh là chất khử mạnh
d không đủ dữ kiện để kết luận về độ mạnh của chất oxy hóa và
chất khử
12 Chọn câu đúng
a Nếu Ox1 có tính oxy hóa mạnh hơn Ox2 thì Kh2 sẽ có tính khử
mạnh hơn Kh1 nên phản ứng diễn ra là : Ox1 + Kh2 = Kh1 + Ox2
b Nếu Ox1 có tính oxy hóa mạnh hơn Ox2 thì Kh2 sẽ có tính khử
mạnh hơn Kh1 nên phản ứng diễn ra là : Ox1 + Kh1 = Kh2 + Ox2
c Nếu Ox1 có tính oxy hóa mạnh hơn Kh2 thì Kh2 sẽ có tính khử
mạnh hơn Kh1 nên phản ứng diễn ra là : Ox1 + Kh2 = Kh1 + Ox2
d Nếu Ox1 có tính oxy hóa mạnh hơn Ox2 thì Kh1 sẽ có tính khử
Trang 33mạnh hơn Kh2 nên phản ứng diễn ra là : Ox1 + Kh2 = Kh1 + Ox2
13 Cho: Sn2+ + 2Fe3+ = Sn4+ + 2Fe2+ Phát biểu nào đúng?
a Catot là điện cực tại đó xảy ra sự oxy hóa
b Catot là điện cực tại đó xảy ra sự khử
c Catot là điện cực tại đó xảy ra quá trình khử electron
d Anot là điện cực tại đó xảy ra sự khử
15 Chọn câu sai
a Điện cực hydro tiêu chuẩn được chấp nhận là điện cực so sánh có
điện thế bằng 0 volt
b Thế điện cực tiêu chuẩn của một cặp oxi hóa – khử liên hợp là
sức điện động của một pin ráp bởi điện cực chuẩn của cặp oxi hóa – khử liên hợp đó với điện cực hydro tiêu chuẩn
c Trong dung dịch, phản ứng oxi hóa – khử diễn ra theo chiều: dạng oxi hóa của cặp có thế khử lớn hơn nhận electron của dạng khử của cặp có thế khử nhỏ hơn
d Thế điện cực khử đặc trưng cho độ mạnh của một cặp hóa – khử
liên hợp Dạng oxi hóa càng mạnh thì dạng khử liên hợp cũng càng mạnh
16 Chọn câu đúng
a Quá trình nhận electron gọi là sự khử Quá trình nhường electron
Trang 34gọi là sự oxy hóa
b Chất oxy hóa là chất chứa nguyên tố nhận electron
c Chất khử là chất chứa nguyên tố nhừơng electron
a Ni tan ra và H2 sinh ra trên bề mặt thanh Ni
b Ni tan ra và H2 sinh ra trên bề mặt thanh Cd
c Cd tan ra và H2 sinh ra trên bề mặt thanh Ni
d Cd tan ra và H2 sinh ra trên bề mặt thanh Cd
19 Khi điện phân dung dịch CuCl2 khối lượng catot tăng lên 3,2g lúc đó điều gì sẽ xảy ra ở anot đồng?
a Có Cl2 thoát ra
b Có O2 thoát ra
c Điện cực Cu tan vào dung dịch
d Không có hiện tượng gì
Trang 36b Cực dương : 2Ag+ + 2e– 2Ag
c Phản ứng tổng quát: H2 + 2Ag+ 2H+ + 2Ag
d a, b, c đều đúng
25 Khi điện phân dung dịch K2SO4 với điện cực trơ thì pH gần anot sẽ
26 Điện phân dung dịch CuSO4 , ở anot xảy ra quá trình:
Cu – 2e Cu2+ Vậy anot làm bằng vật liệu
Trang 3729 Xác định cực anot trong sơ đồ cấu tạo pin như sau:
33 Cho phản ứng: 3Ni + 2Fe
3+ 2Fe + 3Ni2+ Biết E0 của pin là +0,194V và 0 của Fe3+/Fe là: –0,036V Giá trị 0 của Ni2+/Ni là
Trang 3835 Nhúng tấm đồng vào dung dịch CuSO4 0,01M Biết thế khử của cặp
Cu2+/Cu là +0,34V thì thế của điện cực được tạo thành là
36 Cho phản ứng Sn4+ + 2e Sn2+ Biết thế khử tiêu chuẩn của
Sn4+/Sn2+ là +0,15V và của Sn2+/Sn là –0,136V thì E0 của pin bằng
37 Cho một pin bằng một điện cực hydro tiêu chuẩn và một điện cực
hydro nhúng vào dung dịch axit axêtic nồng độ 0,01M có sức điện động bằng –0,1998V Hằng số điện ly của axit axetic là
38 Nguyên tố Ganvanic từ thanh kẽm nhúng vào dung dịch nitrat kẽm
0,1M và thanh chì nhúng vào dung dịch nitrat chì 0,02M Giá trị sức điện động của nguyên tố là
Trang 39I2 + 2e 2I– 0 = +0,536V
Giá trị ứng với hằng số cân bằng của phản ứng oxy hóa – khử trên là
41 Một pin gồm một điện cực dương là điện cực hydro tiêu chuẩn và một
điện cực âm là điện cực niken nhúng trong dung dịch NiSO4 0,01M
có sức điện động là 0,309V Thế điện cực tiêu chuẩn của niken là
42 Biết thế khử tiêu chuẩn của cặp oxy hóa – khử liên hợp
Cu2+ + 2e Cu, có 0 = +0,337V Vậy thế điện cực khử của điện cực đồng nhúng vào dung dịch muối CuSO4 0,01M ở 250C ứng với giá trị
43 Biết thế khử tiêu chuẩn của cặp oxy hóa – khử liên hợp sau
Zn2+ + 2e Zn, có E0 = – 0,763V Vậy thế điện cực oxi hóa của điện cực kẽm nhúng vào dung dịch muối ZnSO4 0,1M ở 250C ứng với giá trị
Trang 40Sức điện động E0 của pin có sơ đồ Zn(r) | Zn2+(1M) || Ag+(1M) | Ag(r)