Trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n KHOA LUẬT Đề tài Quy định của pháp luật về Quyền, Nghĩa vụ và Trách nhiệm pháp lý trong hoạt động cung ứng dịch vụ viễn thông của công ty viễn thông Viettel (Viettel[.]
Trang 1Trờng đại học kinh tế quốc dân
Giảng viờn hướng dẫn :
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh ThủyThành viờn nhúm :
1 Lờ Thị Ngọc Phượng
2 Hoàng Tỳ
3 Đặng Thành Nam
Trang 2Mục lục
Phần I Khái quát chung về Nghĩa vụ và trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của bên
cung ứng dịch vụ Viễn thông 5
1 Khái quát chung 5
1.1 Viễn thông 5
a Khái niệm 5
b Thành phần chính 5
c Lịch sử hình thành và phát triển 5
d Viễn thông hiện đại 7
1.2 Dịch vụ viễn thông 10
2 Quy định chung của pháp luật Việt Nam về Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ 10
a Quyền của bên cung ứng dịch vụ 10
b Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ 10
3 Quy định chung của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ 12
a Trách nhiệm pháp lý 12
b Phân tích các căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý 12
c Các trách nhiệm pháp lý 12
d Phân biệt trách nhiệm pháp lý với các trách nhiệm xã hội khác 13
4 Quy định chung của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ do vi phạm hợp đồng 13
4.1.Vi phạm hợp đồng thương mại .13
4.2 Miễn trách nhiệm và thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng 13 4.3.Chế tài trong thương mại .15
5 Nguồn văn bản điều chỉnh hoạt động dịch vụ thương mại 22
a Bộ luật dân sự 2005 22
b Luật Thương mại 2005 22
d Văn bản của Bộ, ngành quản lý nhà nước chuyên ngành 22
đ Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam thành viên, những cam kết quốc tế của Việt Nam 22
Trang 3Phần II : Quy định cụ thể của pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của bên
cung ứng dịch vụ viễn thông 23
1.Hình thức kinh doanh viễn thông 23
2.Giấy phép viễn thông 23
3 Nguyên tắc cấp giấy phép viễn thông 24
4 Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thong 24
5 Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp viễn thông 24
6 Quyền, nghĩa vụ của đại lý dịch vụ viễn thông 25
Phần III :Thực tiễn áp dụng pháp luật vào hoạt động cung ứng dịch vụ viễn thông tại Công ty Viễn thông Viettel ( Viettel Telecom ) 27
1 Giới thiệu chung về Công ty Viễn thông Viettel ( Viettel Telecom ) 27
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 27
1.2 Thành tưu đạt được 28
Tại Việt Nam 28
Trong khu vực 29
Trên thế giới 29
2 Thực trạng áp dụng Pháp luật 29
Kết luận 32
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ khi hình thành xã hội loài người,nhu cầu liên lạc thông tin với nhau
đã được nảy sinh Từ xa xưa, con người đã biết phát tín hiệu khói để thông báonhững tin tức đã được qui ước thống nhất sẵn với nhau,hay như trong lịch sử ViệtNam lưu truyền về cách truyền tin của Mai An Tiêm đó là dùng quả dưa hấu Sau
đó việc thông báo thông tin liên lạc được cải tiến hơn với sự phát triển và hìnhthành nhà nước, nhưng rất thủ công và rất gian truân
Cùng với sự phát triển của xã hội, công nghệ viễn thông cũng dần pháttriển.Tới ngày nay, thông tin liên lạc đã được truyền đi với tốc độ cao để đáp ứngyêu cầu của xã hội và cuộc sông
Có thể nói lĩnh vực viễn thông đã làm thay đổi bộ mặt, tính cách của trái đất,
đã hiện thực hóa khả năng liên kết của mỗi người của mỗi quốc gia, gắn kết mọingười với nhau nhờ một mạng lưới viễn thông vô hình và hữu hình trên khắp tráiđất và vũ trụ
Sự hội tụ trong lĩnh vực viễn thông cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu
sử dụng và truyền dữ liệu của con người cũng tăng lên theo hàm số mũ Ngành Viễnthông đóng góp vai trò lớn lao trong việc vận chuyển đưa tri thức của loài ngườiđến mỗi người, thúc đẩy quá trình sáng tạo đưa thông tin khắp nơi về các ngành lĩnhvực khoa học, các thông tin giải trí cũng như thời sự khác Viễn thông đem lại sựhội tụ, hay sự thống nhất về các loại hình dịch vụ truyền dữ liệu dịch vụ như thoại,video (truyền hình quảng bá và truyền hình theo yêu cầu), và dữ liệu Internet băngrộng thúc đẩy ngành công nghệ thông tin phát triển lên một mức cao hơn với đadạng các loại hình dịch vụ và chi phí rẻ hơn
Mạng viễn thông giúp người sử dụng có thể gọi điện thoại qua mạng Internet,
có thể xem hình ảnh của bạn bè trên khắp thế giới, có thể chia sẻ nguồn dữ liệu, cóthể thực hiện những giao dịch mua bán tới mọi nơi trên thế giới một cách đơn giản.Viễn thông ngày càng tạo nên một thế giới gần hơn hội tụ cho tất cả mọingười,xóa đi mọi trở ngại về khoảng cách địa lý và tạo ra nhiều cơ hội giao lưu hợptác văn hoá, xã hội, kinh tế
Nhận biết được tầm quan trọng của dịch vụ viễn thông đối với mọi lĩnh vựctrong đời sống xã hội, người viết xin chọn đề tài: “ Nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lýtrong hoạt động cung ứng dịch vụ viễn thông của Công ty Viễn thông Viettel
Trang 5( Viettel Telecom ) ” – nhằm cung cấp những kiến thức pháp lý cơ bản và thiết yếunhất cho người đọc về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý trong hoạt động cung ứngdịch vụ viễn thông, cụ thể liên hệ với Công ty Viễn thông Viettel ( Viettel Telecom).
Phần I Khái quát chung về Nghĩa vụ và trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ Viễn thông
1 Khái quát chung
1.1 Viễn thông
a Khái niệm
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Viễn thông 2009 :
“Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết,
hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện,
phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác ”
Vào thời xưa, viễn thông gồm việc dùng các tín hiệu hình ảnh, chẳng hạn như đènhiệu, tín hiệu khói, điện báo semaphore, tín hiệu cờ, quang báo, hoặc tin nhắn âmthanh như tiếng trống, tiếng tù và, tiếng còi
Thời hiện đại, viên thông là việc dùng các thiết bị điện như máy điện báo, điệnthoại, máy telex, cũng như dùng thông tin liên lạc vi ba, vô tuyến, sợi quang và kếthợp với vệ tinh thông tin và Internet
b Thành phần chính
Một hệ thống viễn thông bao gồm ba thành phần chính:
o Bộ phát nhận thông tin vào và chuyển thành tín hiệu;
o Môi trường truyền dẫn truyền tín hiệu đi;
o Bộ thu nhận tín hiệu và chuyển thành thông tin hữu ích
Chẳng hạn, trong hệ thống truyền hình, tháp truyền hình là một bộ phát, không gianxung quanh là môi trường truyền dẫn, tivi là bộ thu Thông thường trong các hệthống viễn thông khác, một thiết bị vừa là bộ phát vừa là bộ thu, ví dụ điện thoại diđộng là một bộ thu phát Thông tin thông qua đường dây điện thoại được gọi làthông tin điểm-điểm là do nó được thực hiện giữa một bộ phát và một bộ thu.Thông tin thông qua hệ thống truyền hình là thông tin quảng bá là do nó được thựchiện giữa một bộ phát mạnh và nhiều bộ thu
Trang 6c Lịch sử hình thành và phát triển
Viễn thông là một thuật ngữ liên quan tới việc truyền tin và tín hiệu.Ngay từ ngày
xa xưa, những người tiền sử đã biết dùng khói để báo hiệu, những người thổ dân ởnhững hòn đảo xa xôi dùng các cột khói để liên lạc, báo hiệu và truyền tin Mai AnTiêm dùng dưa hấu để truyền tin về đất liền, có thể nói thuật ngữ viễn thông đã có
từ xa xưa
Tuy nhiên có thể nói, khái niệm viễn thông được chính thức sử dụng khi cha đẻ củamáy điện báo Samuel Finley Breese Morse sau bao ngày đêm nghiên cứu vất vả,ông đã sáng chế chiếc máy điện báo đầu tiên Bức điện báo đầu tiên dùng mãMorse được truyền đi trên trái đất từ Nhà Quốc Hội Mỹ tới Baltimore cách đó
64 km đã đánh dấu kỷ nguyên mới của viễn thông Trong bức thông điệp đầu tiênnày Morse đã viết "Thượng Đế sáng tạo nên những kỳ tích"
Nói đến lịch sử của Viễn thông, không thể không nhắc đến Alexander Graham Bell,ông là người đầu tiên sáng chế ra điện thoại Để tưởng nhớ ông, ngày 7 tháng 8 năm
1922 mọi máy điện thoại trên nước Mỹ đều ngừng hoạt động để tưởng nhớ và bày
tỏ lòng biết ơn nhà khoa học xuất sắc A.G Bell (1847 - 1922)
Trên quy mô xã hội, nếu điện tín (1884), điện thoại (1876), radio (1895) và vô tuyếntruyền hình
Cuộc cách mạng trong ngành viễn thông không dây bắt đầu vào thập niên 1900 vớinhững phát triển tiên phong trong lĩnh vực vô tuyến và thông tin liên lạc không dâynhờ Nikola Tesla và Guglielmo Marconi Marconi đã giành giải Nobel Vật lý năm
1909 cho những nỗ lực của ông Các nhà phát minh và phát triển tiên phong đángchú ý khác trong lĩnh vực điện và điện tử gồm Charles Wheatstone và SamuelMorse(điện báo), Alexander Graham Bell (điện thoại), Edwin Armstrong, và Lee deForest (vô tuyến), cũng như John Logie Baird và Philo Farnsworth (truyền hình)
- Năm (1925) đã làm thay đổi cách giao tiếp trong quan hệ con người thì sựxuất hiện củavệ tinh viễn thông
- Năm(1960) sợi quang học
Trang 7- Năm(1977) công nghệ không dây đã làm nên một hệ thần kinh thông minhnhạy bén trên trái đất Có thể nói lĩnh vực viễn thông đã làm thay đổi bộ mặt,tính cách của trái đất, đã hiện thực hóa khả năng liên kết của mỗi người củamỗi quốc gia, gắn kết mọi người với nhau nhờ một mạng lưới viễn thông vôhình và hữu hình trên khắp trái đất và vũ trụ Sự hội tụ trong lĩnh vực viễnthông Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu sử dụng và truyền dữ liệucủa con người cũng tăng lên theo hàm số mũ Ngành Viễn Thông đóng gópvai trò lớn lao trong việc vận chuyển đưa tri thức của loài người đến mỗingười, thúc đẩy quá trình sáng tạo đưa thông tin khắp nơi về các ngành lĩnhvực khoa học, các thông tin giải trí cũng như thời sự khác Viễn thông đemlại sự hội tụ, hay sự thống nhất về các loại hình dịch vụ truyền dữ liệu dịch
vụ như thoại, video (truyền hình quảng bá và truyền hình theo yêu cầu), và
dữ liệu Internet băng rộng thúc đẩy ngành công nghệ thông tin phát triển lênmột mức cao hơn với đa dạng các loại hình dịch vụ và chi phí rẻ hơn Mạngviễn thông giúp người sử dụng có thể gọi điện thoại qua mạng Internet, cóthể xem hình ảnh của bạn bè trên khắp thế giới, có thể chia sẻ nguồn dữ liệu,
có thể thực hiện những giao dịch mua bán tới mọi nơi trên thế giới một cáchđơn giản Viễn thông ngày càng tạo nên một thế giới gần hơn hội tụ cho tất
cả mọi người
Dung lượng hiệu dụng của thế giới để trai đổi thông tin qua mạng viễn thông haichiều đã tăng từ 281 petabyte thông tin (đã nén tối ưu) năm 1986 lên 471 pegabytevào năm 1993, và tới 2,2 exabyte (đã nén tối ưu) vào năm 2000, cho đến năm 2007thì lên tới 65 exabyte (đã nén tối ưu) Lượng thông tin này tương đương với 2 trangbáo cho mỗi người trong một ngày vào năm 1986 và toàn bộ 6 tờ báo cho mỗingười một ngày vào năm 2007 Với sự tăng trưởng này, viễn thông đóng một vai tròngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và doanh thu của ngành côngnghiệp viễn thông toàn thế giới ước tính đạt 3,85 nghìn tỷ USD vào năm
2008 Doanh thu dịch vụ của ngành công nghiệp viễn thông toàn cầu ước tính đạt1,7 nghìn tỷ USD năm 2008 và dự kiến đạt 2,7 nghìn tỷ USD vào năm 2013
d Viễn thông hiện đại
Trang 8o Điện thoại
Đối với hệ thống điện thoại có dây truyền thống, người sử dụng ở bên chủ gọi quay số (gửi số bằng xung) hoặc bấm số (gửi số bằng tone) của bên bị gọi.Bên chủ gọi sẽ được kết nối với bên bị gọi thông qua một
số tổng đài Tiếng nói được thu bằng một micrô nhỏ nằm trong ống nghe, chuyển thành tín hiệu điện và truyền tới tổng đài gần nhất Tín hiệu này sẽ được chuyển thành tín hiệu số để truyền đến tổng đài kế tiếp.Ở đầu người nghe, tín hiệu điện sẽ được chuyển thành tín hiệu âm thanh và phát ra ở ống nghe.
Hầu hết điện thoại cố định là điện thoại tương tự.Các cuộc gọi ở cự li ngắn (cùngmột tổng đài) có thể chỉ sử dụng tín hiệu tương tự.Đối với cuộc gọi đường dài, tínhiệu được biến thành tín hiệu số để truyền đi xa Tín hiệu số có thể được truyền đichung với dữ liệu Internet, giá rẻ hơn, và có thể phục hồi lại khi truyền qua mộtkhoảng cách xa trong khi đó tín hiệu tương tự thì không tránh khỏi bị nhiễu làm sailệch
Điện thoại di động ra đời đã tác động nhiều lên mạng viễn thông.Ở một số nước, sốlượng thuê bao điện thoại di động còn nhiều hơn điện thoại cố định
Trang 9Mạng viễn thông đã trải qua nhiều tiến bộ vượt bậc khi xuất hiện những công nghệmới.Vào thập niên 90, thông tin quang được chấp nhận và sử dụng rộng rãi Ưuđiểm của nó là tốc độ truyền dẫn được tăng lên rất cao Để có được điều này là dovài nguyên nhân Thứ nhất, sợi quang nhỏ hơn rất nhiều so với các loại cáp trước
đó Thứ hai, không có hiện tượng xuyên âm nên hàng trăm sợi quang có thể đượcgộp chung lại thành một sợi cáp Thứ ba, những công nghệ ghép kênh đã tăng tốc
độ truyền dẫn trên sợi quang theo cấp số nhân
Tín hiệu thoại sau khi được số hóa sẽ trở thành những mẫu có dung lượng một byte.Các mẫu của mỗi cuộc điện thoại sẽ được xếp cạnh và xen kẽ nhau theo một trật tựnhất định để truyền đi xa Kỹ thuật này gọi là phân kênh theo thời gian (TDM)
o Vô tuyến truyền hình
Phương thức truyền hình ảnh và âm thanh từ xa đến người xem qua làn sóng mặtđất hoặc vệ tinh mà không cần đến dây cáp dẫn tín hiệu Theo phương thức này, tínhiệu hình ảnh và âm thanh được điều chế vào một sóng cao tần và được khuếch đạiđến một mức cần thiết để phát đi đến máy thu thông qua mạng máy phát trên mặtđất hoặc máy phát trực tiếp trên vệ tinh Trong VTTH áp dụng nguyên tắc truyềnliên tục hình ảnh đối tượng [nguyên tắc do nhà khoa học người Bồ Đào Nha Paiva(A de Paiva) đề xuất vào cuối thế kỉ 19, và độc lập với ông là nhà khoa học NgaBakhơmetievưi (P I Bakhmet'evyj)]: ở trạm truyền, hình ảnh đối tượng được biếnđổi liên tục thành các tín hiệu điện tử (phân tích hình ảnh) chuyển theo kênh thôngvào các máy thu; ở đó, lại thực hiện việc biến đổi ngược lại (tổng hợp hình ảnh).VTTH đã được phát triển cùng với việc sử dụng phân tích và tổng hợp thiết bịquang cơ, và mở đầu là một kĩ sư người Đức Nipkôp (P G Nipkow) vào năm1884.Giữa những năm 30 thế kỉ 20, đã xuất hiện những hệ thống đầu tiên VTTH
Trang 10điện tử.Sự phát triển của hệ thống hiện đại VTTH gắn liền với việc nâng cao độ néthình ảnh, độ chống nhiễu và tác động tầm xa Từ giữa những năm 80 của thế kỉ 20,
hệ thống VTTH kĩ thuật số đã bắt đầu được ứng dụng
o Internet
o Mạng nội bộ
Còn có tên gọi là mạng LAN
1.2 Dịch vụviễn thông
Theo Khoản 7 Điều 3 Luật Viễn thông 2009 :
“Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc
một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụgiá trị gia tăng.”
2 Quy định chung của pháp luật Việt Nam về Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
a.Quyền của bên cung ứng dịch vụĐ523 Bộ LDS
Bên cung ứng dịch vụ có các quyền sau đây:
1) Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện;2) Được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ, mà khôngnhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hạicho bên thuê dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ;
3) Yêu cầu bên thuê dịch vụ trả tiền dịch vụ
b Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Trang 114) Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch
vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
+ Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo kết quả công việcĐ79 LTM
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cungứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cungứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điềukhoản và mục đích của hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng không có quy định
cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việccung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của loại dịch vụđó
+ Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất Đ80 LTM
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cungứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mongmuốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với nỗlực và khả năng cao nhất
+ Nghĩa vụ hợp tác giữa các bên cung ứng dịch vụĐ81 LTM
Trường hợp theo thỏa thuận hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịch vụdonhiềubên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch
vụ khác thì mỗi bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:
1) Trao đổi, thông tin cho nhau về tiến độ công việc và yêu cầu của mình cóliên quan đến việc cung ứng dịch vụ, đồng thời phải cung ứng dịch vụ vào thời gian
và theo phương thức phù hợp để không gây cản trở đến hoạt động của bên cung ứngdịch vụ đó;
2) Tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bên cung ứngdịch vụ khác
+ Tuân thủ yêu cầu của khách hàng liên quan đến những thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ Đ83 LTM
Trong quá trình cung ứng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ phải tuân thủ nhữngyêu cầu hợp lý của khách hàng liên quan đến những thay đổi trong quá trình cungứng dịch vụ
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng phải chịu những chi phí hợp
lý cho việc thực hiện những yêu cầu thay đổi của mình
Trang 12+ Nghĩa vụ tiếp tục cung ứng dịch vụ sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ Đ83 LTM, Đ526 Bộ LDS
Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưahoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tụccung ứng theo nội dung đã thoả thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có
3 Quy định chung của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ
a Trách nhiệm pháp lý
“ Là 1 loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước thông qua các cơ quan có thẩmquyền và chủ thể VPPL trong đó bên VPPL phải gánh chịu những hậu quả phápluật, những biện pháp cưỡng chế mang tính trừng phạt được quy định ở chế tài cácquy phạm pháp luật do bên nhà nước áp dụng ”
b.Phân tích các căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý
- Cơ sở của trách nhiệm pháp lý là vi Phạm pháp luật Có vi phạm pháp luật thì cótrách nhiệm pháp lý Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý chỉ có thể là cá nhân hoặc tổchức có lỗi khi vi phạm các yêu cầu của Pháp luật
- Trách nhiệm pháp lý là sự lên án của nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi phạmpháp luật, là sự phản ứng của nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật
Suy cho cùng trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật là sự thực hiệncác chế tài và quy phạm pháp luật Sự thực hiện chế tài bao gồm hoạt độngđiềutra,xem xét, ra quyết định áp dụng chế tài, cách thức, trình tự áp dụng và tổ chứcthực hiện quyết định
- Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế nhà nước Khi vi phạmpháp luật xảy ra thì các cơ quan nhà nước người có thẩm quyền áp dụng các biệnpháp có tính cưỡng chế khác nhau Biện pháp trách nhiệm pháp lý chỉ có tính chấttrừng phạt tức là tước đoạt là thiệt hại ở 1 phạm vi nào đó, quyền tự do , lợi ích hợppháp của chủ thể vi phạm pháp luật(ví dụ : phạt tiền, phạt tù )
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lựccủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền Có nghĩa là nhà nước mới có thẩm quyền xácđịnh 1 cách chính thức hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và truy cứu tráchnhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật
c Các trách nhiệm pháp lý
Trang 13- Trách nhiệm hình sự: là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do tòa án ápdụng với người phạm tội
- Trách nhiệm dân sự: do tòa án áp dụng với tổ chức hoặc cá nhân có hành vi viphạm pháp luật dân sự
- Trách nhiệm hành chính : do cơ quan hành chính nhà nước hay nhà chức trách
có thẩm quyền áp dụng với tổ chức cá nhân mọi hành vi vi phạm pháp luật hànhchính
- Kỷ luật : thủ trưởng cơ quan đơn vị áp dụng đới với cá nhân thuộc quản lý viphạm nội quy quy chế
d.Phân biệt trách nhiệm pháp lý với các trách nhiệm xã hội khác
- Trách nhiệm pháp lý : là việc chấp hành các quy định của nhà nước mang tính
bắt bược cưỡng chế nếu vi phạm sẽ bị nhà nước xử phạt theo quy định
- Với các trách nhiệm xã hội khác : là việc thực hiện các nguyên tắc của xã hội
nhằm giúp con người tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp ,vì tính tự giác nên đâythường là các yêu cầu cao của xã hội nếu vi phạm đạo đức sẽ bị lương tâm cắn rứt
4 Quy định chung của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm pháp lý của bên cung ứng dịch vụ phát sinh khi vi phạm hoặc khôngthực hiện đúng hợp đồng dịch vụ
4.1 Vi phạm hợp đồng thương mại (K12 Đ3 LTM)
Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quyđịnh của Luật này
Vi phạm hợp đồng chia thành vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản
Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bênkia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên bị vi phạm không được áp dụng chếtài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp
đồng đối với vi phạm không cơ bản(Đ293 LTM)
4.2 Miễn trách nhiệm và thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng
Trang 14c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quảnlýnhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kếthợp đồng
Hiện tại, không có văn bản pháp luật nào quy định những cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền ra quyết định mà việc thực hiện quyết định đó là căn cứmiễn trách nhiệm
Trong thực tiễn, thường căn cứ vào những quy định của Pháp lệnh hợp đồngkinh tế 1989 (Điều 40) và Nghị định số 17-HĐBT ngày 16-1-1989 quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (Điều 24):
” Bên vi phạm hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn tráchnhiệm tài sản do phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan Nhà nước do những ngườisau đây ký:
- Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
- Trưởng ban chỉ huy chống lụt bão Trung ương
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương”.+ Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm
+ Thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm (Đ295 LTM)
- Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia vềtrường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra
- Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phảithông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báokhông kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại
- Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợpmiễn trách nhiệm của mình
Trang 15b Thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng (Đ294 LTM) + Kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéo dài thờihạnthực hiện nghĩa vụ hợp đồng; nếu các bên không có thoả thuận hoặc không thỏathuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gianbằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý đểkhắcphục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây:
a) Năm tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứngdịch vụ được thoả thuận không quá mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợpđồng;
b) Tám tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng
dịch vụ được thoả thuận trên mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng
+ Trường hợp kéo dài quá các thời hạn (quy địnhtại khoản 1 Điều 294), các bên cóquyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồithường thiệt hại
+ Trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng thì trong thời hạn không quá mười ngày,
kể từ ngày kết thúc thời hạn (quy định tại khoản 1 Điều 294), bên từ chối phải thôngbáo cho bên kia biết, trước khi bên kia bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng.+ Việc kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng quy định tại khoản 1 Điều 294không áp dụngđối với hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có thời hạn cốđịnh về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ
4.3 Chế tài trong thương mại (Đ292 LTM)
Trang 16Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù laodịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định trên đây.
* Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định nêu trên thìbên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thaythế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trảkhoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyếttật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tếhợp lý
-Bên vi phạm là bên muathì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng
hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng vàtrong Luật Thương mại
+ Gia hạn thực hiện nghĩa vụ (Đ298 LTM)
Trường hợp buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể gia hạnmột thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
+ Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác
(Đ299 LTM)
- Trừ trường hợp có thoả thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại vàphạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác
Trang 17- Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợpđồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng cácchế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
2 Phạt vi phạm
+ Khái niệm (Đ300 LTM)
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiềnphạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợpmiễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này
+ Mức phạt vi phạm (Đ301 LTM)
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối vớinhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trịphần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luậtnày (Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai)
3 Bồi thường thiệt hại
+ Khái niệm (Đ302 LTM)
Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm *giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà
bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và *khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
+ Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Đ303 LTM)
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này,trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1) Có hành vi vi phạm hợp đồng
2) Có thiệt hại thực tế
3) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại Yếu tố thứ 4: Lỗi ,suy ra từ Điều 308 Bộ luật dân sự và Điều 294 LuậtThương mại (Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm)
“Lỗi trong trách nhiệm dân sự
1 Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thìphải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoảthuận khác hoặc pháp luật có quy định khác