1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương Kỹ năng của Luật sư trong giải quyết vụ án Hình sự

8 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương Kỹ năng của Luật sư trong giải quyết vụ án Hình sự
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 25,26 KB
File đính kèm Barem ôn thi Luật sư giải quyết vụ án Hình sự.rar (23 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Barem ôn thi môn kỹ năng cơ bản của Luật sư giải quyết vụ, việc dân sự, dàn ý cơ bản đi thi (được mang kèm theo), tài liệu nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu, hỗ trợ học tập, không phục vụ mục đích không lành mạnh, đúng đắn. Chúc các bạn học tập thật tốt, giúp sức cho đất nước lớn mạnh

Trang 1

MÔN LS3

KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

I ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN

1 Xác định tư cách tố tụng:

- Đối tượng: Bị cáo (Điều 61), Bị hại (Điều 62), Nguyên đơn dân sự (Điều 63), Bị đơn dân sự

(Điều 64), Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 65)…

- Theo quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khi Tòa án thụ lý vụ

án, người bị buộc tội tham gia tố tụng với hai tư cách:

 Bị can: Kể từ khi nhận hồ sơ, thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử;

 Bị cáo: Kể từ khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử

2 Xác định tội danh của vụ án hình sự: Căn cứ BLHS 2015

Định hướng bào chữa: ví dụ: theo hướng yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung (điểm a và

đ khoản 1 BLTTHS 2015) do thiếu chứng cứ dùng để chứng minh nhưng không thể bổ sung

được tại phiên tòa và việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc

giảm nhẹ tội danh cụ thể áp dụng K.1 Đ.54 BLHS 2015 hoặc phòng vệ chính đáng.

Nhận xét về tội danh áp dụng: Tội danh áp dụng đối với A chưa chính xác, chưa đủ căn cứ

để xác định A phạm tội cố ý gây thương tích, chưa xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của A và hật quả vết thương trên cơ thể B

Bên cạnh còn còn căn cứ vào một số tình tiết như: Mâu thuẫn giữa lời khai, chưa xác định được nguyên nhân gây thương tích là tự gây ra/vô tình/do A gây nên

* Trao đổi với cơ quan tố tụng: tình tiết mâu thuẫn, tình tiết nhân thân và giảm nhẹ (đối với người dưới 18 tuổi)

* Ví dụ một số bản án về người chưa thành niên phạm tội:

2.1 Bản án về tội giết người:

Nhận định của Tòa án: Bị cáo là người chưa thành niên khi phạm tội (hơn 15 tuổi nhưng dưới 16 tuổi) Diễn biến của vụ án thể hiện rằng bị cáo không biết trước ý định giết người bị hại của bị cáo đầu vụ, chỉ biết đi theo T để đuổi đánh người bị hại Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù

2.2 Bản án về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ:

Nhận định của Tòa án: Bị cáo là người chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, đang là học sinh; có khả năng tự cải tạo Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo

Trang 2

2.3 Bản án về tội gây rối trật tự công cộng:

Nhận định của Tòa án: Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên có thể cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

2.4 Bản án về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:

Nhận định của Tòa án: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù

có thời hạn đối với bị cáo mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự, phạt cải tạo không giam giữ dối với bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội

Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ Bị cáo là người chưa thành niên nên không phải áp dụng mức khấu trừ thu nhập

2.5 Bản án về tội trộm cắp tài sản

Nhận định của Tòa án: Tuy giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.250.000 đồng nhưng bị cáo là người chưa thành niên, có ý thức phạm tội bột phát, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ Xét bị cáo là người chưa thanh niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung

2.6 Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Nhận định của Tòa án: Bị cáo Th khi phạm tội cũng mới 16 năm 9 tháng 19 ngày tuổi, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên khi xem xét quyết định hình phạt cần cân nhắc, áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự quy định về đường lối xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đối với người

đã thành niên phạm tội tương tự

Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo Th 18 tháng tù Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

2.7 Bản án về tội cướp giật tài sản

Nhận định của Tòa án: Hội đồng xét xử chấp nhận những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo cùng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội

Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù Xử phạt bị cáo Huỳnh Trung C 01 năm 02 tháng tù Do các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Huỳnh Trung C là người chưa thành niên, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung

Trang 3

2.8 Bản án về tội cố ý gây thương tích

Nhận định của Tòa án: Không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao về cho gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục cũng đủ răn đe và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, sửa đổi thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật

Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ Không khấu trừ thu nhập

cá nhân do bị cáo là người chưa thành niên

2.9 Bản án về tội vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đặc biệt (ĐKPTGTĐB)

Nhận định của Tòa án: Không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo

cư trú quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội Kết quả xét xử: Xử phạt bị cáo 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo

2.10 Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy

Nhận định của Tòa án: Bị cáo là người chưa thành niên, nên được hưởng chính sách khoan hồng giảm nhẹ của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội Kết quả xét xử: Xử phạt

bị cáo 18 tháng tù Khi phạm tội là người chưa thành niên, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền

3 Xác định thời hạn khởi tố VAHS: (tùy thuộc từng VA)

- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện

- Theo quy định tại các Điều 143, Điều 147, Điều 153, Điều 154 BLTTHS 2015 thời hạn khởi

tố vụ án là 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

4 Xác định thẩm quyền của Tòa án giải quyết:

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: căn cứ Đ 268, 269 BLTTHS 2015;

- Thẩm quyền truy tố của VKS: Đ 239, 240 BLTTHS2015;

5 Văn bản áp dụng pháp luật:

- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Bộ luật Hình sự 2015;

- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003 (áp dụng tinh thần);

- Công văn 64/TANDTC-PC 2019 về thông báo kết quả giải đáp vướng mắc về hình sự, dân sự;

Trang 4

- Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán (Ban hành kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia)

II XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HỎI

Định hướng bào chữa: Bào chữa cho bị cáo theo hướng … không đủ để buộc tội bị cáo,…

Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bào chữa cho …

2 Hỏi bị cáo

* Hỏi để xác định rõ phạm vị công việc và hành vi của bị cáo, ví dụ:

- Anh quen A qua đâu? Mối quan hệ giữa A với anh là ntn?

- Anh làm việc ở đâu? Làm ở đây từ khi nào? Do ai giới thiệu hay tự xin?

- Trong quá trình làm việc có phát sinh mâu thuẫn gì không? Có biết A phát sinh mâu thuẫn với ai không?

- Thu nhập của A/anh là bao nhiêu? Ngoài khoản thu nhập đó ra anh/A còn khoản nào không?

- Anh có thông tin của B từ đâu? Anh có mua/ giao dịch gì với B không?

- Số hàng hóa của anh mua từ đâu? Cụ thể từ bao giờ (giờ, ngày, tháng, năm)?

III LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO THÂN CHỦ

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!

Thưa Quý luật sư đồng nghiệp cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay!

3.1 Cố ý gây thương tích

Tôi là Luật sư Y.F.M.T thuộc Văn phòng luật sư Đ.D, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

Hôm nay, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là người bào chữa cho bị cáo K - người

bị VKSND huyên M truy tố về tội danh: “Tội cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ

Luật Hình sự 2015 quy định

Lời đầu tiên cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mê Linh đã hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được kịp thời tiếp cận, nghiên cứu, sao chụp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, để có cơ sở vững chắc trong việc bào chữa cho thân chủ của mình tại phiên tòa hôm nay

Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra quyết định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự do thiếu chứng cứ dùng

để chứng minh nhưng không thể bổ sung tại phiên tòa cũng như việc khởi tố, điều tra, truy tố

có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Để HĐXX có thêm căn cứ đưa ra kết luận

Trang 5

chính xác, đúng với sự thật khách của vụ án tôi xin trình bày quan điểm của mình về vụ án như sau:

* Về trình tự thủ tục tố tụng:

1 Vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Biên bản Báo cáo vụ việc của Công an;

- Đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can của người bị hại N;

- Bản báo cáo vụ việc của Công an đã không tiến hành các thủ tục để tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm theo đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 146 BLTTHS Theo ghi nhận tại các BL

có trong hồ sơ Công an huyện M mới ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” Như vậy, CQCSĐT đã vi phạm về thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm

được quy định rất rõ tại khoản 1 Điều 147 BLTTHS, được hướng dẫn bởi Điều 9, Điều 11 Thông tư liên tịch Số: 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017

Những sự vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng là những vi phạm nghiêm trọng theo quy định tại Thông tư liên tịch Số:

02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền

lợi hợp pháp của bị cáo

2 Vi phạm nghiêm trọng nội dung về các tình tiết, diễn biến vụ án còn chưa được làm rõ.

* Về tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành vết thương của bị hại Nguyễn Văn Minh

* Về vật chứng thu thập được

* Về thu thập lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng.

* Về thực nghiệm điều tra để làm rõ các tình tiết có thật trong vụ án.

KẾT LUẬN

Kính thưa HĐXX, nhằm đảm bảo theo đúng nguyên tắc cơ bản tại BLTTHS 2015 và theo như trình bày ở trên với mục đích không làm oan người vô tội Trong vụ án này cơ quan TAND huyện M cũng đã hai lần ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, tuy nhiên CQCSĐT, VKSND huyện M vẫn không cung cấp thêm được các tài liệu, chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết là căn cứ kết luận thân chủ tôi có thực hiện hành vi phạm tội

Thưa Quý Tòa, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp được pháp luật bảo vệ của thân chủ tôi Tôi kính mong HĐXX chấp thuận kiến nghị và ra Quyết định tuyên bị cáo K vô tội do không

đủ các căn cứ để làm rõ hành vi phạm tội trong quá trình tố tụng

(Kính thưa HĐXX, xét thấy đây hành vi của bị cáo chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và

Trang 6

cũng chưa tới mức phải truy tố về trách nhiệm hình sự Viện Kiểm Sát truy tố về tội:“Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 BLHS 2015 là chưa đủ căn cứ và không phản

ánh đúng hành vi của bị cáo gây ra Đề nghị Hội Đồng Xét Xử xem xét các vấn đề tôi vừa nêu

để tuyên bị cáo Ngô Đình Hoàng vô tội vì không có đủ căn cứ buộc tội bị cáo về tội: “Chống người thi hành công vụ” căn cứ theo Điều 13 BLTTHS 2015 Theo đó, về việc bị cáo Ngô

Đình Hoàng có thừa nhận về hành vi chử bới, to tiếng chỉ xem xét xử lý hành chính theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt)

Xin cảm ơn Hội đồng xét xử, vị đại diện viện kiểm sát, cùng mọi người đến dự phiên tòa đã lắng nghe Tôi xin trân trọng cảm ơn!

3.2 Cố ý gây thương tích – người chưa thành niên (16 tuổi)

Quan điểm của người bào chữa: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện TN đã tuyên

phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là thỏa đáng, phù hợp với quy định của pháp luật Việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện TN và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có phần nghiêm khắc, chưa áp dụng triệt để chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội

Hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ, bởi lẽ: Giữa 2 nhóm của bị cáo và bị hại đã

có mâu thuẫn từ trước, nguyên nhân dẫn đến việc đánh nhau là do bị hại đã chủ động tấn công nhóm của bị cáo trước; khi các bên xông vào đánh nhau, bị cáo K cũng không tham gia đánh nhau, bị cáo chỉ đứng nhìn, khi thấy bạn mình bị đánh và gọi bị cáo cầu cứu, bị cáo mới có hành động xông vào Do thời điểm đó bị cáo chỉ mới 16 tuổi 3 tháng 06 ngày, nhận thức của bị cáo còn chưa hoàn thiện nên chưa có cách hành xử phù hợp với quy định của pháp luật Hành

vi của bị cáo là bộc phát xuất phát từ hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra trước nên có thể thấy việc phạm tội của bị cáo không hoàn toàn từ nguyên cớ do bị cáo gây ra nên bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 321 BLTTHS, Kiểm sát viên chỉ được đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản Cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên lại truy tố thêm 1 tình tiết

định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” so với nội dung Cáo trạng đã truy tố, việc truy tố

thêm tình tiết này làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ

* Tình tiết giảm tội:

Trang 7

Ngoài ra, theo nhận xét của chính quyền địa phương, nhà trường đã xác nhận bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, quy định của nhà trường Đại diện chính quyền

địa phương, nhà trường, đại diện của bị hại cũng đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, thể hiện bản thân bị cáo không phải là người côn đồ, bên cạnh

đó, hậu quả thương tích bị cáo gây ra cho bị hại không thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng nên bị cáo vẫn có đủ điều kiện được hưởng án treo

Đối với việc không tuyên quyền kháng cáo của người bào chữa Do Bản án cấp sơ thẩm

tuyên đã thỏa đáng nên người bào chữa không kháng cáo Tuy có vi phạm tố tụng nhưng không ảnh hưởng đến quyền của bị cáo cũng như người bào chữa trong vụ án này (căn cứ vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích của bị cáo).

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện

TN và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên Bản án sơ thẩm

Nhận định của Tòa án

Thứ nhất, về việc không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” và quyết định cho bị cáo K được hưởng án treo là không đúng quy định

Ngoài ra, bị cáo chỉ nhằm vào tay của M và N để tấn công (việc đâm trúng ngực của M là ngoài chủ đích của bị cáo) thể hiện bị cáo cũng đã nhận thức được một phần mức độ nguy hiểm của hành vi của mình nhưng bị cáo chưa lựa chọn được cách giải quyết phù hợp hơn do tâm lý, nhận thức còn hạn chế Tuy giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước nhưng

xuất phát từ việc bị hại có hành vi trái pháp luật đối với P (là bạn của bị cáo) trước Khi thấy bạn gọi giúp, bị cáo chỉ nhận thức được bạn của mình đang hoảng sợ vì bị đánh, bị cáo phải giúp bạn tuy nhiên, do bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế thiếu hiểu biết nên việc lựa chọn cách xử sự còn chưa phù hợp, dẫn tới việc gây thương tích cho bị hại Sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của phía bị hại; do đó, hành vi của bị cáo không thể hiện tính chất côn đồ

Theo Cáo trạng số Viện kiểm sát nhân dân huyện TN truy tố bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS 2015 Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên

có bổ sung thêm tình tiết định khung đối với bị cáo là phạm tội “Có tính chất côn đồ” theo

điểm i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 Việc bổ sung thêm tình tiết định khung tăng nặng này làm xấu đi tình trạng của bị cáo, không đúng với quy định tại các Điều 266, 306, 319, 321 BLTTHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Trang 8

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, không cho hưởng án treo đối với người phạm tội là người côn đồ Theo từ điển Tiếng Việt, côn đồ được hiểu là kẻ chuyên gây sự, hành hung, có hành động ngang ngược, thô bạo Bị cáo K được địa phương, nhà trường nơi bị cáo sinh sống

và học tập đã có đơn bảo lãnh và xác nhận bị cáo luôn chấp hành đúng và đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia các phòng trào do địa phương phát động, bị cáo luôn ngoan ngoãn ở gia đình, nhà trường và xã hội Bị cáo không phải là kẻ chuyên gây sự, hành hung hay

có những hành động ngang ngược nên bị cáo không phải là người côn đồ

Theo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh

và trở thành công dân có ích cho xã hội Xét thấy, bị cáo còn đang trong độ tuổi chưa thành niên, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, hành vi của bị cáo chỉ mang tính chất bộc phát, tức thời, bản thân bị cáo cũng luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Nhà nước, phong trào của địa phương Chính quyền địa phương và Nhà trường nơi bị cáo sinh sống, học tập đã có đơn xin cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội và cam kết có trách nhiệm quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo tại địa phương Bị cáo tuổi còn trẻ, tương lai còn dài; bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, ăn năn hối cải; đồng thời gia đình, Nhà trường, chính quyền địa phương đều quan tâm, giám sát, giáo dục, quản lý bị cáo nên bị cáo có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội Vì vậy, cần tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi nói riêng

Ngày đăng: 07/09/2023, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w