MỤC LỤC CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1 3 8 T1.1. Vị trí vai trò của ngành Tài nguyên và Môi trường trong nền kinh tế quốc Dân3 8 T 1 3 8 T1.1.1.3 8 T 3 8 TGiới thiệu tổng quan về ngành Tài nguyên và Môi trường3 8 T 1 3 8 T1.1.2. Đặc điểm của ngành tài nguyên môi trường cấp Tỉnh, Thành phố3 8 T 1 3 8 T1.1.3. Vị trí vai trò của Ngành Tài nguyên Môi trường trong nền kinh tế thị trường3 8 T 7 3 8 T1.1.4. Sự cần thiết phải phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường3 8 T 9 3 8 T1.2. Vốn với quá trình phát triển kinh tế nói chung, ngành Tài nguyên và Môi trường nói riêng3 8 T 12 3 8 T1.2.1. Vốn trong hoạt động kinh doanh3 8 T 12 3 8 T1.2.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư3 8 T 12 3 8 T1.2.1.2. Nhu cầu vốn đầu tư3 8 T 13 3 8 T1.2.1.3 Nguồn hình thành vốn đầu tư3 8 T 14 3 8 T1.2.2.Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và ngành Tài nguyên và Môi trường nói riêng3 8 T 18 3 8 T1.2.2.1. Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế3 8 T 18 3 8 T1.2.2.2. Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường3 8 T 19 3 8 T1.2.3. Các nguồn vốn đầu tư3 8 T 20 3 8 T1.2.3.1. Nguồn vốn trong nước3 8 T 20 3 8 T1.2.3.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài3 8 T 24 3 8 T1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn đầu tư trong các dự án, hoạt động cho sự phát triển kinh tế, xã hội3 8 T 26 3 8 T1.3.1. Những quan điểm của Đảng và nhà nước về huy động các nguồn vốn đầu tư3 8 T 26 3 8 T1.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn3 8 T 27 3 8 TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2006 2010.3 8 T 29 3 8 T2.1. Vị trí của tỉnh Hải Dương đối với phát triển chung cả nước3 8 T 29 3 8 T2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, KT XH tỉnh Hải Dương3 8 T 29 3 8 T2.1.2. Về kinh tế xã hội3 8 T 29 3 8 T2.1.3 Tình hình phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường Hải Dương về các lĩnh vực: Đất đai, Khoáng sản, Môi trường, Tài nguyên nước và khí tượng thủy văn những năm gần đây3 8 T 40 3 8 T2.1.3.1. Lĩnh vực đất đai3 8 T 40 3 8 T2.1.3.2. Lĩnh vực bảo vệ môi trường3 8 T 41 3 8 T2.1.3.3. Lĩnh vực Tài nguyên khoáng sản, Tài nguyên nước và khí tượng thủy văn3 8 T 41 3 8 T2.2. Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển tỉnh Hải Dương giai đoạn 200620103 8 T 42 3 8 T2.2.1. Huy động nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước3 8 T 44
Trang 1phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương giai đoạn 2011 – 2015” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu được đưa ra
trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả: Nguyễn Thị Sim
Trang 2đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà trường; em xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và nhà trường đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo PGS.TS Ngô Thị Thanh Vân, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Quản lý cùng các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý, Các anh, chị trong Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Hải Dương, Lãnh đạo và các đồng nghiệp trong Chi nhánh Công ty TNHH MTV ĐTXD Vạn Tường đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng em những khó khăn, động viên và giúp đỡ cho em nghiên cứu và hoàn thành đồ án này
EM XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
Trang 32006-2010)
Bảng 2.2: Thu ngân sách tỉnh Hải Dương
Bảng 2.3: Chi ngân sách tỉnh Hải Dương
Bảng 2.4: Chi ngân sách cho ngành Tài nguyên và Môi trường những năm 2006-
2009
Bảng 2.5: Cho vay tín dụng trung và dài hạn ngày 31.12
Bảng 2.6: Các đối tác đầu tư ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006- 2010
Bảng 2.7: Đầu tư FDI vào Hải Dương giai đoạn 2006-2010
Bảng 2.8: Phân tích cơ cấu đầu tư theo ngành (2006- 2010)
Trang 41 TNMT: Tài nguyên môi trường
2 UBND: Ủy ban Nhân dân
Trang 6CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1
1.2.2.Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn đầu tư trong các dự án, hoạt động cho
Trang 72.3 Đánh giá chung những kết quả đạt được trong công tác huy động vốn đầu tư phát triển
Trang 8Tài nguyên và môi trường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với con người và
sự phát triển xã hội Môi trường xung quanh chính là thứ mà mỗi một thực thể sống nhất thiết phải tương tác mới có sự tồn tại Tạo hoá đã sinh ra chúng ta đồng thời ban cho chúng ta Trái đất này để nuôi dưỡng cuộc sống loài người Hàng ngày chúng ta sử dụng không khí, nước, thực phẩm để tồn tại và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của mình
Trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề quản lý và sử dụng tài nguyên và môi trường ngày càng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Theo sự phát triển tất yếu của quy luật
xã hội, Đảng ta đã tiến hành đường lối đổi mới đất nước hai mươi lăm năm qua, đã phần nào thành công trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, trong
đó đổi mới về chính sách đất đai là đúng đắn và sáng tạo góp phần phát triển kinh tế
và ổn định chính trị - xã hội Song thực tiễn trong quản lý tài nguyên và môi trường hai mươi lăm năm qua cho thấy: Cùng với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường dẫn đến tình hình đô thị hoá, công nghiệp hoá, nông nghiệp phát triển với tốc độ nhanh, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề vốn đầu tư nhằm phát triển ngành tài nguyên và môi trường Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong vấn đề đầu tư phát triển trong lĩnh vực tài nguyên môi trường, Đảng ta đã có chiến lược phát triển kinh
tế xã hội trong giai đoạn 2001 – 2010: “ Phát triển nhanh, hiệu quả bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường,
phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học, gắn chặt việc xây dựng với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả”
Trang 9trẻ, cùng với sự đầu tư “ồ ạt” của các tổ chức nước ngoài vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thì việc giữ gìn khai thác tài nguyên môi trường hiện có và việc huy động vốn đầu tư nhằm phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương đang là thử thách rất lớn đối với Đảng, chính quyền và Nhân dân Hải Dương trong những năm tới
Vì lý do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp huy động vốn đầu tư nhằm phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương giai đoạn 2011 – 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về các
chính sách pháp luật, văn kiện có liên quan đến tài nguyên môi trường cùng với đó
là thực hiễn huy động vốn đầu tư cho sự phát triển đối với ngành Tài nguyên và Môi trường cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng
+ Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến vấn đề vốn, huy động vốn với
sự phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường nói chung và của Thành phố Hải
Dương
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ việc phân tích tình hình thực hiễn các nguồn huy động vốn cho ngành Tài nguyên và Môi trường cùng với đó là tình hình thực tế của việc phát triển nền kinh
tế xã hội, xem xét, đánh giá các vấn đề còn tồn tại từ đó đề ra các giải pháp thiết thực cho việc huy động vốn nhằm đầu tư phát triền ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu
Trang 10- Kết hợp vố một số phương pháp nghiên cứu khác
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa lý luận cơ bản về cơ cấu phân cấp, sự phát
triển và những tồn tại của ngành Tài nguyên và Môi trường Đồng thời nêu lên tầm quan trọng của các nguồn vốn có thể huy động được Từ đó đưa ra các giải pháp để lựa chọn hướng phát triển và những tiềm lực cần được chú trọng để thúc đẩy sự phát triển của ngành
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở lý luận đã nêu, luận văn đã đề xuất một số nhóm giải
pháp huy động vốn đầu tư nhằm phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương giai đoạn 2011 – 2015 đồng thời giải quyết những vấn đề còn bất cập
Trang 11CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Vị trí vai trò của ngành Tài nguyên và Môi trường trong nền kinh tế quốc Dân
1.1.1 Giới thiệu tổng quan về ngành Tài nguyên và Môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có trách nhiệm tham mưu giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, bao gồm: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ; và các vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường Như đã nói ở trên, ngành TNMT cấp tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ TNMT, tiếp nhận sự chỉ đạo của
Bộ và quản lý chi tiết đến các phòng TNMT thuộc các huyện, các xã Có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo các phòng TNMT về mọi hoạt động của nó cùng với các hoạt động chỉ đạo của các phòng này lên cấp quản lý cấp huyện, cấp xã Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện bảo
vệ môi trường trong ngành và các cơ sở trực thuộc quản lý trực tiếp
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương
1.1.2 Đặc điểm của ngành tài nguyên môi trường cấp Tỉnh, Thành phố
* Trong lĩnh vực đất đai
Trang 12Đây là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm Sở có trách nhiệm chỉ đạo và thực hiện một cách thống nhất trong các công việc sau:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương Tổ chức thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; kiểm tra việc
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được phê duyệt;
- Tổ chức thẩm định hồ sơ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất;
- Thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất theo uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh; ký hợp đồng thuê đất, thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất; việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính; việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập và chỉnh lý biến động bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng
hệ thống thông tin đất đai trên địa bàn tỉnh;
- Chủ trì xác định giá đất, gửi Sở tài chính thẩm định trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định giá đất theo định kỳ tại địa phương phù hợp với khung giá đất do Chính phủ ban hành; đề xuất việc giải quyết các trường hợp vướng mắc về giá đất;
tổ chức thực hiện điều tra, tổng hợp và cung cấp thông tin, dữ liệu về giá đất;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các trường hợp bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật;
Trang 13- Tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, phát triển quỹ đất, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Tổ chức, quản lý hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (QSDĐ) cấp tỉnh, Trung tâm Phát triển quỹ đất (trong trường hợp tổ chức này đặt trực thuộc Sở) và hướng dẫn kiểm tra hoạt động của Văn phòng đăng ký QSDĐ cấp huyện (hoặc chi nhánh Văn phòng Đăng ký QSDĐ được đặt tại cấp huyện)
* Các vấn đề liên quan đến Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên có hạn Nhưng theo thói quen, con người thường quy nó
là TN vô tận Từ đó có những phương cách sử dụng và tương tác với nguồn tài nguyên này một cách thiếu tích cực gây khó khăn cho NN trong vấn đề quản lý nguồn TN quý giá này Sở có những trách nhiệm cụ thể như sau trong vấn đề quản
lý TN nước:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Tổ chức thẩm định các đề án, dự án về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chuyển nước giữa các lưu vực sông thuộc thẩm quyền phê duỵêt của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Tổ chức thực hiện việc xác định ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các sông, các tầng chứa nước, các khu vực dự trữ nước, các khu hạn chế khai thác nước; kế hoạch điều hoà, phân bổ tài nguyên nước trên địa bàn;
- Tổ chức thẩm định hồ sơ gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lực và thu hồi Giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất theo thẩm quyền; thực hiện việc cấp phép và thu phí, lệ phí về tài nguyên nước theo quy định của pháp luật; thanh tra, kiểm tra các hoạt động về tài nguyên nước quy định trong giấy phép;
- Tổ chức thực hiện công tác điều tra cơ bản, kiểm kê, thống kê, lưu trữ số liệu tài
Trang 14nguyên nước trên địa bàn; tổ chức quản lý, khai thác các công trình quan trắc tài nguyên nước do địa phương đầu tư xây dựng;
- Tổng hợp tình hình khai thác, sử dụng nước, các nguồn thải vào nguồn nước trên địa bàn; lập danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc trám lấp giếng không sử dụng theo quy định của pháp luật;
- Chủ trì điều tra cơ bản về địa chất, lập bản đồ cơ sở dữ liệu về địa chất trên địa bàn tỉnh;
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan khoanh định các khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, xác định các khu vực đấu thầu thăm dò, khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh; đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản;
- Tổ chức thẩm định đề án thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường
và than bùn; tham gia xây dựng quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Tổ chức thẩm định hồ sơ về việc cấp, gia hạn, thu hồi, trả lại Giấy phép hoạt động khoáng sản, cho phép chuyển nhượng, cho phép tiếp tục thực hiện quyền hoạt động khoáng sản trong trường hợp được thừa kế và các đề án đóng cửa mỏ thuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Tổ chức thẩm định báo cáo thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn thuộc thuộc thẩm quyền phê duỵêt của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản của các tổ chức, cá nhân; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về hoạt động khoáng sản và xử lý hoặc kiến nghị
xử lý các vi phạm pháp luật về khoáng sản theo quy định của pháp luật;
- Quản lý, lưu trữ và cung cấp thông tin, tư liệu về thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng và than bùn; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản đã được phê duyệt
và định kỳ báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường
* Trong lĩnh vực môi trường
- Tổ chức đánh giá hiện trạng môi trường tại địa phương theo định kỳ; điều tra, xác
Trang 15định khu vực môi trường bị ô nhiễm, lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn và định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định của pháp luật; kiểm tra việc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường của các cơ sở đó;
- Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch huy động các nguồn lực nhằm ứng phó, khắc phục ô nhiễm môi trường do các sự cố môi trường gây ra theo phân công của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Thực hiện việc cấp, gia hạn và thu hồi giấy phép đối với chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn nguy hại theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu theo thẩm quyền;
- Tổ chức thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường, các dự án thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân tỉnh; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Chủ trì phối hợp tổ chức thực hiện chương trình, đề án bảo vệ, khắc phục, cải tạo cảnh quan môi trường liên ngành, bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước (nếu có) theo phân công của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Hướng dẫn xây dựng và tổ chức, quản lý hệ thống quan trắc môi trường theo quy định của pháp luật; thống kê, lưu trữ số liệu về môi trường tại địa phương;
- Tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường thuộc phạm vi chức năng của Sở;
- Tổ chức việc thu phí thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải theo quy định của pháp luật;
- Tổng hợp dự toán chi sự nghiệp bảo vệ môi trường của các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương và phối hợp với Sở Tài chính báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh; chủ trì phối hợp với Sở Tài chính quản lý quỹ bảo vệ môi trường của địa phương theo phân công của Uỷ ban nhân dân tỉnh
* Lĩnh vực khí tượng thuỷ văn
- Tổ chức thẩm định hồ sơ về việc cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung, thu hồi Giấy
Trang 16phép hoạt động của công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng ở địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh và kiểm tra việc thực hiện;
- Chủ trì thẩm định các dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình khí tượng, thuỷ văn chuyên dùng; tham gia xây dựng phương án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn;
- Chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan ở Trung ương và địa phương trong việc bảo vệ, giải quyết các vi phạm hành lang an toàn kỹ thuật công trình khí tượng thuỷ văn của Trung ương trên địa bàn;
- Tổng hợp và báo cáo tình hình, tác động của biến đổi khí hậu đối với các yếu tố tự nhiên, con người và kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với các ngành có liên quan đề xuất và kiến nghị các biện pháp ứng phó thích hợp
* Lĩnh vực đo đạc và bản đồ
- Xác nhận đăng ký; thẩm định hồ sơ và đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, bổ sung, gia hạn và thu hồi Giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức, quản lý việc triển khai các hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy hoạch,
kế hoạch; quản lý chất lượng các công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ; thống nhất quản lý toàn bộ hệ thống tư liệu đo đạc và bản đồ tại địa phương; quản lý việc bảo mật, lưu trữ, cung cấp khai thác sử dụng thông tin tư liệu đo đạc và bản đồ; quản lý việc bảo vệ các công trình xây dựng đo đạc và bản đồ;
- Quản lý và tổ chức thực hiện việc xây dựng, cập nhật, khai thác hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đo đạc và bản đồ ở tỉnh, bao gồm: hệ thống điểm đo đạc cơ sở, cơ sở
dữ liệu nền thông tin địa lý, hệ thống địa danh trên bản đồ, hệ thống bản đồ địa chính, hệ thống bản đồ hành chính, bản đồ nền, bản đồ chuyên đề phục vụ các mục đích chuyên dụng, bản đồ địa hình;
- Theo dõi việc xuất bản, phát hành bản đồ và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ phát hành, thu hồi các ấn phẩm bản đồ có sai sót về thể hiện chủ quyền quốc gia, địa giới hành chính, địa danh thuộc địa phương; ấn phẩm bản
đồ có sai sót về kỹ thuật
Trang 17Chức năng quản lý các Phòng TNMT: hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường đối với phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, công chức chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường
1.1.3 Vị trí vai trò của Ngành Tài nguyên Môi trường trong nền kinh tế thị trường
Tài nguyên thiên nhiên chính là những vật liệu gốc cho mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế Bởi vậy vai trò của ngành TNMT là hết sức quan trọng:
* Tài nguyên khai khoáng
Từ thủa sơ khai, con người đã biết khai thác khoáng sản để làm công cụ sản xuất
Và đến bây giờ ai cũng biết, chúng là những vật liệu không thể thiếu cho ngành CN nặng – ngành chế tạo ra máy móc Máy móc cùng với những tư liệu lao động khác (những tài nguyên khác) chính là điều kiện cần để xã hội phát triển và tồn tại Tài nguyên tối cần thiết cho nền kinh tế thị trường thì vai trò của ngành TNMT cũng cần được xem trọng Ngành cần đặt ra những câu hỏi bức thiết: Khai thác thế nào? Phân bổ ra sao? Và sử dụng thế nào cho triệt để? Giải quyết tốt những câu hỏi trên
sẽ giúp NN sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn khoáng sản, đồng thời phát triển, điều tiết được nền kinh tế nóng của đất nước, hướng vào phát triển bền vững
* Trong việc quản lý đất đai
Hoạt động giao đất, cho thuê đất đã đưa một lượng đất rất lớn vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội Giao đất rừng đến từng hộ gia đình không chỉ bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ hệ sinh thái rừng quý giá mà đặc biệt góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình Đặc biệt là việc giao đất, cho thuê đất để xây dựng đang đem lại một nguồn thu lớn
và ổn định cho thu ngân sách nhà nước
* Trong quản lý các tài nguyên khai khoáng
Sự quản lý của NN đã phần nào đưa ngành khai khoáng phát triển đúng hướng theo hướng phát triển bền vững Thử hình dung nếu thả cho ngành này hoạt động một cách tự phát thì Việt Nam có chắc chắn mắc sai lầm, sẽ chịu “lời nguyền tài
Trang 18nguyên” hay không? Hoạt động theo đúng quy luật của nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam đã và đang chú trọng vào khai thác và xuất khẩu thô nguồn tài nguyên này Việc đưa ra những quyết sách và hướng khai thác cho nó cần hết sức cân nhắc bởi nó chính là con dao 2 lưỡi Xuất khẩu thô tài nguyên đang chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm kinh tế quốc Trong năm 2011, dầu thô là 1 trong 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD là, dầu thô 7,2 tỷ USD; Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu có một số thay đổi so với năm 2010, theo đó, tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 35,2%, tăng 4 điểm phần trăm…
* Trong quản lý TN nước và môi trường
Quản lý nguồn nước và chất lượng nước đang và sẽ dần có chế tài cụ thể Bởi nước gắn liền với hoạt động sản xuất Cả đầu vào và đầu ra của nước đều cần được quản
lý cụ thể, minh bạch Hiện tại ngành chưa quản lý chặt đầu vào của nước Trong tương lai tất cả đối tượng sử dụng nước cần phải đóng thuế TN để có tương tác tích cực với nguồn tài nguyên vô giá này Còn đối với đầu ra, thời gian gần đây, báo chí
dư luận lên tiếng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường như vụ Vedan xả thải trái phép ra sông Thị Vải, nhà máy nhôm Tung Kuang xả thải không qua xử lý vào đường ống ngầm ở Cẩm Giàng – Hải Dương vv đã thể hiện sự quan tâm đến việc quản lý chất lượng nguồn nước của ngành TNMT
Trong nền kinh tế mở hiện nay, Đảng và NN đang có chủ trương mở cửa để hội nhập với quốc tế và khu vực, nên đã có một số nước thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta để thuê đất xây dựng các khu CN mang lại khoản thu không nhỏ cho đất nước đồng thời giải quyết được rất nhiều việc làm cho người lao động Việt Nam, thay đổi hơn bộ mặt cho các vùng dân cư quanh các khu CN được đầu tư Đất nước
ta còn nghèo, trình độ phát triển còn hạn chế, NN cũng chủ trương mở rộng quan
hệ, thu hút nước ngoài đầu tư cho các ngành mũi nhọn như đầu tư máy móc, công nghệ, con người để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên
Quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường thông qua việc thiết lập các cơ sở pháp lý vững chắc trong các quan hệ xã hội về tài nguyên và môi trường còn đảm
Trang 19bảo sự điều hoà về lợi ích giữa mọi người trong xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định, bình đẳng và công bằng xã hội
1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường
Việc phát triển ngành Tài nguyên môi trường hiện nay là vấn đề nóng và luôn được đặt lên hàng đầu song song cùng sự phát triển của nền kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung
* Đối với TN đất
Tài nguyên đất đang bị suy thoái với mức độ chóng mặt Tỷ trọng sử dụng đất không hợp lý, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh trong khi cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp Đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp không những do chuyển đổi cơ cấu
sử dụng đất mà còn do ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước…
Hiện nay, theo đánh giá của FAO trong diện tích đất trồng trọt thì đất cho năng suất cao chiếm 14%, đất cho năng suất trung bình chiếm 28% và đất cho năng suất thấp chiếm 58% Trong tương lai, có thể khai phá và đưa vào sử dụng nông nghiệp khoảng 15 - 20%, tối đa khoảng 3200 triệu ha, gấp hơn hai lần diện tích đất đang sử dụng hiện nay Nhưng rõ ràng, trên phạm vi toàn thế giới đất tốt thì ít, đất xấu thì nhiều và quỹ đất ngày càng bị thoái hoá
Nguyên nhân gây ra sự tổn thất và suy thoái đất rất đa dạng, trước hết phải kể đến là
sự mất rừng hoặc khai thác rừng đến cạn kiệt, hoạt động nông nghiệp (mặn hoá thứ sinh do tưới tiêu không hợp lý; dùng quá nhiều phân bón hoặc hoàn toàn không dùng phân bón làm xói mòn đất; ô nhiễm đất do phân bón, các hợp chất bảo vệ thực vật và ô nhiễm sinh học) 28% và hoạt động công nghiệp (sử dụng đất làm bãi thải gây ô nhiễm môi trường đất ) 1%
Việt Nam có diện tích tự nhiên gần 33 triệu ha, trong đó diện tích đang sử dụng là 22.226.830 ha, chiếm 68,83% tổng quỹ đất Còn 10.667.577 ha đất chưa sử dụng, chiếm 33,04% diện tích đất tự nhiên Đất nông nghiệp ít, chỉ có 8,146 triệu ha, chiếm 26,1% diện tích tự nhiên (Tổng cục Địa chính, 1999)
Với đặc điểm đất đồi núi chiếm 3/4 toàn lãnh thổ lại nằm trong vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá diễn
Trang 20ra rất mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hoá đất Đất đã bị thoái hoá rất khó có thể khôi phục lại trạng thái màu mỡ ban đầu
* Đối với TN nước
Vấn đề nổi cộm hiện nay là nước thải Sự bùng nổ dân số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra một sức ép lớn tới môi trường sống ở Việt Nam, đặc biệt là với việc nguồn nước sinh hoạt ngày càng trở nên thiếu hụt và
ô nhiễm Hầu hết các sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều các khu công nghiệp lớn này đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 và chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại Vùng Châu thổ Sông Hồng và Sông Mê Kông Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất như các lò mổ và ngay
cả bệnh viện (khoảng 7000 m3 mỗi ngày, và chỉ có 30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải Trong quá khứ Sông Tô Lịch nổi tiếng bởi
sự trong sạch, linh thiêng là sự tự hào của dân tộc thì nay nói đến nó người ta cũng chỉ biết đến sự ô nhiễm nghiêm trọng của một dòng sông chết Không chỉ Sông Tô lịch mà đa số sông hồ trên địa bàn T.P Hà Nội đều đã ô nhiễm
Đó là ô nhiễm nước thành thị, nước thải nông thôn cũng vẫn là một “ mảng tối” đáng phải bàn
Kết quả mới nhất của Tổng Điều tra nông nghiệp nông thôn thủy sản cho thấy: Cả nước có gần 19% số xã và 9% số thôn đã xây dựng hệ thống thoát nước thải chung; trong đó, đồng bằng Sông Hồng là vùng đạt tỷ lệ cao nhất với 37,6% số xã và 26,6% số thôn đã xây hệ thống thoát nước thải chung, trong khi Tây Nguyên là vùng đạt tỷ lệ thấp nhất với 3,9% số xã và 1,3% số thôn có hệ thống thoát nước thải chung
Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn nông thôn cũng đã được chính quyền địa phương quan tâm đầu tư Hiện cả nước có 44% số xã có tổ chức hoặc
Trang 21thuê thu gom rác thải và 26% số thôn có tổ chức hoặc thuê thu gom rác thải; trong
đó đồng bằng Sông Hồng là vùng đạt tỷ lệ cao nhất với 82% số xã và 66% số thôn
có hệ thống này và trung du miền núi phía Bắc là vùng đạt tỷ lệ thấp nhất với 13%
số xã và 4% số thôn có hệ thống này
Tổng cục Thống kê cho biết: Cùng với những bất cập về vệ sinh môi trường, nông thôn Việt Nam còn đang phải hứng chịu tình trạng ô nhiễm môi trường nước thải, chất thải, không khí, đất đai gây ra bởi các làng nghề Theo kết quả Tổng Điều tra mới nhất, chỉ 4,1% số làng nghề ở nông thôn trong cả nước sử dụng thiết bị xử lý nước, chất thải độc hại Ô nhiễm làng nghề là vấn đề nhức nhối trong bức tranh nông thôn Việt Nam Đi cùng với nó là làng làng ung thư, xã ung thư…,
Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày càng tăng lên Ngoài ra, tỉ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước là rất cao Ô nhiễm nước làm mất mỹ quan đô thị Không những thế nó cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ô nhiễm đất Cùng với thói quen gây ô nhiễm, việc sử lý nước thải đã ô nhiễm thành hệ thống như vậy rất khó khăn và vô cùng tốn kém, tốn thời gian của nhiều thế hệ
* Đối với TN khoáng sản
Đi từ Bắc vào Nam, ta thấy không mảnh đất nào còn nguyên vẹn Tuy nhiên không thể khai thác với tốc độ quá mức như hiện nay (với 4.218 giấy phép khai thác khoáng sản của Trung ương và các địa phương) Vì những khoáng sản chúng ta có nhiều thì thế giới không thiếu, những khoáng sản thế giới thiếu thì chúng ta không
có nhiều (kể cả những khoáng sản đang xuất khẩu) Chúng ta không nên bán khoáng sản thô với giá rẻ mà cần dè sẻn để tiến tới tinh chế để có thể sử dụng hoặc bán với giá cao (ví dụ titan kim loại có giá cao hơn 80 lần so với sa khoáng titan)
Để khai thác khoáng sản cần đầu tư những khoản kinh phí quá lớn (ví dụ năm 2008
là 50.962 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép khai khoáng từ năm 1988 đến năm 2008 là 105.836 triệu USD) Khai thác với kỹ thuật thấp làm tổn thất tài nguyên rất lớn (ví dụ khai thác than hầm lò tổn thất 40-60%, khai thác apatit tổn
Trang 22thất 26-43%, khai thác quặng kim loại tổn thất 15-20%, khai thác dầu khí tổn thất tới 50-60% ) Không tận thu được các khoáng sản đi cùng và các quặng nghèo (độ thu hồi vàng từ quặng chỉ đạt 30-40% ) Quản lý kém nên vận chuyển và xuất khẩu lậu khoáng sản còn rất lớn (ví dụ xuất khẩu lậu quặng titan năm 2008 là trên 200.000 tấn) Nguồn thu từ hoạt động khoáng sản chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước (lợi nhuận chủ yếu rơi vào tay doanh nghiệp trong và ngoài nước, người lao động chỉ có việc làm ngắn hạn và thu nhập bấp bênh) Tình trạng khai thác như hiện nay chiếm diện tích quá lớn (kiểm kê năm 2005 là 41.000 ha) và gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường sinh sống của dân cư nơi khai thác Việc phục hồi môi trường sau khi khai thác không được thực hiện nghiêm chỉnh như luật định (ví
dụ năm 2008 lượng bốc đất đá khai thác than là 216 triệu m3, vùng khai thác sa khoáng titan làm san phẳng hệ thống đê cát, rừng phòng hộ và cảnh quan sinh thái ven biển ) Không bảo đảm an toàn lao động (gần 50% bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi là tập trung tại các vùng khai thác khoáng, rất nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra tại các khu khai thác khoáng)
Giai đoạn phát triển vừa qua, phát triển kinh tế - xã hội nước ta chủ yếu phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp công nghệ sản xuất quy mô tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị tàn phá nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động, chưa nhất quán trong quản lý và thực hiện Pháp luật chưa trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý các vấn đề liên quan đến môi trường và tài nguyên môi trường Phát triển ngành Tài nguyên và MT
sẽ là một hướng đi đúng theo quy luật phát triển của xã hội, góp phần xây dựng một nền kinh tế bền vững
1.2 Vốn với quá trình phát triển kinh tế nói chung, ngành Tài nguyên và Môi trường nói riêng
1 2.1 Vốn trong hoạt động kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư
Trang 23Có nhiều định nghĩa về vốn đầu tư nhưng theo một khái niệm tổng quát thì Vốn đầu
tư là thứ bỏ ra đầu tư để mong thu lại một sản phẩm kinh tế hơn
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ,
là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài nhằm để: tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các
cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới
1.2.1.2 N hu cầu vốn đầu tư
Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là một những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất Mặc dù lý thuyết kinh tế hiện đại ngày nay đề cập vốn đầu
tư theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tư để nâng cao tri thức, thậm trí bao gồm cả đầu tư để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn đạo đức xã hội, môi trường kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu tư quan trọng của quá trình sản xuất Tuy nhiên, việc mở rộng khái niệm vốn đầu tư theo quan điểm này không có ý nghĩa nhiều trong phân tích kinh tế và thực tiễn thống kê ở nước ta Vốn đầu tư, được xem xét ở đây chỉ với tư cách là nguồn lực vật chất được sử dụng có ý thức nhằm tạo dựng tài sản (hữu hình và vô hình) để nâng cao và mở rộng sản xuất, thông qua việc xây dựng, mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu cho sản xuất, nghiên cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới và nâng cao đời sống người dân
Ngay cả với khái niệm khá cụ thể và rõ ràng như vậy, thì nội dung của vốn đầu tư phát triển cũng có khá nhiều điểm cần phải lưu ý:
- Ở phạm vi doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh hộ gia đình, vốn đầu tư bao gồm giá trị mua sắm máy móc, nhà xưởng, tài sản lưu động và chi phí khác cho mục đích sản xuất của chính đơn vị cơ sở đó
- Vốn đầu tư của nhà nước bao gồm cả những chỉ tiêu công cộng cho hạ tầng kĩ thuật như cầu cống, đường xá, đê điều, các công trình phúc lợi như trường học,
Trang 24bệnh viện Mặc dù nó không tạo ra lợi nhuận hay mở rộng năng lực sản xuất cho cụ thể một ngành hay lĩnh vực nào, song hiển nhiên đây cũng là nguồn lực được sử dụng để nâng cao năng lực của cả nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư ở doanh nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân
- Ở phạm vi toàn quốc, vốn đầu tư phát triển không đơn thuần là phép cộng vốn đầu
tư của các doanh nghiệp và vốn đầu tư nhà nước Phần chuyển nhượng vốn, tài sản giữa các doanh nghiệp đương nhiên phải loại trừ vì nó không làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia (mặc dù nó có thể làm cho các nguồn lực này hoạt động hiệu quả hơn) Tính toán chỉ tiêu vốn đầu tư ở phạm vi địa phương (tỉnh, thành) thậm chí lại còn khó khăn hơn nhiều, không những nó phải loại trừ phần chuyển nhượng tài sản, thiết bị qua sử dụng, chuyển nhượng vốn lưu động (giữa các công ty trên địa bàn) nhưng lại được tính nếu đó là mua bán, chuyển nhượng với các doanh nghiệp tỉnh ngoài
- Vốn đầu tư phát triển còn bao gồm cả những nguồn lực cho khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu - điều này phù hợp với nội dung và ý nghĩa của chỉ tiêu này Việc nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xã hội hiện nay có mặt ở hầu hết các ngành, các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh Bên cạnh những trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng, còn rất nhiều cơ quan đơn vị phần ngân sách này là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thường xuyên Vì vậy rất khó có thể thu thập thông tin đầy đủ
1.2 1.3 Nguồn hình thành vốn đầu tư
* Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
Bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
-Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư
Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Đây chính là nguồn vốn dùng để đầu tư xây dựng các công trình công cộng, các hạng mục công trình an ninh quốc phòng và đầu tư cho các cơ sở
Trang 25phúc lợi xã hội Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu từ nguồn thu của ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nền kinh tế đất nước càng phát triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Thông qua nguồn vốn này, Nhà nước thực hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền Góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá
-Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn Đây chính là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước Hiện nay, với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn
xã hội
* Nguồn vốn huy động từ trong dân cư
Là phần tiết kiệm của các hộ gia đình, các cá thể có được sau khi đã đóng các khoản thuế thu nhập cá nhân Tuy nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhà nước huy động vốn từ trong dân với nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều ràng buộc Để tăng cường sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài vùng ngân sách thì cần phải có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm giàu chính đáng tạo lòng tin cho nhân dân yên tâm bỏ vốn ra đầu tư Tiềm lực trong nhân dân còn rất rất lớn, muốn vậy nhà nước phải ổn dịnh tiền tệ
Nguồn vốn từ dân cư này là nguồn vốn có tầm quan trọng cao Nó được chuyển
Trang 26sang vốn đầu tư huy động bằng các cách mua trái phiếu chính phủ, hoặc chuyển thành nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty phát hành
* Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài đó chính là các khoản đầu tư nước ngoài (ĐTNN) hay còn gọi là đầu tư quốc tế Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục đích kiếm tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã hội nhất định
Về bản chất, đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa luôn bổ sung
và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các công
ty, tập đoàn lớn của nước ngoài hiện nay Nhiều trường hợp việc buôn bán hàng hóa
ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài này ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một
số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế
- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ và những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới
cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia
- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên “lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế
- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển là rất lớn, tạo nên “sức hút” mạnh mẽ với nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy, vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính là đầu tư của tư nhân (trong đó chủ yếu là đẩu tư trực tiếp nước ngoài – FDI) và đầu tư của Chính phủ hay các tổ chức quốc tế
Trang 27* Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn FDI (Foreign Direct Investment)là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây là một nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay XHCN lại không cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế Ngay cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật, dưới tác động của khoa học công nghệ hiện nay cũng không thể tự mình giải quyết được những vấn đề kinh tế, xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra Chỉ có con đường hợp tác, trong đó có FDI là quá trình đầu tư, hợp tác có hiệu quả
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi
là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luận của nước tiếp nhận đầu tư
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh
Trang 28* Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nước, có thể là của các tổ chức quốc tế Đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm viện trợ phát triển chính thức
(ODA)(Official Development Assistance) và viện trợ của các tổ chức phi chính phủ
(NGO) (non-governmental organization)
1.2.2.Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và ngành Tài nguyên và Môi trường nói riêng
1.2.2.1 Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế có vai hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, nó là điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển Ngày nay, nó đã trở thành mục tiêu và là động lực của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển như nước ta
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực và khả năng huy động, sử dụng các yếu tố đó vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quá trình đó liên tục được tiếp diễn và tạo thành chu kỳ tái sản xuất với quy mô ngày càng được mở rộng, đây là cơ sở và cũng chính là kết quả được tích luỹ lại từ hoạt động đầu tư
Như vậy, đầu tư có tác động trực tiếp đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển của một nền kinh tế Kết quả của hoạt động đầu tư là làm gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng các sản phẩm vật chất, dịch vụ cho nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển giao công nghệ, từ đó tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, duy trì được mức tăng trưởng cao và ổn định so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, mức sống người dân được cải thiện rõ rệt, chất lượng cuộc sống được nâng cao, Để có được những thành tựu đó, phải kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của đầu tư Với những chính sách nhằm thu hút và sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tư trong và ngoài nước, Việt Nam đang nâng cao uy tín, vị thế của mình trên trường quốc tế
Trang 29Tuy nhiên, trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực cho hoạt động đầu tư
để tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển nền kinh tế ở nước ta cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đòi hỏi chúng ta phải có những đánh giá, nhận định đúng về quá trình thực hiện, rút ra những vấn đề cần phải khắc phục và đề ra biện pháp tổ chức thực hiện cho phù hợp với tình hình thực tế nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn
1.2.2.2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường
Như đã nói ở những phần trên: ngành Tài nguyên và Môi trường cần phải đặt thành ngành mũi nhọn để ưu tiên phát triển trong tương lai Muốn nó phát triển thì điều kiện tiên quyết là vốn đầu tư Việc huy động động vốn một cách hợp lý, hiệu quả cho phát triển của ngành Tài nguyên và Môi trường sẽ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Đất đai đang là vấn đề nóng bỏng Việc quản lý đất đai tốt hay không tốt có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội Luật Đất đai năm 2003
có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai, phát huy vai trò của đất đai trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong đó, đổi mới hệ thống tài chính về đất đai là một nội dung rất quan trọng để huy động nguồn lực đất đai, lành mạnh hoá và phát triển thị trường bất động sản Vì vậy ngân sách nhà nước phải quan tâm đến lĩnh vực đo đạc lập bản đồ, lập quản lý chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc, đầu tư trang thiết bị hệ thống thông tin, quy họach kế họach sử dụng đất mới cấp giấy CNQSDĐ chính xác
- Khoáng sản có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đối với nhiều địa phương đây là thế mạnh về kinh tế Việc khai thác chế biến khoáng sản kể cả khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại đang đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm tăng kim ngạch xuất khẩu Nhưng để sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả nguồn khoáng sản này chúng ta đang cần thay thế hàng loạt công nghệ khai thác chế biến tiên tiến hơn, cần những chuyên gia giỏi hơn Trong quá khứ, Nhà nước cũng đã liên doanh liên kết đưa một số công nghệ khai thác vào khai
Trang 30thác than, khai thác dầu và một số khoáng sản khác nhưng do điều kiện kinh tế và trình độ phát triển còn hạn hẹp nên những hợp đồng này hiện không còn phù hợp, chúng ta đang dần nhận thấy những bất lợi, tỷ lệ ăn chia không đảm bảo Khoáng sản của ta nhưng ta luôn chịu thế bị động Tất cả vẫn là do thiếu vốn đầu tư
- Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay Chúng ta không nhìn thấy rõ hiệu quả kinh tế của việc Bảo vệ môi trường nhưng để phát triển lâu dài, để bảo vệ môi trường sống Nhà nước cũng cần đầu tư đúng mức cho mảng này
Vì những đặc điểm của nó nên việc huy động vốn cũng có đặc thù riêng và cũng có những khó khăn nhất định Ngoài việc huy động vốn từ phí nước thải cần có nhiều giải pháp huy động vốn tài trợ quốc tế để giải quyết những vấn đề bức xúc trong mỗi địa phương
1.2.3 Các nguồn vốn đầu tư
1.2.3.1 Nguồn vốn trong nước
a) Nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước
Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể:
• Quan hệ tài chính giữa nhà nước và công dân;
• Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp;
• Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội;
• Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế
Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Trang 31• Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh
tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;
• Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;
• Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng;
• Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định;
• Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh
Trang 32kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ
sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ
sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
* Về mặt kinh tế: kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển
kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
* Về mặt xã hội: vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt
* Về mặt thị trường: nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để
góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược như lúa gạo, xăng dầu
Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu
Trang 33của chính phủ Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ
b) Huy động vốn thông qua hệ thống tín dụng
Tín dụng là một hệ thống các quan hệ phân phối theo nguyên tắc có hoàn trả giữa người đang tạm thời thừa vốn sang người tạm thời thiếu vốn và ngược lại Vì vậy
có thể coi tín dụng là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế Bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, cá nhân kể cả ngân sách đang gặp thiếu hụt về vốn trên nguyên tắc có hoàn trả, các tổ chức tín dụng góp phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, đồng thời còn giúp cho các doanh nghiệp
bổ sung vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Tín dụng bao gồm:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc của tín dụng
Tín dụng thương mại là các quan hệ tín dụng giữa những người sản xuất kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá
Tín dụng nhà nước là các quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các chủ thể trong nền kinh tế để đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý kinh tế- xã hội
Tín dụng thuê mua là các quan hệ tín dụng nảy sinh giữa công ty tài chính (công ty cho thuê tài chính) với những người sản xuất kinh doanh dưới hình thức cho thuê TS
Tín dụng tiêu dùng là các quan hệ tín dụng nảy sinh giữa công ty tài chính với người tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu tiêu dung
c) Huy động vốn từ nguồn vốn khác
* Từ thị trường vốn
Cũng giống như thị trường tiền tệ, thị trường vốn rất quan trọng Nó đóng một vai
Trang 34trò đáng kể trong nền kinh tế quốc gia Một thị trường vốn phát triển, năng động và sôi nổi có thể đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phát triển của một quốc gia Việc thiếu một thị trường vốn sôi động và hiện đại có thể dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả các nguồn lực tài chính Các thị trường vốn phát triển cũng cung cấp sự tiếp cận vốn đầu tư nước ngoài cho ngành công nghiệp trong nước Vì vậy, thị trường vốn chắc chắn đóng một vai trò xây dựng trong sự phát triển chung của nền kinh tế
Nói chung thị trường vốn là thị trường dành cho các tài sản tài chính có kỳ hạn dài hoặc không rõ ràng Không giống như các công cụ thị trường tiền tệ, các công cụ thị trường vốn đáo hạn trong khoảng thời gian trên một năm Đó là một sự sắp xếp mang tính thể chế để vay và cho vay tiền trong một khoảng thời gian dài hơn Thị trường vốn bao gồm nhiều công cụ khác nhau có thể được sử dụng cho các giao dịch tài chính Thị trường vốn cung cấp nợ dài hạn và tài trợ làm tăng vốn chủ sở hữu (bằng cách mua cổ phần) cho các đối tượng như chính phủ và khu vực doanh nghiệp Thị trường vốn có thể được phân loại thành các thị trường sơ cấp và thứ cấp Thị trường sơ cấp là một thị trường dành cho cổ phiếu mới, trong khi thị trường thứ cấp là nơi các chứng khoán hiện hành được giao dịch
* Từ các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp luôn có nhu cầu đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị và công nghệ, tăng vốn luân chuyển, hoặc đầu tư thành lập doanh nghiệp mới Nguồn vốn đầu tư phần lớn được lấy từ thu nhập không chia (thu nhập để lại không chi trả cổ tức) và quỹ khấu hao tài sản Nếu nguồn vốn này chưa đủ, doanh nghiệp phải huy động từ nguồn phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc
đi vay Để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, các doanh nghiệp phải huy động thêm nguồn vốn trên các thị trường tài chính và tạo thành một kênh huy động vốn quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển
1.2.3 2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
a) Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn có nguồn gốc từ nước ngoài được đưa
Trang 35vào nước sở tại có thể bằng tiền hay thiết bị dây truyền công nghệ và bên nước ngoài này sẽ tự quản lý nguồn vốn trong thời gian hoạt động của dự án
Dự án đầu tư là tập hợp những ý kiến, đề xuất về việc bỏ vốn đầu tư vào một đối tượng nhất định và giải trình kết quả thu được từ hoạt động đầu tư Việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào các quốc gia khác theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian dài nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích hơn cho các chủ đầu tư và cho xã hội được gọi là đầu tư quốc tế hay đầu tư nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong hai loại hình đầu tư quốc tế cơ bản, hai loại hình này có thể không giống nhau song trong một điều kiện nào đó có thể chuyển hoá cho nhau
Dự án đầu tư nước ngoài là những dự án đầu tư có sự khác nhau về quốc tịch của các nhà đầu tư với nước sở tại tiếp nhận đầu tư và các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền trực tiếp quản lý dự án của mình trong thời gian dự án hoạt động và khai thác
Nói một cách khác thì dự án đầu tư trực tiếp là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức hoặc cá nhân tiếp nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư cùng kinh doanh và phân chia lợi nhuận thu được
b) Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được đầu tư vào các danh mục cổ phiếu đã niêm yết, hoặc các chứng chỉ quỹ đầu tư, hoặc vào cổ phần của các công ty cổ phần chưa niêm yết, nhưng có kế hoạch hoặc hứa hẹn tương lai kinh doanh tốt
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu
tư gián tiếp Trong khi nguồn vốn đầu tư trực tiếp có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì đầu tư gián tiếp lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế
Trang 36Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mang một ý nghĩa rất quan trọng Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn (khoảng 153 tỷ USD) cho giai đoạn (2006-2011) để xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK) Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp Lợi ích của hội nhập không những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, dòng người mà còn có cả dòng vốn Việc tham gia của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…)
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn đầu tư trong các dự án, hoạt động cho sự phát triển kinh tế, xã hội
1.3.1 Những quan điểm của Đảng và nhà nước về huy động các nguồn vốn đầu
tư
Sau 10 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN Kinh tế của ta đã có nhiều bài học xương máu từ những suy thoái của quốc tế và khu vực, từ đó Đảng và Nhà nước cũng có những quan điểm riêng về cách thức huy động vốn đầu tư:
Một là nguồn vốn trong nước mang tính quyết định nhưng cũng không xem nhẹ vai trò của vốn đầu tư nước ngoài
Trang 37Hai là đa dạng hóa hình thức huy động vốn Có thể huy động bằng cách phát hành trái phiếu, vốn vay và đóng góp của công nhân viên, vay vốn giữa các doanh nghiệp, mua chịu hàng hóa
Ba là kết hợp huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đồng nghĩa với việc tiết kiệm nguồn vốn mà lẽ ra phải huy động thêm
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về sử dụng vốn
Hiện nay có rất nhiều cách để đánh giá xem một dự án hay các hoạt động đầu tư có đạt được hiệu quả hay không và một trong những chỉ tiêu đánh giá được tổng quát
và đơn giản hiện nay là chỉ số ICOR (Incremental Capital - Output Ratio)
ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó Trong tiếng Việt, ICOR còn được gọi là hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ
lệ vốn trên sản lượng tăng thêm, v.v
* ICOR được tính bằng công thức sau:
ICOR = (Kt-Kt-1) / (Yt-Yt-1)
Trong đó K là vốn, Y là sản lượng, t là kỳ báo cáo, t-1 là kỳ trước
Cần lưu ý là gia tăng sản lượng có thể nhờ nhiều nhân tố chứ không phải chỉ nhờ gia tăng vốn đầu tư Chính vì thế, việc tính ICOR thường giả định:
Mọi nhân tố khác không thay đổi;
Chỉ có gia tăng vốn dẫn tới gia tăng sản lượng
Tuy công thức tính ICOR đơn giản, song việc đem so sánh kết quả tính có thể gây nhiều tranh cãi bởi một số lý do sau:
Cách xác định vốn và sản lượng giữa những người/tổ chức tính toán có thể không thống nhất
Các giả định nói trên không được thỏa mãn
* Sử dụng ICOR trong kế hoạch hóa kinh tế
ICOR giúp các nhà lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế xác định xem để kinh tế kỳ này
Trang 38cứ tăng 1% so với kỳ trước thì cần tăng vốn đầu tư trong kỳ này lên bao nhiêu phần trăm so với kỳ trước Tuy nhiên vì sự cần thiết phải thỏa mãn các giả thiết khi tính toán ICOR, người ta chỉ sử dụng hệ số này vào kế hoạch hóa kinh tế ngắn hạn (quý, nửa năm hoặc một năm)
Sử dụng ICOR trong so sánh:
* So sánh vai trò của vốn với các nhân tố tăng trưởng khác
ICOR cho biết một đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng sản lượng Qua đó người
ta có thể thấy được vốn đầu tư so với các nhân tố tăng trưởng khác có ý nghĩa thế nào đối với tăng trưởng sản lượng ICOR càng thấp chứng tỏ vốn đầu tư càng quan trọng Trong khi đó, ICOR cao có thể hàm ý vai trò của các nhân tố tăng trưởng khác như công nghệ chẳng hạn đang tăng vai trò của mình đối với tăng trưởng
Như vậy qua Chương I một ta đã tìm hiểu được đầy đủ những thông tin cần thiết về
vai trò của ngành tài nguyên đối với nền kinh tế nói chung Nó có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống của chính con người Nó giúp giải quyết những vấn đề về môi trường tự nhiên và những vấn đề về kinh tế Và qua chương này ta cũng đã tìm hiểu được thế nào là vốn đầu tư, các nguồn vốn có thể huy động được để phát triển ngành tài nguyên nói riêng và các ngành kinh tế nói chung Việc huy động vốn giữ vài trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành tài nguyên do nhu cầu cần thiết một số lượng vốn lớn để phát triển ngành là một vấn đề cấp thiết
và bức xúc của xã hội Các vấn đề đặt ra là thực trạng huy động vốn của ngành tài nguyên môi trường tỉnh Hải Dương và cách giải quyết các vấn đề xung quanh về huy động vốn ra sao sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2006-2010
2.1 Vị trí của tỉnh Hải Dương đối với phát triển chung cả nước
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, KT- XH tỉnh Hải Dương
* Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp tỉnh Hưng Yên
Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh
và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây
ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
2.1.2 Về kinh tế - xã hội
Hải Dương còn là đô thi loại 2 Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai trò là một trung tâm công nghiệp
Theo quy hoạch Xây dựng vùng tỉnh Hải Dương đến năm 2020 tầm nhìn đến năm
2030, Hải Dương sẽ hình thành 3 cụm đô thị động lực mạnh: thành phố Hải Dương
- hành lang quốc lộ 5; Chí Linh - Kinh Môn; cụm Thanh Miện và khu vực phía Nam tỉnh Quy hoạch cũng thể hiện sự phát triển theo các trục hành lang tạo thành mạng lưới, khung phát triển của quy hoạch lãnh thổ tỉnh Định hướng phát triển công nghiệp gồm có khu công nghiệp và các cụm công nghiệp với tổng số 25 khu công nghiệp với tổng diện tích 5.400 ha
Hệ thống đô thị được định hướng gồm Thành phố Hải Dương đạt đô thị loại I trước
Trang 40năm 2020 là hạt nhân; TX Chí Linh là đô thị trung tâm phía bắc; chuỗi thị trấn Kinh Môn, Minh Tân, Phú Thứ phát triển thành Thị xã Kinh Môn vào năm 2015; thị trấn Sặt (Bình Giang) mở rộng và nâng cấp lên đô thị loại IV và thành Thị xã vào năm 2020; các thị trấn Phú Thái (Kim Thành), Ninh Giang và Thanh Miện nâng cấp thành đô thị loại IV khoảng năm 2025 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tỉnh sẽ nâng cấp và quy hoạch mới các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy và các cảng cạn, bến bãi… Bản quy hoạch cũng thể hiện quan điểm lựa chọn các dự án ưu tiên đầu
tư tới năm 2015 - 2020 gồm các công trình xã hội, công trình hạ tầng kỹ thuật… Trong 3 năm (2006 - 2008), trong bối cảnh nền kinh tế thế giới bị suy thoái, đặc biệt
là kinh tế nước Mỹ Giá cả thị trường trong và ngoài nước biến động mạnh, lạm phát gia tăng, thị trường chứng khoán không ổn định đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất
và đời sống của nhân dân, nhất là người lao động có thu nhập thấp Diễn biến thời tiết phức tạp, dịch bệnh liên tiếp xảy ra làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Nước ta bắt đầu tham gia vào WTO; Đây là thị trường rộng lớn, tạo cơ hội cho việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho phát triển, nhất là nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, thị trường tiêu thụ sản phẩm Tuy vậy chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức về mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt theo lộ trình cam kết gia nhập WTO của Chính phủ, nhất là đối với các lĩnh vực: trợ cấp nông nghiệp, lĩnh vực dịch vụ (tài chính, ngân hàng, mạng lưới phân phối bán lẻ) Hệ thống luật pháp, nhất là các luật pháp về kinh doanh của ta có nhiều điểm chưa tương thích với WTO Năng lực hoạch định chính sách về hội nhập quốc tế của các
cơ quan chuyên môn còn hạn chế Những thời cơ và thách thức luôn đan xen, tác động đến phát triển kinh tế xã hội của nước ta nói chung và Hải Dương nói riêng Trong bối cảnh trên, các yếu tố khó khăn, bất thuận tác động lớn đến phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh; song với quyết tâm cao trong lãnh đạo của Đảng; Chính quyền các cấp và sự cố gắng của nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế của Hải Dương 3 năm qua phát triển khá Lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục phát triển và có bước tiến
bộ trên nhiều mặt Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cũng như năng lực sản xuất được tăng cường, an ninh chính trị, quân sự địa phương tăng cường củng cố Kết quả một