Trong vài thập kỷ gần đây, Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu ngày càng gia tăng về diễn biến, cường độ và mức độ ảnh hưởng. Biểu hiện mạnh mẽ nhất của BĐKH là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng (NBD). Đây được xem là một trong những thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Trước thực tế trên, gần đây Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH và Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 – 2015. Đồng thời, Chính phủ cũng đã giao cho các Bộ ngành nghiên cứu triển khai các hoạt động ứng phó chi tiết cho mỗi địa phương, vùng miền hoặc mỗi lĩnh vực cụ thể. Cho tới nay, khá nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH và NBD đã được triển khai ở Việt Nam. Về cơ bản, các đề tài, dự án đã đề xuất được giải pháp ứng phó cho một số vùng miền nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, các công bố có liên quan cũng chỉ mới đưa ra được bức tranh tổng thể về tác động của BĐKH và NBD, và tập trung vào tổn thương hình thái mà chưa nghiên cứu sâu cho các đối tượng chịu tác động: cộng đồng dân cư (CĐDC), hệ sinh thái, hệ thống hạ tầng kỹ thuật… Cũng vì lý do đó, dường như các giải pháp ứng phó với BĐKH, NBD ở nước ta hiện nay khá chung chung, chưa xem xét chi tiết các nhân tố tác động, quy mô tác động và khả năng tự thích ứng của các đối tượng. Điều đó đã làm xuất hiện sự nghi ngại về tính phù hợp và hiệu quả của các chiến lượcgiải pháp ứng phó. Theo đánh giá của chuyên gia ở trong và ngoài nước, Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH nói chung và NBD nói riêng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân cư vùng ven biển. Vùng ven biển Bắc Bộ là khu vực giàu tài nguyên, hệ sinh thái đa dạng, có tiềm năng phát triển kinh tế đứng thứ 2 sau khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Khu vực này cũng có mật độ dân số cao nhất so với các vùng miền khác của nước ta. Mặc dù vậy, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và trong nước, cùng với đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển Bắc Bộ sẽ chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH và NBD
Trang 1Đề tài này được triển khai nghiên cứu và hoàn thành tại Khoa Kinh tế và Quản
lý, Trường Đại học Thủy lợi Tác giả cam đoan, công trình nghiên cứu này là của
riêng mình Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và không lặp lại bất
kỳ công bố nào trước đây
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Vũ Thị Mai Hiên
Trang 2Trước hết, tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS Trần Văn Đạt –
Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý Thủy Lợi – Viện Khoa học Thủy lợi Việt
Nam đã tận tình hướng dẫn, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Lòng biết ơn, cảm kích xin được gửi đến các thầy, PGS TS Nguyễn Bá Uân
và PGS TSKH Nguyễn Trung Dũng, đã động viên, giúp đỡ và chỉ bảo hết sức
chu đáo để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý Thầy Cô
trong Khoa Kinh Tế và Quản lý và quý Thầy Cô của Trường Đại học Thủy Lợi đã
tạo cơ hội và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu giúp học viên hoành thành
nhiệm vụ học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo
Xin cảm ơn lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên của Viện Kinh tế và
Quản lý Thủy lợi đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tích cực trong quá
trình tác giả học tập, thu thập số liệu và triển khai nghiên cứu Tác giả cũng ghi
nhận sự hợp tác, hỗ trợ có hiệu quả của các cá nhân, cơ quan có liên quan của các
địa phương: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình trong thời gian tác giả
triển khai nghiên cứu tại hiện trường
Luận văn được hoàn thành có sự chia sẻ thân thương, thầm lặng và đóng góp
không nhỏ của các thành viên trong gia đình về mọi mặt để tác giả có điều kiện và
động lực để tập trung vào nghiên cứu
Cuối cùng, xin cảm ơn các cá nhân, đồng nghiệp đã hỗ trợ tác giả trong suốt
quá trình học tập và chu đáo đến tận ngày báo cáo
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Vũ Thị Mai Hiên
Trang 3Bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Diện tích tự nhiên của các tỉnh, thành phố ven biển Bắc Bộ 19
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tỉnh ven biển Bắc Bộ 25
Bảng 2.3 Dân số trung bình các tỉnh/thành qua các năm 29
Bảng 2.4 Cơ cấu dân số phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 30
Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế (giá thực tế) 32
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế (triệu đồng) 33
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá thực tế (triệu đồng) 33
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất thủy sản theo giá thực tế phân theo các tỉnh (triệu đồng) 34
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế (triệu đồng) 35
Bảng 2.10 Sản lượng muối trung bình của các tỉnh/thành 36
Bảng 2.11 Công trình thủy lợi ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ 38
Bảng 2.12 Đánh giá mức độ xâm nhập mặn tại một số cửa sông theo kịch bản B2 49
Bảng 2.13 So sánh mức tăng xâm nhập mặn giữa kịch bản B2 và hiện
Bảng 3.1 Công trình thủy lợi đầu mối của các huyện giáp biển có nguy cơ bị ngập 56
Bảng 3.2 Công trình thủy lợi đầu mối của các huyện không giáp biển có nguy cơ bị ngập 57
Bảng 3.3 Số dân tại các huyện giáp biển có nguy cơ phải sử dụng nước nhiễm mặn để sinh hoạt 59
Bảng 3.4 Số dân tại các huyện không giáp biển có nguy cơ phải sử dụng nước nhiễm mặn để sinh hoạt 60
Bảng 3.5 Tỷ lệ diện tích rừng ngập mặn sẽ được trồng và quản lý bởi
Bảng 3.6 Mức độ hoàn thành việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi 63
Bảng 3.7 Mức độ hoàn thành nâng cấp phương tiện đánh bắt xa bờ 63
Bảng 3.8 Mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục, đào tạo 64
Bảng 3.9 Chỉ số tổng hợp về khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư các tỉnh với nước biển dâng và biến đổi khí hậu 65
Bảng 3.10 Chỉ số nhạy cảm tổng hợp của các huyện giáp biển 67
Bảng 3.11 Chỉ số nhạy cảm tổng hợp của các huyện không giáp biển 68
Trang 4Bảng 3.12 các huyện 69
Bảng 3.13 Các giải pháp ứng phó với của cư dân ven biển cộng đồng dân cư theo đề xuất 71
Bảng 3.14 Kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp 74 Bảng 3.15 Kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy
Bảng 3.16 Kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và ngành nghề khác 74
Bảng 3.17 Đề xuất một số giải pháp ứng phó với nước biển dâng nhằm bảo vệ cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ 75
Trang 5Hình Tên hình Trang
Hình 1.1 Thay đổi nhiệt độ toàn cầu 19860-1999 3
Hình 1.2 Khung tiếp cận nghiên cứu giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu 7
Hình 1.3 Khung tiếp cận nghiên cứu giải pháp ứng phó với NBD 8
Hình 1.4 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đối với cộng đồng dân cư 12
Hình 2.1 Bản đồ nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng năm 2030,
Hình 2.2 Bản đồ nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng năm 2050, kịch bản B2 46
Hình 2.3 Bản đồ nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng năm 2100, kịch bản B2 47
Hình 2.4 Biểu đồ tỷ lệ % diện tích có nguy cơ ngập do NBD vùng ven biển Bắc Bộ 48
Hình 2.5 Đường đẳng trị mặn 1‰ theo kịch bản B2 cho các mốc thời gian 50
Hình 2.6 Đường đẳng trị mặn 4‰ theo kịch bản B2 cho các mốc
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ % diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ bị ngập 53
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ % số dân có nguy cơ bị mất 54 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ % số nhà dân có nguy cơ bị mất 55 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ % đường giao thông nông thôn bị ảnh hưởng 55
Trang 6
BĐKH Biến đổi khí hậu
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CĐDC Cộng đồng dân cư
CVI Chỉ số tổn thương tổng hợp
GDP Giá trị thị trường
GIS Hệ thống thông tin địa lý
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
IMHEN Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
SARAR Phương pháp tổ chức điều tra đánh giá nhanh
TDBTT Tính dễ bị tổn thương
USAID Tổ chức phát triển hỗ trợ kinh tế Hoa Kỳ
UNEP Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc
Trang 7TT Tiêu đề Trang
MỞ ĐẦU
1.1.1 Biến đổi khí hậu và nước biển dâng 1
1.1.3 Tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu 1
1.1.4 Các khái niệm liên quan 2
1.2.1 Ghi nhận về biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2
1.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở Việt
1.4.2 Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư và đề xuất giải pháp ứng phó 11
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng ven biển Bắc Bộ 19
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng ven biển Bắc Bộ 29
2.1.3 Hệ thống hạ tầng thiết yếu vùng ven biển Bắc Bộ 37
2.1.4 Định hướng phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển Bắc Bộ 40
2.2 Tác động của nước biển dâng đến sản xuất và cuộc
sống của cộng đồng dân cư 44
2.2.1 Nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng và tác động của nó đến tài nguyên đất 44
2.2.2 Nguy cơ xâm nhập mặn do nước biển dâng và tác động của nó đến nguồn nước 48
Trang 8Chương 3
XÁC ĐỊNH TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN BẮC BỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
52
3.1 Mức hứng chịu với nước biển dâng của cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ 52
3.1.1 Mức độ hứng chịu do ngập lụt 52
3.2 Tính toán các chỉ số về khả năng thích ứng của cộng
đồng dân cư với nước biển dâng 60
3.2.1 Các giải pháp ứng phó với nước biển dâng 60
3.2.2 Khả năng ứng phó của cộng đồng với nước biển dâng 62
3.3 Tính toán chỉ số về độ nhạy cảm của cộng dồng dân cư với nước biển dâng 65
3.3.1 Khả năng tiếp cận với nguồn lương thực khi nước biển dâng 65
3.3.2 Khả năng tiếp cận nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt 66
3.3.3 Khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng 66
3.3.4 Chỉ số nhạy cảm tổng hợp của các địa phương trong
3.4 Phân tích tính toán chỉ số tổn thương tổng hợp của
cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ 69 3.5 Đề xuất một số giải pháp ứng phó với nước biển dâng để bảo vệ cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ 70
3.5.1 Các giải pháp ứng phó với nước biển dâng ở vùng ven
3.5.2 Đánh giá năng lực tham gia các giải pháp ứng phó của
cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ 73 3.5.3 Đề xuất một số giải pháp ứng phó với nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho vùng ven biển Bắc Bộ 75
Trang 91 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong vài thập kỷ gần đây, Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu ngày càng gia
tăng về diễn biến, cường độ và mức độ ảnh hưởng Biểu hiện mạnh mẽ nhất của
BĐKH là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng (NBD) Đây được xem là
một trong những thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21
Trước thực tế trên, gần đây Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về
BĐKH và Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 –
2015 Đồng thời, Chính phủ cũng đã giao cho các Bộ ngành nghiên cứu triển khai
các hoạt động ứng phó chi tiết cho mỗi địa phương, vùng miền hoặc mỗi lĩnh vực
cụ thể Cho tới nay, khá nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH và NBD đã được
triển khai ở Việt Nam Về cơ bản, các đề tài, dự án đã đề xuất được giải pháp ứng
phó cho một số vùng miền nhạy cảm, dễ bị tổn thương Tuy nhiên, các công bố có
liên quan cũng chỉ mới đưa ra được bức tranh tổng thể về tác động của BĐKH và
NBD, và tập trung vào tổn thương hình thái mà chưa nghiên cứu sâu cho các đối
tượng chịu tác động: cộng đồng dân cư (CĐDC), hệ sinh thái, hệ thống hạ tầng kỹ
thuật… Cũng vì lý do đó, dường như các giải pháp ứng phó với BĐKH, NBD ở
nước ta hiện nay khá chung chung, chưa xem xét chi tiết các nhân tố tác động, quy
mô tác động và khả năng tự thích ứng của các đối tượng Điều đó đã làm xuất hiện
sự nghi ngại về tính phù hợp và hiệu quả của các chiến lược/giải pháp ứng phó
Theo đánh giá của chuyên gia ở trong và ngoài nước, Việt Nam là quốc gia
có đường bờ biển kéo dài, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất của BĐKH nói chung và NBD nói riêng Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của dân cư vùng ven biển Vùng ven biển Bắc Bộ là khu vực giàu tài nguyên,
hệ sinh thái đa dạng, có tiềm năng phát triển kinh tế đứng thứ 2 sau khu vực đồng
bằng sông Cửu Long Khu vực này cũng có mật độ dân số cao nhất so với các vùng
miền khác của nước ta Mặc dù vậy, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và trong
nước, cùng với đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển Bắc Bộ sẽ chịu tác động
mạnh mẽ nhất của BĐKH và NBD
Trang 10thống rất tốt chống chọi với thiên tai, CĐDC ven biển Bắc Bộ sẽ bị tổn thương như
thế nào dưới tác động của BĐKH, đặc biệt là sự dâng cao của nước biển? Để xem
xét vấn đề trên đây, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chọn đề tài: “Xác định
tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư ven biển Bắc Bộ dưới tác động của
nước biển dâng do biến đổi khí hậu” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích xác định tính dễ bị tổn thương (TDBTT)
của CĐDC ở các địa phương vùng ven biển Bắc Bộ, từ đó đề xuất một số giải pháp
ứng phó với NBD để bảo vệ CĐDC ven biển Bắc Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu tính tổn thương của CĐDC vùng ven biển Bắc Bộ
dưới tác động của NBD do tác động của BĐKH
Tác động của BĐKH có quy mô rộng lớn, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng,
liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn
này, tác giả chỉ tập trung xem xét các vấn đề có liên quan trong ngành nông nghiệp
và phát triển nông thôn ở vùng ven biển Bắc Bộ, gồm Hải Phòng, Thái Bình, Nam
Định, Ninh Bình
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
+ Về mặt khoa học: Xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất được phương pháp
xác định TDBTT của CĐDC dưới tác động của NBD do BĐKH;
+ Về mặt thực tiễn: Xác định được TDBTT của CĐDC ven biển Bắc Bộ, làm
cơ sở đề xuất một số giải pháp ứng phó với NBD hiệu quả và phù hợp với điều kiện
thực tế ở các địa phương
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận: Các cách tiếp cận được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
i) Tiếp cận hệ thống;
ii) Tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Phương pháp kế thừa; phương pháp điều tra theo phiếu câu hỏi; phương pháp điều
tra đánh giá nhanh SARAR; GIS (kỹ thuật chồng ghép bản đồ); phương pháp phân
tích thống kê; phương pháp mô phỏng
6 Kết quả dự kiến đạt được
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở trên, bằng việc sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học, dự kiến luận văn sẽ có những đóng góp nhất
7 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương với các
nội dung chính như sau:
Chương 1: Nghiên cứu tổng quan
Chương 2: Khái quát về khu vực nghiên cứu và sự tác động của nước biển
dâng do biến đổi khí hậu đến cộng đồng dân cư Chương 3: Xác định tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư ven biển
Bắc Bộ dưới tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu và một số giải pháp ứng phó
Trang 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản
Mặc dù BĐKH và NBD không phải là vấn đề mới nhưng, trong thực tế, sự
hiểu biết và truyền tải thông tin về vấn đề này không hoàn toàn đồng nhất, kể cả
trên phương diện truyền thông lẫn quản lý chuyên ngành Để tiện theo dõi, phần
dưới đây giới thiệu một số khái niệm được sử dụng thống nhất trong luận văn, gồm:
1.1.1 Biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình
và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài
thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các
tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của
khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ TN&MT, 2008)
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó
không bao gồm triều, nước dâng do bão NBD tại một vị trí nào đó có thể cao hơn
hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại
dương và các yếu tố khác (Bộ TN&MT, 2008)
1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu
Đối với hệ thống tự nhiên và con người, tùy thuộc vào mức độ xem xét thích
ứng như thế nào, người ta có thể phân biệt giữa tác động tiềm năng và tác động lâu
dài (IPCC, 2007; UNEP, 2007):
+ Tác động tiềm năng: tất cả các tác động có thể xảy ra đối với một kịch bản
BĐKH mà chưa xem xét đến các giải pháp thích ứng;
+ Tác động lâu dài: tác động của BĐKH tiếp tục xảy ra sau khi có giải pháp
thích ứng
1.1.3 Tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu
Tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH: là mức độ mà một hệ
thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả
năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH (IPCC, 2007)
Theo IPCC (2007), TDBTT là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ
Trang 13(phạm vi) của các biển đổi và dao động khí hậu mà hệ thống đó phải hứng chịu, độ
nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đó IPCC đề nghị xác định chỉ số tổn
thương do BĐKH (CVI) bằng công thức:
CVI = F(mức độ hứng chịu, độ nhạy cảm, khả năng thích ứng)
1.1.4 Các khái niệm liên quan
Kịch bản BĐKH là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển
trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà
kính, BĐKH và mực NBD (Bộ TN&MT, 2008)
Mối nguy cơ là đặc tính hoặc trạng thái của hiện tượng tự nhiên mà trong các
điều kiện cụ thể có thể gây hại đến các đối tượng khác
Mức hứng chịu là bản chất và mức độ các tác động của hiện tượng BĐKH
cực đoan mà hệ thống (tự nhiên, kinh tế-xã hội-môi trường và hạ tầng cơ sở) phải
hứng chịu (IPCC, 2007)
Khả năng thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng
bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ
hội do nó mang lại (IPCC, 2007)
Độ nhạy cảm là mức độ hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) có
lợi cũng như bất lợi bởi các tác nhân liên quan đến khí hậu (IPCC, 2007)
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm
nhẹ BĐKH (Bộ TN&MT, 2008)
1.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu
1.2.1 Ghi nhận về biến đổi khí hậu và nước biển dâng
BĐKH là hiện tượng tự nhiên mang tính toàn cầu Cũng vì thế mà vấn đề này
đã thu hút sự quan tâm của hầu hết các quốc qia, các tổ chức nghiên cứu trên thế
giới
Theo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên bang chính phủ về BĐKH (IPCC,
2007) đã nhận định rằng sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay chưa
từng có Điều đó đã được minh chứng qua số liệu quan trắc về sự tăng lên của nhiệt
Trang 14độ không khí và đại dương trung bình, sự tan chảy băng và tuyết trên phạm vi rộng
lớn, sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu
Trong giai đoạn 1906 đến 2005, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng
0,74ºC, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm
trước Hai năm được công nhận có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước
đến nay là 1998, 2005 11 trong số 12 năm gần đây (1995-2006) cho thấy khí hậu
toàn cầu tăng và khoảng thời gian này cũng nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc
Nhiệt độ trên lục địa tăng rõ rệt và nhanh hơn hẳn so với nhiệt độ trên đại dương với
thời kỳ tăng nhanh nhất là mùa đông (tháng XII, I, II) và mùa xuân (tháng III, IV,
V) Nhiệt độ cực trị cũng có chiều hướng biến đổi tương tự như nhiệt độ trung bình
Hình 1.1: Thay đổi nhiệt độ toàn cầu 1860 – 1999
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2009)
Về lượng mưa, số liệu quan trắc cho thấy lượng mưa có chiều hướng tăng lên
trong thời kỳ 1900 - 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30ºN Tuy nhiên, mưa lại có xu hướng
giảm đáng kể từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới Lượng mưa ở khu vực từ 10ºN đến
30ºN tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời kỳ sau đó
Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng biến đổi theo mùa và theo không gian rõ rệt
hơn hẳn so với nhiệt độ Hiện tượng mưa lớn, bất thường có dấu hiệu tăng lên trong
thời gian gần đây
Số liệu quan trắc về mực nước biển chỉ ra mức gia tăng trung bình toàn cầu
với tốc độ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961-2003 và với tốc độ
3,1mm/năm trong thời kỳ từ năm 1993-2003 Trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, tổng
Trang 15cộng mực nước biển đã dâng 0,31m (± 0,07m)
Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ
năm 1970 Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là lượng mưa giảm và nhiệt độ
tăng dẫn đến bốc hơi tăng Khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán là phía Tây Hoa
Kỳ, Úc, Châu Âu
Theo dõi của các cơ quan quan trắc khí tượng quốc tế cũng cho thấy, hoạt
động của xoáy thuận nhiệt đới, đặc biệt là các cơn bão mạnh gia tăng từ những năm
1970 và ngày càng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các cơn bão có quỹ đạo bất
thường Điều này có thể thấy trên cả Ấn Độ Dương, Bắc và Tây Bắc Thái Bình
Dương Tuy nhiên, số cơn bão ở Đại Tây Dương không biến động nhiều trong
khoảng 10 năm gần đây
Các yếu tố biến động về khí hậu cũng làm xuất hiện sự biến đổi trong chế độ
hoàn lưu quy mô lớn trên cả lục địa và đại dương Biểu hiện rõ rệt nhất là sự gia
tăng về số lượng và cường độ của hiện tượng ElNino và biến động mạnh mẽ của hệ
thống gió mùa
Tương tự như diễn biến chung trên toàn thế giới, số liệu quan trắc các thông
số khí tượng ở Việt Nam trong 100 năm qua cũng cho thấy xu thế biến đổi khá tiêu
cực Cụ thể:
Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1ºC mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình
một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1 - 0,3ºC mỗi thập kỷ Về mùa đông, nhiệt độ
giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa
Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khu vực và các
thời kỳ Riêng trong 2 thập kỷ gần đây, lượng mưa năm ở Hà Nội và Thành phố
(TP) Hồ Chí Minh có xu hướng giảm đi, trong khi ở Đà Nẵng có xu hướng tăng lên
Tuy vậy có thể thấy trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa giảm đi vào tháng VII, tháng
VIII và tăng lên vào tháng IX, X, XI Số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa,
từ trung bình 30 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1961 – 1970 xuống còn 15 ngày mỗi
năm trong thập kỷ 1991 - 2000
Về quy luật vận động của khí quyển cũng thay đổi đáng kể, quỹ đạo bão di
Trang 16chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão lùi dần vào cuối năm, sự biến đổi
của gió mùa mùa đông không thể hiện rõ thành xu thế
Lũ đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên hơn ở miền Trung và miền Nam
Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước
Mực NBD lên cao trung bình là 2,5 đến 3,0 cm mỗi thập kỷ
Số liệu quan trắc trên bình diện toàn cầu và ở Việt Nam đều cho thấy, diễn
biến khí hậu trong những thập kỷ qua hết sức cực đoan và khó lường Quá trình này
được dự báo sẽ tiếp tục thay đổi phức tạp Vậy, trong tương lai, khí hậu toàn cầu nói
chung và Việt Nam nói riêng sẽ biến đổi ra sao? Kéo theo đó, mức độ nghiêm trọng
của nước biển sẽ xảy ra như thế nào với vùng lục địa của nước ta? Vấn đề này sẽ
được thảo luận trong phần dưới đây
1.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở Việt Nam
Theo Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), kịch bản BĐKH rất quan
trọng, sẽ được sử dụng làm thông số đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động
Hiện nay đã có nhiều quốc gia, nhiều khu vực xây dựng kịch bản BĐKH với quy
mô khu vực, quốc gia và các vùng khí hậu hoặc phạm vi nhỏ hơn Ở nước ta, một số
kịch bản BĐKH đã được xây dựng trên cơ sở thu phóng mô hình dự báo của IPCC
có xem xét đến các điều kiện thực tế của Việt Nam Kịch bản BĐKH và NBD lần
thứ nhất được Bộ TN&MT công bố vào năm 2009 Sau đó, các cơ quan nghiên cứu
đã cập nhật, bổ sung và được công bố lại vào năm 2012 Về cơ bản, các thông số
khí hậu, khí tượng chính ở các vùng miền của nước ta được dự báo như sau:
Về nhiệt độ: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ
trung bình tăng từ 2 đến 30C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà
Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác
Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 30C, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng
từ 2,0 đến 3,20C Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 350C tăng từ 15 đến 30 ngày
trên phần lớn diện tích cả nước
Về lượng mưa: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, lượng
mưa năm tăng hầu hết khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2 đến 7%, riêng Tây
Trang 17Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô
giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời
kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên,
Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị
thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
Về mực NBD: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, mực
NBD cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm,
thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 49 đến 64cm, trung bình toàn Việt
Nam, NBD trong khoảng từ 57 đến 73cm Chi tiết về kịch bản NBD ở Việt Nam
được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Mực NBD (cm) so với thời kỳ 1980-1999
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100Thấp (B1) 8-9 11-13 15-17 19-23 24-30 29-37 34-44 38-51 42-58
Trung bình 7-8 11-13 15-18 20-24 25-32 31-39 37-48 43-56 49-65
Cao (A1FI) 8-9 12-14 16-19 23-27 30-36 38-47 47-59 56-72 66-86
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2012)
Về nguyên tắc, kịch bản BĐKH và NBD được xây dựng dựa theo các kịch
bản khác về phát triển kinh tế, phát thải khí nhà kính và cơ chế vận động của khí
quyển ngoài trái đất Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện vẫn còn
nhiều điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản phát triển kinh tế trên
cả bình diện thế giới và trong nước Vì vậy, theo khuyến cáo của Bộ TN&MT, các
địa phương và các ngành sử dụng kịch bản ứng với mức phát thải trung bình (B2)
để xây dựng các chương trình ứng phó thay vì xem xét cho cả ba kịch bản phát thải
thấp, cao và trung bình (B1, A1FI và B2)
1.3 Nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương gây ra bởi nước biển dâng do biến đổi
khí hậu và giải pháp ứng phó
Với những quan ngại sâu sắc về tác động tiêu cực của BĐKH và NBD đến
đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của con người, tính đa dạng sinh học và sự
Trang 18tồn tại của các hệ sinh thái, kịch bản BĐKH và NBD đã được nghiên cứu và công
bố trên phạm vi toàn cầu và chi tiết cho từng vùng miền cụ thể như ở Việt Nam
Tuy nhiên, để xây dựng chiến lược, kế hoạch hay các hành động cụ thể để thích
nghi và ứng phó phù hợp với BĐKH và NBD thì việc diễn toán sự rủi ro, tác động
và mức độ tổn thương của các đối tượng khác nhau như thế nào, dựa trên các kịch
bản đã được công bố, cũng đang thu hút sự quan tâm của các tổ chức nghiên cứu,
các học giả trong và ngoài nước
Theo IPCC (2007) thì có 3 cách tiếp cận nghiên cứu TDBTT do BĐKH,
gồm: Tiếp cận tác động (impact approach), tiếp cận tương tác (interaction approach)
và tiếp cận tổng hợp (integrated approach) Mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh
và điểm hạn chế riêng Việc lựa chọn cách tiếp cận nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như yêu cầu đánh giá, phạm vi, khung thời gian và nguồn lực cho phép
Hình 1.2: Khung tiếp cận nghiên cứu giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
(Nguồn: USAID, 2007)
Xuất phát từ yêu cầu của các nước, năm 1998, Chương trình Môi trường
của Liên hiệp quốc (UNEP) đã xuất bản tài liệu hướng dẫn các quy tắc về đánh giá
tác động tiềm tàng của BĐKH đối với môi trường và nền kinh tế Theo UNEP,
phương pháp đánh giá tác động của BĐKH có thể được sử dụng để đánh giá tác
động của NBD (do BĐKH) Trên cơ sở các câu hỏi cơ bản: “BĐKH có ý nghĩa gì"
và "điều gì có thể được thực hiện"
ĐÁNH GIÁ
Bước 1: Xác định
mức tổn thương
Bước 2: Xác định giải pháp thích ứng Bước 3: Phân tích Bước 4: Lựa chọn tiến trình hành động
Bước 5: Thực hiện ứng phó
Bước 6: Đánh giá các giải pháp
Trang 19Theo USAID (2007), tiếp cận nghiên cứu về tác động và giải pháp ứng phó
với BĐKH và NBD được đề nghị theo 6 bước Cụ thể như hình 1.2
Có quan điểm tương tự UNEP, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, các
phương pháp nghiên cứu được sử dụng khi triển khai nghiên cứu tác động của NBD
phụ thuộc vào khả năng tài chính, thời gian và thông tin yêu cầu Từ một nghiên
cứu đánh giá tác động của NBD đối với Việt Nam, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ
văn và Môi trường (IMHEN, 2010) đề xuất khung tiếp cận nghiên cứu như hình 1.3
Hình 1.3: Khung tiếp cận nghiên cứu giải pháp ứng phó với NBD (IMHEN, 2010)
Trong đó:
- Xác định các đặc trưng của NBD đối vùng nghiên cứu: Ở đây, thay vì xem
xét mức độ dâng cao của nước biển theo mốc thời gian, IMHEN diễn toán NBD
tương ứng với mức ngập là 50, 75, 100cm so với mực nước biển trung bình giai
- Mực nước biển trung bình toàn cầu
- Tác động của NBD đến chế độ thuỷ triều
- Tác động tới hệ sinh thái
- Tác động tới kinh tế, xã hội
- Chi phí lợi ích
- Rủi ro
Biện pháp thích ứng
Trang 20đoạn 1980-1999 Bên cạnh đó, các biến động kéo theo của thuỷ triều cũng được
xem xét Bản đồ ngập lụt được xây dựng trên cơ sở bản đồ địa hình số DEM
(1:25.000);
- Tác động đến môi trường tự nhiên: IMHEN đưa ra diện tích có khả năng bị
tác động hoặc ngập cho các tỉnh ven biển Việt Nam và bản đồ đẳng mặn 1‰ đến
4‰ cho khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long;
- Tác động đến kinh tế xã hội: IMHEN công bố kết quả nghiên cứu sơ bộ khả
năng thiệt hại do NBD đến một số ngành kinh tế trọng điểm (chi tiết hơn đối với
khu vực Thừa Thiên Huế)
- Các giải pháp thích ứng: Chủ yếu là các giải pháp cho khu vực tỉnh Thừa
Thiên Huế
Cutter (1996) đã đề xuất đánh giá TDBTT của hệ thống tự nhiên – xã hội
thông qua đánh giá về chất lượng cuộc sống và các nghiên cứu về sự sống trong
khoa học xã hội và khoa học hành vi Những nghiên cứu ban đầu của Cutter đi sâu
vào tìm hiểu các đặc điểm thuận lợi hay không thuận lợi của khu vực cho con người
định cư Trong đó, nhận định TDBTT của hệ thống tự nhiên – xã hội có thể thay đổi
theo thời gian do sự biến động của các yếu tố gây thiên tai, sự thay đổi năng lực của
cộng đồng đối phó với thiên tai
Cụ thể hơn, Sopac (2004) đề xuất bộ chỉ số (gồm 50 chỉ số) về tổn thương
môi trường và ứng dụng trong nghiên cứu của mình Chỉ số tổn thương môi trường
là cơ sở để đánh giá phúc lợi xã hội và được thiết kế để đánh giá cả TDBTT kinh tế
và xã hội, cung cấp cái nhìn sâu rộng vào các quá trình tiêu cực có thể ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của quốc gia Nghiên cứu của Sopac được xem là có ý
nghĩa lớn cho các nước đang phát triển thuộc nam Thái Bình Dương, đồng thời là
dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại khu vực, trong đó có Việt
Nam
Một số nghiên cứu về TDBTT vùng ven bờ do dâng cao mực nước biển lại đề
nghị phương pháp tính khác, dựa trên cơ sở phương pháp tính chỉ số tổn thương ven
biển (Thieler, E Robert và cộng sự, 2001) Kết quả của các nghiên cứu này là thiết
Trang 21lập được bản đồ tổn thương cho các khu vực ven bờ của Mỹ Các sản phẩm của
nghiên cứu nói trên được xem là có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng các biện
pháp, chiến lược thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ TDBTT do tác động của BĐKH
(điển hình là dâng cao mực nước biển)
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu TDBTT chỉ mới được bắt đầu từ
những năm cuối của thế kỷ 20 và cũng được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau
của hệ thống tự nhiên – xã hội, CĐDC và các tài nguyên ven biển trên quy mô
nghiên cứu từ vùng/khu vực đến toàn bộ vùng ven biển nước ta
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi
trường (IMHEN, 2010), nếu NBD 1m sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông
Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên
2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích TP Hồ
Chí Minh có nguy cơ bị ngập, gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long Trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân
số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số TP Hồ Chí Minh bị ảnh
hưởng trực tiếp, trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng
12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng
Trong một nghiên cứu gần đây (2009-2010), Mai Trọng Nhuận và cộng sự
cũng đã tiến hành giá TDBTT của tài nguyên – môi trường biển và vùng ven biển
Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã xây dựng bộ dữ liệu (số liệu, tài liệu thu thập,
điều tra, khảo sát) các yếu tố gây tổn thương, các đối tượng bị tổn thương, khả năng
ứng phó của hệ thống tự nhiên – xã hội và bộ bản đồ hiện trạng TDBTT tài nguyên
– môi trường biển và vùng ven biển các vùng biển Nam Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh
Thái Lan, Quần đảo Trường Sa và toàn dải ven biển Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 và
16 khu vực trọng điểm tỷ lệ 1:100.000
Từ phân tích trên đây có thể thấy, hiện đã có rất nhiều các công trình, đề tài,
dự án được triển khai để xác định TDBTT và từ đó xây dựng các giải pháp ứng phó
với BĐKH Tuy nhiên, về cơ bản, các nghiên cứu hoặc chưa cụ thể; hoặc quá thiên
về giải pháp ứng phó thay vì diễn toán chi tiết tác động và tổn thương của các đối
Trang 22tượng có liên quan; hoặc tập trung vào đánh giá tổn thương của hệ thống tự nhiên,
hệ thống hạ tầng kỹ thuật và môi trường Vậy, đánh giá TDBTT của cộng đồng
dưới tác động của NBD (kể cả dưới tác động của BĐKH) theo phương pháp và quy
trình nào? Luận văn nghiên cứu này đề xuất phương pháp đánh giá TDBTT của
CĐDC ven biển như sau
1.4 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư ven
biển dưới tác động của nước biển dâng
1.4.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận
Theo Cutter (1996), Trần Văn Đạt và cộng sự (2012), dưới tác động của
BĐKH và NBD, tổn thương của CĐDC và các đối tượng khác, ngoài phụ thuộc vào
quy mô, cường độ tác động, còn phụ thuộc vào khả năng và nguyện vọng ứng phó
của cộng đồng và bản thân các đối tượng chịu tác động Với nguyên tắc đó, phương
pháp tiếp cận nghiên cứu của đề tài sẽ bao gồm:
- Tiếp cận hệ thống: là quan điểm mới được hình thành khi nhìn nhận con người
(nói rộng ra là hệ động, thực vật) và môi trường sống là một thể thống nhất Môi
trường sống có thể làm thay đổi thói quen, tập tục hay hoạt động thường ngày của
các hệ sinh vật Ngược lại, hoạt động của hệ sinh vật với môi trường xung quanh có
thể làm thay đổi tính chất của nó Như vậy, TDBTT là hàm số của mức độ hứng
chịu, độ nhạy cảm, khả năng thích ứng
- Tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên:
Tiếp cận từ trên xuống được áp dụng để xác định các rủi ro do NBD để từ đó
xem xét và đề xuất các giải pháp tiềm năng thích ứng Tuy nhiên, vì các kịch bản
BĐKH hay NBD chỉ là các giả thiết nên không thể kiểm chứng khả năng thích ứng
của người dân ngay được Vì vậy, phương pháp tiếp cận từ dưới lên sẽ đồng thời
được sử dụng để đánh giá mức độ nhạy bén và năng lực tìm kiếm sinh kế của người
dân nếu các kịch bản đang xem xét xảy ra trong tương lai
1.4.2 Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư và đề xuất
giải pháp ứng phó
Trang 23Với các khái niệm và phương pháp tiếp cận như trình bày ở trên, đề tài đề
xuất quy trình đánh giá TDBTT như được mô tả theo hình 1.4
Công nghệ GIS, Kế thừa
(kết quả điều tra, thu thập
số liệu, phân tích thống kê, kết quả ứng dụng mô hình
thủy động lực)
Công nghệ GIS, điều tra, đánh giá nhanh, phân
tích thống kê
Điều tra, phân tích thống
kê, phân tích kinh tế
Điều tra, phân tích thống
kê, phương pháp chuyên
gia, hội thảo
Hình 1.4: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đối với cộng đồng
dân cư
Nghiên cứu về các mối nguy cơ do NBD
Có thể thấy, NBD do BĐKH sẽ gây ra các nguy cơ về ngập lụt và nguy cơ về
xâm nhập mặn ở vùng ven biển Bắc Bộ Vấn đề này sẽ được tác giả kế thừa kết quả
nghiên cứu của các đề tài, dự án đã triển khai đã được công bố
Nghiên cứu về tác động của NBD
Với các nguy cơ đã được đề cập, đề tài tiến hành xác định quy mô ngập lụt
và xâm nhập mặn do NBD gây ra đối với hệ thống kinh tế và hạ tầng kỹ thuật; môi
trường và các hệ sinh thái; văn hóa và đời sống tinh thần của CĐDC Các phương
pháp được sử dụng bao gồm: thu thập các loại bản đồ địa hình (DEM), bản đồ hành
Trang 24chính Công nghệ GIS cũng được sử dụng để xác định quy mô các đối tượng chịu
tác động
Nghiên cứu về tổn thương (TDBTT)
Xuất phát từ khái niệm tình trạng dễ bị tổn thương, chỉ số tổn thương được
xác định thông qua 3 yếu tố là khả năng thích ứng, mức hứng chịu, độ nhạy cảm
i) Mức hứng chịu NBD:
Ngập lụt có thể tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau Tùy theo từng nhân
tố gây tác động và đối tượng chịu tác động mà có thể phân mức hứng chịu thành
nhiều cấp để thuận tiện cho việc phân tích và tính toán Với các nhân tố gây tác
động là ngập lụt và xâm nhập mặn, có thể phân mức hứng chịu thành:
- Mức hứng chịu của khu vực do nguy cơ ngập lụt: Đối với các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt của cộng đồng, các vấn đề mà khu vực ven
biển Bắc Bộ phải hứng chịu được xem xét trong nghiên cứu này bao gồm:
+ Mức hứng chịu từ tác động cấp 1: tỷ lệ diện tích đất và đất nông nghiệp có
nguy cơ bị ngập (%);
+ Mức hứng chịu từ tác động cấp 2: tỷ lệ dân số có nguy cơ mất đất ở; tỷ
lệ số công trình dân dụng, hạ tầng giao thông và thủy lợi có nguy cơ bị ngập
- Mức hứng chịu của khu vực do xâm nhập mặn: tương tự như ảnh hưởng
của nguy cơ ngập lụt, xâm nhập mặn sẽ tác động mạnh mẽ đến môi trường, các hệ
thống tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các vấn đề liên quan
trực tiếp mà CĐDC vùng ven biển Bắc Bộ phải hứng chịu với tác động của NBD
được đề xuất để xem xét bao gồm: tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp có thể bị nhiễm
mặn; tỷ lệ dân số có nguy cơ phải sử dụng nước sinh hoạt bị nhiễm mặn
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp sẽ được sử dụng Tài
liệu được thu thập bao gồm: bản đồ hiện trạng nông nghiệp, bản đồ hiện trạng thủy
lợi, bản đồ hiện trạng giao thông, số liệu về dân số và các công trình hạ tầng khác
Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp có thể bị nhiễm mặn và số dân có nguy cơ
phải sử dụng nước sinh hoạt bị nhiễm mặn được xác định thông qua kết quả điều tra
nguồn nước tưới và sinh hoạt trong vùng
Trang 25ii) Khả năng thích ứng của cộng đồng với NBD:
Để đánh giá được khả năng thích ứng của cộng đồng với NBD, đề tài sử
dụng phương pháp điều tra đánh giá nhanh SARAR và phương pháp điều tra theo
phiếu câu hỏi để đánh giá khả năng áp dụng và triển khai các biện pháp khác nhau
nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực từ NBD đến sinh hoạt và sản xuất
của CĐDC
iii) Độ nhạy cảm của cộng đồng với NBD:
Theo khuyến cáo của IPCC (2007), một số yếu tố quyết định độ nhạy cảm
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn gồm: (1) mật độ và cấu trúc dân số; (2) sự
sẵn sàng và khả năng tiếp cận với nguồn lương thực khi NBD; (3) khả năng tiếp cận
với nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt; (4) khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế và
chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Trong nghiên cứu này, các yếu tố (2), (3), (4) sẽ
được xem xét Cụ thể, phương pháp xác định các yếu tố này như sau:
- Sự sẵn sàng và khả năng tiếp cận với nguồn lương thực khi NBD: Trên cơ
sở diện tích đất nông nghiệp còn lại sau khi trừ đi diện tích có nguy cơ bị ngập hoặc
không canh tác được do nguồn nước nhiễm mặn, tổng sản lượng lương thực của các
quận/huyện trong vùng nghiên cứu ở các thời điểm 2030, 2050, 2100 sẽ được xác
định (giả thiết năng suất như hiện tại) Với dân số của các địa phương đã được dự
báo vào các thời điểm tương ứng, sản lượng lương thực bình quân đầu người sẽ
được xác định So sánh với tiêu chuẩn đảm bảo an toàn anh ninh lương thực (theo
nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 về mức đảm bảo nguồn an
ninh lương thực đến năm 2020, tầm nhìn 2030 thì sản lượng lương thực bình quân
đầu người là 400kg/người/năm) sẽ tính toán được khả năng tiếp cận với nguồn
lương thực của CĐDC của từng quận/huyện khi xảy ra NBD (%)
- Khả năng tiếp cận với nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt và khả năng tiếp
cận với dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng được xác định theo phương
pháp như trên Tiêu chuẩn để so sánh là TCXDVN 33:2006 Cấp nước – Mạng lưới
đường ống và công trình: Tiêu chuẩn thiết kế của Bộ Xây dựng và Bộ tiêu chí quốc gia
về y tế xã, giai đoạn 2011-2020 tại Quyết định 3447/QĐ-BYT, ngày 22 tháng 9 năm
Trang 262011 của Bộ trưởng Bộ Y tế
iv) Tính toán chỉ số tổn thương tổng hợp của CĐDC ven biển Bắc Bộ:
Với tất cả các thông số trên đây, chỉ số tổn thương tổng hợp của CĐDC dưới tác
động của NBD do BĐKH sẽ được xác định Phương pháp tính toán cụ thể được trình
bày trong phần dưới đây
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quy trình nghiên cứu như trình bày ở hình 1.4, một số phương
pháp nghiên cứu trong luận văn này được mô tả cụ thể như sau:
1.4.3.1 Lựa chọn kịch bản NBD
Theo khuyến cáo của Bộ TN&MT, lựa chọn kịch bản NBD trung bình (B2)
để tính toán Các mốc thời gian xem xét sẽ tương ứng với tầm nhìn ngắn, trung và
dài hạn Cụ thể, lựa chọn số liệu NBD tương ứng với kịch bản B2 vào các năm
2020, 2030, 2050
1.4.3.2 Phương pháp kế thừa
Luận văn kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đến kịch bản BĐKH,
NBD; các tài liệu về Bản đồ ngập lụt (Bản đồ nguy cơ ngập lụt do NBD năm 2030,
2050, 2100 kịch bản B2 vùng ven biển Bắc Bộ), bản đồ xâm nhập mặn (Đường
đẳng trị mặn 1‰, 4‰ theo kịch bản B2 tương ứng các mốc thời gian 2030, 2050,
2100 vùng ven biển Bắc Bộ) từ kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án đã được
công bố
1.4.3.3 Phương pháp điều tra
+ Điều tra theo phiếu câu hỏi: áp dụng đối với những nội dung nghiên cứu
yêu cầu thông tin, số liệu được cung cấp phải độc lập nhau: kinh tế hộ gia đình;
quan điểm, nhận thức về BĐKH và NBD Số lượng phiếu điều tra được sử dụng để
lấy thông tin là 145 phiếu cho toàn bộ 4 tỉnh;
+ Điều tra đánh giá nhanh SARAR: thu thập các thông tin liên quan đến các
hoạt động mang tính cộng đồng: triển khai phòng chống thiên tai (không thể thực
hiện một cách độc lập), những số liệu mang tính định hướng
1.4.3.4 Công nghệ GIS (kỹ thuật chồng ghép bản đồ)
Trang 27Các bản đồ nền, bản đồ chuyên đề được quy về cùng hệ quy chiếu và xây
dựng thành các lớp (layers) Việc xác định mức ngập, xu thế xâm nhập mặn, diễn
biến hình thái bãi bồi hay quy mô tác động của các yếu tố trên được thực hiện thông
qua chồng ghép, so sánh giữa các lớp
Phương pháp xác định diện tích có nguy cơ ngập lụt hoặc sử dụng nguồn
nước bị nhiễm mặn được tiến hành như sau:
→ Ghép mảnh bản đồ địa hình từ các mảnh khác nhau vào một mảnh thống
nhất;
→ Chuyển đổi bản đồ địa hình đã ghép từ dạng đường (line), vùng (polygon)
sang dạng điểm;
→ Xuất dữ liệu điểm đã thiết lập sang dạng kinh độ, vĩ độ;
→ Xây dựng bản đồ mô hình số độ cao (DEM) từ lớp điểm đã được chuyển
đổi;
→ Hạ độ cao theo mức ngập đã thiết lập (với bản đồ ngập lụt);
→ Đưa các lớp thông tin hành chính vào bản đồ ngập đã thiết lập;
→ Tính toán diện tích ngập hoặc sử dụng nước nhiễm mặn theo vùng ranh
giới huyện hoặc hệ thống tưới
1.4.3.5 Phương pháp dự báo kịch bản tăng dân số
Trong nghiên cứu này, CĐDC là đối tượng chính để xem xét họ bị tổn
thương như thế nào với NBD Mặc dù vậy, theo thời gian (2030, 2050 và 2100), dân
số trong khu vực nghiên cứu sẽ khác so với thời điểm hiện tại Để dự báo tổng dân
số của khu vực trong tương lai, luận văn sử dụng công thức sau:
Xn = Xo (1+D)n (1) Trong đó:
Xn: Dân số năm dự báo;
Xo: Dân số ở thời điểm hiện tại (lấy theo niên giám thống kê các tỉnh năm
2010);
D: Tỉ lệ gia tăng tự nhiên Lấy theo dự thảo chiến lược Dân số và sức khỏe
sinh sản Việt Nam cho giai đoạn 2011-2020, năm 2030 tỷ lệ tăng dân số cho cả
Trang 28nước là 0,35% Luận văn sẽ lấy con số này để tính toán mức độ tổn thương cho các
tỉnh ven biển Bắc Bộ;
n: Hiệu số năm cần dự báo so với hiện tại
1.4.3.6 Phương pháp xác định chỉ số tổn thương
Theo IPCC (2007), chỉ số tổn thương tổng hợp được xác định dựa vào giá trị
của ba yếu tố trên theo công thức sau:
CVI = (e-a)*s (2) Trong đó:
- Giá trị CVI là chỉ số thể hiện TDBTT tổng hợp biến thiên từ -1 (ít bị tổn
thương nhất) đến 1 (bị tổn thương nhiều nhất)
- e: giá trị của mức hứng chịu; a: giá trị về khả năng thích ứng; s: giá trị độ
nhạy cảm (đã được giới thiệu ở phần trên) Các giá trị này đều được đưa về đại
lượng không thứ nguyên, thể hiện bằng %
Các giá trị của các chỉ số e, a, s đều được xác định theo công thức sau:
n
X X
X s a
),,
Với, n: số tiêu chí tính toán; X1, X2, ,Xn: là chỉ số hóa các tiêu chí tính toán
Chỉ số e, a, s sẽ được tính toán cho từng địa phương trong khu vực nghiên cứu
(quận, huyện) Với một số địa phương, khi X1 hoặc X2, hoặc Xn không tồn tại sẽ
không được tính đến trong công thức (3) Như vậy, n sẽ thay đổi giữa các địa
phương khác nhau
* Kết luận chương 1
NBD do BĐKH là hiện tượng tự nhiên rất phức tạp Việt Nam là một trong
những quốc gia chịu tác động khốc liệt nhất của hiện tượng tự nhiên này Việc đánh
giá TDBTT của các đối tượng dưới tác động của NBD do BĐKH là rất quan trọng
làm cơ sở hoạch định chiến lược, chính sách và các biện pháp thích ứng phù hợp
với từng điều kiện cụ thể Mặc dù vậy, ở khu vực ven biển Bắc Bộ nói riêng và Việt
Nam nói chung, hiện vẫn chưa có nghiên cứu sâu nào về tác động và tính tổn
thương của CĐDC gây ra bởi NBD Qua tổng hợp các công bố có liên quan ở trong
Trang 29và ngoài nước, tác giả đã đề xuất được quy trình đánh giá TDBTT của cộng đồng
dưới tác động của NBD Vậy, ứng dụng quy trình và phương pháp đối với trường
hợp cụ thể, vùng ven biển Bắc Bộ, như thế nào? Các chương sau của luận văn sẽ
trình bày chi tiết về vấn đề này
Trang 30CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ SỰ TÁC
ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CỘNG
ĐỒNG DÂN CƯ
2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu
Như đã thảo luận ở phần trước, tổn thương của CĐDC dưới tác động của
NBD do BĐKH phụ thuộc vào các nhân tố: quy mô và cường độ tác động; đặc điểm
tự nhiên của khu vực; hệ thống hạ tầng kinh tế, kỹ thuật; năng lực và nguyện vọng
tham gia ứng phó của cộng đồng Để làm rõ ảnh hưởng của một số yếu tố có liên
quan trên đây và minh giải cho kết quả tính toán tổn thương của CĐDC ở chương
sau, phần này sẽ trình bày khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của khu
vực nghiên cứu và sự tác động của NBD do BĐKH đến CĐDC
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng ven biển Bắc Bộ
2.1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích
Vùng ven biển Bắc Bộ trải rộng từ 21034´ tới vùng bãi bồi khoảng 1905´ vĩ
độ bắc, từ 105017´ đến 10707´ kinh độ đông Khu vực này bao gồm 4 tỉnh và thành
phố: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.Diện tích tự nhiên của các tỉnh,
thành phố như sau:
Bảng 2.1: Diện tích tự nhiên của các tỉnh, thành phố ven biển Bắc Bộ
Tỉnh, thành Diện tích tự nhiên (km2) Biên giới biển (km)
Địa hình của vùng ven biển Bắc Bộ tương đối bằng phẳng, có độ cao từ +0,4
đến +12 so với mực nước biển Ngoài ra, địa hình cũng có một số vùng đồi có cấu
tạo cacxtơ đá vôi dọc hai cánh Tây Nam và Đông Bắc
Trang 31Chi tiết cho từng địa danh cụ thể, địa hình khu vực có nét đặc trưng sau:
Thành phố Hải Phòng:
Do cấu tạo địa hình khá đa dạng và phong phú, địa hình của Thành phố Hải
Phòng chủ yếu là đồng bằng có xen đồi núi thấp, núi đá vôi và các bãi ngập triều
Cao độ trung bình dao động từ +5 đến +7 Vùng đồi núi chiếm 15%, còn lại là vùng
đồng bằng chiếm 85% diện tích tự nhiên (bao gồm cả hải đảo)
Địa hình Thành phố Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình
lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp Phần Bắc Hải Phòng có dáng dấp của một vùng
trung du với những đồng bằng xen đồi trong khi phần phía Nam thành phố lại có địa
hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển
Đồi núi của Hải Phòng tuy chỉ chiếm 15% diện tích tự nhiên nhưng lại rải ra hơn
nửa phần Bắc thành phố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,
có quá trình phát sinh gắn liền với hệ núi Quảng Ninh thuộc khu Đông Bắc Bắc bộ
về phía Nam Đồi núi của Hải Phòng hiện nay là các dải đồi núi còn sót lại, di tích
của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với
cường độ nhỏ Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi
khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc – Đông Nam
từ đất liền ra biển
Hải Phòng có hai dải núi chính: dải đồi núi từ An Lão đến Đồ Sơn nối tiếp
không liên tục, kéo dài khoảng 30km có hướng Tây Bắc – Đông Nam gồm các núi:
Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu
Tỉnh Thái Bình:
Thái Bình có nền địa hình là đồng bằng, được hình thành cách đây không
lâu Đường bờ biển hiện nay chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại
đây Địa hình vùng của tỉnh Thái Bình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn
1%; cao trình phổ biến từ +1 đến +2 so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc
xuống Đông Nam Thái Bình không có đồi núi, vùng có cao độ trên +3 được thiết
lập là do con người tạo nên bởi việc đắp đê ngăn nước của các con sông lớn như:
sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa, sông Thái Bình, đê ngăn nước biển
Trang 32và một số cồn cát sát biển Đông Độ cao của các vùng trong tỉnh cũng có sự chênh
lệch tuy không lớn, song nó quyết định việc trồng cấy, việc xây dựng công trình,
đường sá, nhà cửa và các công trình dân dụng khác
Về cơ bản, tỉnh Thái Bình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam Cụ thể, vùng
phía Bắc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, phía Tây huyện Vũ Thư có địa hình tương
đối cao Vùng phía Nam huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng và một phần
huyện Thái Thụy có độ cao thấp hơn Vùng ven biển lại có địa hình cao hơn so với
vùng giữa, vùng này bao gồm phía Đông Nam huyện Thái Thụy, các xã ven biển
của huyện Tiền Hải
Sông Trà Lý chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam chia Thái Bình thành hai
khu: Khu Bắc Thái Bình (gồm các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái
Thụy) và Khu Nam Thái Bình (gồm phần lớn thành phố Thái Bình; Các huyện Vũ
Thư, Kiến Xương, Tiền Hải) Khu Bắc Thái Bình có địa hình cao ven sông Hồng,
sông Luộc, thấp dần về phía Đông Nam rồi lại cao dần lên ở dải đất ven biển (từ
cửa sông Trà Lý đến cửa sông Thái Bình và một dải đất cao phía Nam sông Hóa
Khu Nam Thái Bình có đặc điểm địa hình cao ở phía Tây Bắc, nơi ngã ba sông
Hồng và sông Trà Lý rồi dốc dần về phía Đông Nam Thấp nhất là đoạn giữa và cao
dần lên ở đoạn cuối ven biển
Tỉnh Nam Định:
Tỉnh Nam Định nằm ở hạ lưu của hai con sông lớn là sông Hồng và sông
Đáy Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển Phía Tây Bắc có một ít đồi núi thấp
như: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề (Thanh Nê), núi Hồ (Hồ
Sơn), núi Tiên Hương, núi Phương Nhi, núi Ngô Xá, núi Mai Sơn thuộc hai huyện
Vụ Bản, Ý Yên Phía Nam tỉnh được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền
đất này tương đối bằng phẳng
Địa hình Nam Định thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Nhìn chung, có
thể chia Nam Định thành 3 vùng: Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ
Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Vùng đồng bằng ven
Trang 33biển: gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng Vùng trung tâm công
nghiệp - dịch vụ: thành phố Nam Định
Tỉnh Nam Định nằm tại phần tiến nhanh ra biển của châu thổ sông Hồng,
nhất là từ sau khi sông Hồng phân ra các chi lưu như sông Trà Lý, sông Nam Định
và sông Ninh Cơ Khu vực tiến nhanh nhất là từ cửa Trà Lý đến cửa Hà Lạn, tập
trung tại hai bên tả hữu ngạn cửa Ba Lạt Khu vực tiến nhanh thứ hai là ở cửa Đáy
Khu vực Giao Thuỷ hàng năm được bồi khoảng 90ha và khu vực Nghĩa Hưng
khoảng 32ha Như vậy, toàn tỉnh Nam Định được tăng khoảng 120ha/năm Giữa hai
khu vực ấy là đoạn bờ biển bị xói lở đi từ cửa Hà Lạn đến cửa Lạch Giang Tốc độ
mài mòn có thể đạt 15m/năm ở bờ biển Văn Lý (mất khoảng 12ha/năm) và
5-5m/năm ở cửa Lạch Giang Do sự phát triển như vậy mà trên địa phận Nam Định có
rất nhiều di tích bờ biển cổ, như các đầm lầy biển cổ ở hữu ngạn sông Nam Định và
các cồn cát cổ ở tả ngạn sông Nam Định
Tỉnh Ninh Bình:
Địa hình ở tỉnh Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng
đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và
phía Nam Do phù sa bồi đắp hàng năm, đồng bằng tiến ra biển từ 80- 100m
Vùng đồng bằng (bao gồm: Thành phố Ninh Bình, huyện Yên Khánh, huyện
Kim Sơn và diện tích còn lại của các huyện khác trong tỉnh): diện tính khoảng 101
nghìn ha, chiếm 71,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Vùng này độ cao trung bình từ
+0,9 đến +1,2
Vùng đồi núi và bán sơn địa (bao gồm các khu vực phía Tây Nam huyện
Nho Quan và thị xã Tam Điệp, phía Tây huyện Gia Viễn, phía Tây Nam huyện Hoa
Lư và Tây Nam huyện Yên Mô): nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh với diện tích
khoảng 35.000ha, chiếm 24% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Cao độ trung bình từ +90
đến +120 Đặc biệt khu vực núi đá có cao độ trên +200
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu ở khu vực ven biển Bắc Bộ
Trang 34Khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhiệt độ không khí
trung bình năm khoảng 24,30C và lượng mưa trung bình năm 1.470 – 1.863mm
Lượng bốc hơi mặt thoáng trung bình hàng năm của khu vực là 750mm
Tương tự như diễn biến khí hậu ở Việt Nam, sự thay đổi của các đặc trưng
khí hậu chính trong vùng nghiên cứu như sau:
Về Nhiệt độ: Xem xét quá trình biến đổi nhiệt độ trung bình tháng trong vòng
45 năm (1960 – 1970, 1971 – 1980, 1981 – 2000, 2000 – 2005) cho thấy nhiệt độ
trung bình các tháng trong năm đều có xu hướng tăng từ 0,1 – 0,30C
Về lượng mưa: Lượng mưa năm biến đổi rất lớn từ 1.200mm ÷ 4.800mm
(thuộc loại mưa lớn của thế giới), tạo ra tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước rất
phong phú trong lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình Tổng số ngày mưa trong
năm của các trạm trong lưu vực hầu như đạt 125 ÷ 160 ngày
b) Thuỷ văn ở khu vực ven biển Bắc Bộ
Khu vực ven biển Bắc Bộ được đánh giá là có tài nguyên nước mặt tương đối
phong phú Khu vực cửa sông cũng thường là nơi có biến động phức tạp về mặt
hình thái do sự tương tác giữa dòng hải lưu, thủy triều, sóng và dòng chảy trong
sông Các địa phương ở vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các sông sau:
Thành phố Hải Phòng:
Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 – 0,8km/km² Độ
dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam Đây là nơi tất cả hạ lưu
của sông Thái Bình đổ ra biển Các sông chính ở Hải Phòng gồm:
+ Sông Đá Bạc – Bạch Đằng dài hơn 32km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ
ra biển ở cửa Nam Triệu, là ranh giới giữa Hải Phòng với Quảng Ninh;
+ Sông Cấm dài trên 30km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội thành
và đổ ra biển ở cửa Cấm;
+ Sông Lạch Tray dài 45km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng ra
biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Hải và cả nội thành;
+ Sông Văn Úc dài 35km chảy từ Quí Cao, đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc
làm thành ranh giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng;
Trang 35+ Sông Thái Bình có một phần là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình;
+ Sông Bạch Đằng là dòng sông ranh giới giữa Hải Phòng và Quảng Ninh;
+ Ngoài ra còn có nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành
quận Hồng Bàng
Tỉnh Thái Bình:
Mật độ sông ngòi của Thái Bình bình quân từ 5 – 6km/km2 Thái Bình được
bao bọc và chia cắt bởi các con sông chính sau:
+ Sông Hồng, đổ ra biển tại cửa Ba Lạt (giáp danh với tỉnh Nam Định);
+ Sông Luộc (một chỉ lưu của sông Hồng), đây là sông cung cấp nước cho
các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà;
+ Sông Hóa chảy ra cửa sông Thái Bình;
+ Sông Trà Lý (chi lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra
biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: Khu Bắc và khu Nam
Tỉnh Nam Định:
Mật độ sông ngòi của Nam Định bình quân là 0,33km/km2 Các sông lớn
chảy qua địa phận tỉnh Nam Định rồi đổ ra biển bao gồm:
+ Sông Hồng, đổ ra biển tại cửa Ba Lạt;
+ Sông Ninh Cơ, đổ ra biển tại cửa Ninh Cơ;
+ Sông Sò, đổ ra biển tại cửa Lạch Giang;
+ Sông Đáy, đổ ra biển tại cửa Đáy (giáp danh với địa phận tỉnh Ninh Bình)
Tỉnh Ninh Bình:
Ninh Bình cũng là tỉnh có mạng lưới sông dày đặc (mật độ khoảng 0,6 –
0,9km/km2) nhưng chỉ có hai sông lớn được bắt nguồn từ đất Ninh Bình rồi đổi ra
biển bao gồm:
+ Sông Đáy, đổ ra biển tại cửa Đáy;
+ Sông Càn, đổ ra biển tại cửa Càn;
Dòng chảy của các sông thuộc 4 tỉnh/thành phố ven biển Bắc Bộ bị chi phối
bởi chế độ dòng chảy và điều tiết phía thượng lưu
2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 36a) Tài nguyên đất
Điều kiện thổ nhưỡng tại các tỉnh ven biển Bắc Bộ khá tốt, chủ yếu là đất do
phù sa sông bồi lắng nên có điều kiện thuận lợi phát triển trồng cây nông nghiệp với
nhiều loại thực vật khác nhau Tuy nhiên có một vấn đề khó khăn đó là một phần
đất bị nhiễm mặn lớn gây cản trở cho sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất của các tỉnh ven biển Bắc Bộ
Đơn vị (ha) Ninh Bình
(2010)
Thái Bình (2010)
Hải Phòng (2010)
Nam Định(2010) Tổng diện tích đất tự nhiên 1.292,6 1.556,0 1.598,6 1.575,7
(Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh 2010, 2011)
Qua bảng thống kê tình hình sử dụng đất của các tỉnh cho thấy: Nam Định là
tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn nhất, đồng thời diện tích đất sản xuất nông nghiệp
cũng lớn nhất, tiếp theo là Thái Bình Về diện tích đất lâm nghiệp có rừng thì Ninh
Bình, Hải Phòng là địa phương có diện tích lớn nhất Tuy nhiên hai địa phương này
cũng là nơi có diện tích đất chưa sử dụng cao nhất trong bốn tỉnh ven biển Bắc Bộ
Ở Hải Phòng, phần diện tích đất chưa sử dụng được đánh giá là đều có khả năng
làm nông, lâm nghiệp
b) Tài nguyên nước
Các tỉnh ven biển bắc Bộ là nơi có nguồn lợi rất lớn về nước Đây là điều
kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản
xuất ở mọi nơi trong tỉnh Các dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêu cho đồng
ruộng thông qua hệ thống thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cống tự chảy
Hơn nữa, các vùng ven biển có tiềm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt thủy hải
Trang 37sản Một số khu vực ven biển nước có độ mặn cao thích hợp sản xuất muối phục vụ
cho công nghiệp hoá chất địa phương và Trung ương cũng như đời sống của nhân
dân (Hải Phòng, Nam Định) Bên cạnh đó, Ninh Bình, Hải Phòng, Thái Bình còn có
mạch suối khoáng ngầm sử dụng chế phẩm nước giải khát, chữa bệnh
c) Tài nguyên thuỷ sản
Tài nguyên thuỷ sản ở vùng ven biển Bắc Bộ được đánh giá là rất phong phú,
nguồn lợi thuỷ sản ở mỗi địa phương lại có đặc trưng khác nhau:
Vùng Hải Phòng:
Vùng ven biển Hải Phòng là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh
học cao Có 124 loài cá biển thuộc 89 giống nằm trong 56 họ phân bố ở vùng biển
quanh đảo Cát Bà Các họ phong phú về số lượng loài là cá Khế với 9 loài; họ cá
Liệt với 8 loài; họ cá đù đã bắt gặp 7 loài; họ cá bàng chài bắt gặp 6 loài và họ cá
bống bắt gặp 5 loài Có 15 họ có số lượng loài từ 2 đến 4 loài Cá rạn san hô chiếm
ưu thế với 79 loài thuộc 58 giống nằm trong 37 họ cá khác nhau Các họ cá biển bắt
gặp nhiều là cá khế, cá bống, cá hồng, cá phèn, cá lượng, cá chai, cá đù, cá mối và
cá trích Ngoài ra còn có một số đối tượng có giá trị kinh tế cao như tôm he, mực
nang, mực ống và cua bơi Nguồn lợi hải sản ở vùng biển Hải Phòng mang đặc
điểm nguồn lợi hải sản vịnh Bắc Bộ, với thành phần loài phong phú và không có
loài hoặc nhóm loài chiếm ưu thế tuyệt đối trong thành phần sản lượng khai thác
Vùng Thái Bình:
Khác với Hải Phòng, nguồn lợi thủy sản của tỉnh Thái Bình tập trung ngay ở
dải ven bờ Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, Thái Bình có 3 thủy vực khác nhau:
nước ngọt, nước lợ, nước mặn
+ Nước mặn: Các loài thuỷ hải sản khai thác chính là cá Trích, cá Đé, cá
Khoai, cá Đối, cá Vược ; các loài tôm: tôm Vàng, tôm Bộp, tôm He ;
+ Nước lợ: Chủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và sông
Trà Lý có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh phong phú làm
thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản Hiện hoạt động nuôi trồng thủy sản tập
trung vào một số loài, giống như tôm, cua, sò, hến, trồng rau câu;
Trang 38+ Nước ngọt: Tổng diện tích có khả năng nuôi thủy sản là 9.256ha, hiện mới
đưa vào nuôi khoảng 6.020ha Ngoài ra còn có trên 3.000ha vùng lúa ruộng trũng
cấy 1 vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản
Vùng Nam Định:
Tương tự như Thái Bình, Nam Định có hệ thống sông ngòi khá dày đặc cùng
nhiều ao hồ, đầm lớn tạo tiềm năng về nguồn lợi thủy sản ở cả 3 vùng:
Tại vùng nước mặn (Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) với 4 cửa sông lớn
đổ ra biển là cửa Đáy, cửa Lạch Giang, cửa Ba Lạt và cửa Hà Lan là môi trường
thuận lợi để duy trì và phát triển thêm các nguồn lợi thuỷ hải sản Động vật đáy và
hải sản tại vùng biển có gần 300 loài không xương sống, trong đó có 9 loài có giá trị
kinh tế là tôm he mùa, tôm bộp, tôm sắt, tôm vàng, tôm rảo,…sống ở độ sâu từ
5-30m, tập trung ở khu vực Ba Lạt Ngoài ra, còn có cua, ngao, vạng, sò huyết, sò
lông và các loại ốc sinh sống ở vùng bãi triều Ngoài khơi hình thành nhiều bãi cá,
bãi tôm lớn như: bãi cá từ cửa Ba Lạt đến Hải Phòng, bãi cá từ cửa Ba Lạt đến
ngang Lạch Ghép (Thanh Hoá); bãi tôm lớn từ cửa Ba Lạt đến ngoài khơi đảo Cát
Bà (Hải Phòng)
Ven biển là bãi kiếm mồi của các loài tôm, cá từ đại dương và cửa Vịnh Bắc
Bộ trong vụ cá Nam Các giống loài thuỷ hải sản rất phong phú, gồm 223 loài thuộc
18 bộ cá, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cá vược, cá bớp, cá đối, cá
dưa, cá nhệch, cá tráp…
Ở vùng nước ngọt, có rất nhiều sinh vật nổi, bao gồm các loài thuỷ sinh vật,
là thức ăn cho nhiều loài thủy sản, trong đó có các loài cá nước ngọt như: mè, trôi,
chép, trắm cỏ, trắm đen, trê, tôm, cua Một số loài nhập ngoại như: mrigan, rôhu,
catla, trê lai, rô phi, tôm càng xanh… đưa vào nuôi đã bổ sung thêm giống loài cho
môi trường tự nhiên
Vùng Ninh Bình:
Vùng ven biển Ninh Bình có nhiều loại tài nguyên có giá trị kinh tế cao như
cá Song, cá Mú, cá Bớp, trai Ngọc và một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ như:
Ngao, Vọp, Ngán, Don Do chịu ảnh hưởng của sông Đáy và sông Càn với lưu
Trang 39lượng nước ngọt hoà lưu vào biển khác nhau nên mật độ của các loài cũng phân bố
không đều dọc theo vùng ven biển Kim Sơn Ở phía đông, nơi gần Cửa Đáy có độ
mặn thấp hơn so với phía Tây (gần Cửa Càn) nên thành phần tôm cá ưa ngọt tập
trung hơn Trong khi đó, loài tôm he lại có mật độ cao hơn ở phía Cửa Càn
d) Tài nguyên khoáng sản
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng (2010), Tài nguyên khoáng
sản của Hải Phòng chủ yếu là đá vôi, tập trung ở Tràng Kênh trữ lượng đạt 185 triệu
tấn, puzơlan ở Phát Cổ có trữ lượng lớn 71 triệu tấn Hải Phòng có khả năng phát
triển các ngành công nghiệp sản xuất xi măng với 4 – 5 triệu tấn/năm; đất đèn và
các sản phẩm hoá chất từ gốc cacbonnat Các mỏ khoáng sản kim loại ở Hải Phòng
trữ lượng nhỏ không đạt quy mô công nghiệp
Thái Bình có các khoáng sản như: Khí đốt, than nâu, titan (ilmenit), sét gốm,
sét gạch ngói, nước khoáng nóng
Nam Định có các loại khoáng sản như: Than nâu, sét gốm, sét gạch ngói, cát
xây dựng, khoáng kim loại, khoáng dạng lỏng
Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản, đáng kể nhất là đá vôi Toàn tỉnh có 12
nghìn ha diện tích đá vôi, với trữ lượng hàng chục tỷ m3 và chục triệu tấn đôlômít
phục vụ cho xây dựng và sản xuất xi măng Ninh Bình còn có đất sét, phân bố rải
rác ở các vùng núi thấp thuộc thị xã Tam Ðiệp, huyện Gia Viễn, Yên Mỗ
e) Tài nguyên du lịch
Các tỉnh ven biển Bắc Bộ có nguồn tài nguyên du lịch khá đa dạng, phong
phú với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà (Hải Phòng) và
những khu du lịch sinh thái tuyệt đẹp: khu du lịch Tràng An, Tam Cốc Bích Động
cùng khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long (Ninh Bình), khu dự trữ sinh quyển thế
giới, vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) Không chỉ có cảnh đẹp, vùng ven biển
Bắc Bộ còn là nơi có nền văn hóa phát triển lâu đời, giàu tiềm năng du lịch văn hóa
với nhiều đền chùa, làng nghề, các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội…Hơn nữa, các
tỉnh này còn có lợi thế về vị trí địa lý, nằm trên hệ thống giao thông xuyên việt, nằm
trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế và trung tâm du
Trang 40lịch lớn Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa
xã hội, du lịch với các tỉnh khác…
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng ven biển Bắc Bộ
2.1.2.1 Đặc điểm dân cư - lao động
Dải ven biển Bắc Bộ tập trung đông đúc dân cư Mật độ dân số của khu vực
thuộc diện cao nhất so với các vùng miền khác của cả nước, trung bình khoảng
1.039 người/km2 (2010) Mật độ dân số cao nhất lần lượt là Nam Định, Hải Phòng,
Thái Bình rồi đến Ninh Bình (Bảng 2.3) Thực tế thì khu vực ven biển của tỉnh Ninh
Bình cũng có mật độ dân số cao do một tỷ lệ khá lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là
núi, đặc biệt là vùng núi đá vôi – nơi có rất ít dân cư trú
Mật độ dân số tập trung cao nhất ở các thị xã, thành phố, nơi có các hoạt
động kinh tế – xã hội lâu đời, cơ sở hạ tầng tốt Tỷ lệ dân số thành thị tăng nhanh
trong vòng 1 thập kỷ qua, nguyên nhân một phần là do người dân ở nông thôn vì
quá khó khăn đã lên thành phố kiếm sống rồi định cư lại ở đó Hải Phòng là địa
phương có tỷ lệ dân cư sống ở thành phố, thị xã lớn nhất trong 4 tỉnh ven biển, với
46,1% dân cư sống ở thành thị, còn Thái Bình là tỉnh có tỷ lệ nhỏ nhất là 10%
Bảng 2.3: Dân số trung bình các tỉnh/thành qua các năm
Tỉnh
Diện tích
tự nhiên (km2)
Năm
2007 (Nghìn người)
Năm
2008 (Nghìn người)
Năm
2009 (Nghìn người)
Năm
2010 (Nghìn người)
Mật độ dân
số 2010 (người/km2)Hải Phòng 1.575,7 1.789,10 1.806,50 1.824,10 1.840,40 1.167,99
Thái Bình 1.598,6 1.781,04 1.780,73 1.782,16 1.784,50 1.116,29
Nam Định 1.556,0 1.839,37 1.829,68 1.826,13 1.826,31 1.173,72
Ninh Bình 1.292,6 894,59 896,07 899,59 900,62 696,751
Tổng: 6.022,90 6.304,10 6.312,98 6.331,98 6.351,83
(Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh 2010, 2011)
Dân cư tập trung đông đúc nhưng lại phân bố không đồng đều giữa các tỉnh
Vùng thành thị – nơi có hoạt động kinh tế phát triển, điều kiện cơ sở vật chất, hạ
tầng tốt, nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí là nơi tập trung dân cư với mật độ cao Tỉ lệ