1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Gd địa phương tỉnh quảng ninh lớp 10

90 433 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Gd địa phương tỉnh Quảng Ninh lớp 10
Tác giả Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tùng, Lê Thị Sông Hương, Trương Thiếu Huyền, Dương Thị Oanh, Nguyễn Chiến Thắng, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trường học Trường THPT Quảng Ninh
Chuyên ngành Giáo dục địa phương
Thể loại Tài liệu giáo dục địa phương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 34,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sách tài liệu dành cho học sinh và giáo viên dạy và học lớp 10 bộ môn tại địa phương Tỉnh Quảng Ninh. Bản PDF đẹp, đúng mẫu. Là tài liệu tốt hỗ trợ GV và HS trong học tập và giảng dạy. Thầy cô và học sinh nắm bắt được kiến thức về địa phương Quảng Ninh từ địa lí, địa hình, các thế mạnh về kinh tế, con người, các nguồn lực tự nhiên. Vẻ đẹp quê hương con người quảng Ninh sẽ được đề cập đến trong tài liệu này.

Trang 1

Giáo dục địa phươnG Tài liệu

Tỉnh Quảng ninh

Lớp

TÀI

NguyễN VăN Tuế (Tổng Chủ biên) - NguyễN VăN TùNg (Chủ biên)

Lê Thị SôNg hươNg - TRươNg ThIếu huyỀN - DươNg Thị OaNh

NguyễN ChIếN ThắNg - NguyễN Thị ThaNh Thủy

sở giáo dục và đào tạo quảng ninh

10

Trang 2

MỤC LỤC

Chủ đề 1 Văn hoá, LỊCh SỬ TRUYỀn ThỐnG

Bài 4 Mối quan hệ giữa các di tích, di sản, danh thắng với

sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Quảng ninh

28

Chủ đề 2 ĐỊA LÍ ĐỊA PhƯƠnG

Chủ đề 3 ChÍnh TRỊ - XÃ hỘI

Chủ đề 4 MÔI TRƯỜnG

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Các em học sinh thân mến!

Trên tay các em là cuốn "Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Quảng Ninh lớp 10" Với 4 chủ đề, các em sẽ được � m hiểu thêm và sâu hơn về các vấn đề: Văn hoá, lịch sử truyền thống; Địa lí địa phương; Chính trị - xã hội; Môi trường của địa phương.

Thông qua hoạt động trong các chủ đề, các em sẽ được trang bị những tri thức cơ bản về Quảng Ninh Qua đó, các em được phát triển những năng lực và phẩm chất cần thiết, được bồi đắp � nh yêu quê hương, đất nước.

Cuốn sách sẽ đồng hành với các em trong suốt năm học đầu � ên ở Trung học phổ thông Hi vọng các em sẽ yêu thích các nội dung trong sách, say mê học tập, trải nghiệm, biết vận dụng, liên hệ để hiểu rõ hơn những vấn đề của địa phương và thêm trân trọng truyền thống quê hương Quảng Ninh.

Cuốn sách được biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của các cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh và các em học sinh để chất lượng cuốn sách ngày càng tốt hơn.

CÁC TÁC GIẢ

Trang 4

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TỈNH QUẢNG NINH

chủ đề 1

VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG

(vùng Đông Triều thuộc bộ Dương Tuyền)

Quảng Ninh ngày nay là một trong những cực tăng trưởng kinh tế toàn diện của phía bắc Tổ quốc Vùng đất và tên gọi Quảng Ninh có từ bao giờ? Tỉnh Quảng Ninh đã bao nhiêu lần thay đổi tên? Tên gọi Quảng Ninh gợi cho em những suy nghĩ gì?

1 Quảng Ninh trước thế kỉ XX

Biết được quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh (các mốc thời gian, tên gọi; ý nghĩa sự kiện ngày 30-10-1963).

Trình bày được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính

và tên gọi của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kì lịch sử.

Tự hào và trân trọng những đóng góp của các thế hệ đi trước đối với việc thành lập và phát triển tỉnh Quảng Ninh; ý thức được trách nhiệm

và có hành động cụ thể góp phần xây dựng và phát triển địa phương.

Mục tiêu

HÌNH tHÀNH KiẾN tHỨc MỚi

MỞ ĐẦu

Trang 5

Thời gian Thuộc nhà nước Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)

Khúc Dương)

4043 Quận Giao Chỉ (chính quyền tự chủ

603-617

713-722 Chính quyền tự chủ người Việt Trấn Triều Dương

791-802 Chính quyền tự chủ người Việt Trấn Triều Dương

Trang 6

(Nguồn: Địa chí Quảng Ninh, NXB Thế giới, 2001, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh)

2 Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963

Đầu thế kỉ XX, tỉnh Quảng Yên bao gồm cả khu Hòn Gai và châu Hải Ninh Năm1906, thực dân Pháp thống trị thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh Quảng Yên

Để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, tỉnh Quảng Yên lại được tách, nhập và thay đổi tên gọi: Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai (năm 1946), nhập lại thành Liên tỉnh Quảng Hồng (năm 1947) Đến năm 1948 lại được tách ra thành Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên Năm 1955, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng, trên cơ sở sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên Sau khi hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ

Đọc thông tin trên và thực hiện yêu cầu:

1 Em có nhận xét gì về mốc thời gian ra đời của Bộ Ninh Hải?

2 Tên gọi của Quảng Ninh thay đổi theo thời gian và chính quyền quản lí mới nói lên điều gì?

1428-1527 Đại Việt Trấn An Bang và huyện Đông Triều (thời Lê Thái Tổ)Đạo thừa tuyên An Bang (thời vua Lê Thánh Tông)

1906 Thực dân Pháp Tỉnh Quảng Yên; thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh Quảng Yên.

Trang 7

khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã lãnh đạo Nhân dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển tỉnh về mọi mặt.

Theo nguyện vọng của Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày 30-10-1963, Quốc hội đã phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh Ngày 18-11-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định hợp nhất hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh” Cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan nhà nước của hai tỉnh cũng lần lượt được hợp nhất thành một

Như vậy, từ cuối năm 1963, lịch sử Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh bước sang một trang mới, hai tỉnh đã được hợp nhất thành một tỉnh và vinh dự được Bác Hồ đặt tên là tỉnh Quảng Ninh

Giữa năm 1963, việc hợp nhất hai địa phương Hồng Quảng và Hải Ninh đã được Trung ương quyết định Việc đặt tên tỉnh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng Nhân dân hai nơi tự lựa chọn… Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy chữ cuối của tỉnh Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại

có nhiều nghĩa “Quảng” là rộng lớn, “Ninh” là yên vui, bền vững Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao?… Chỉ một cái tên tưởng đơn giản mà Bác

đã suy nghĩ và gửi gắm vào đó bao điều!.

(Theo lời kể của đồng chí Hoàng Chính, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh năm 1946-1948, 1955-1963;

nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ninh năm 1964-1969)

Tỉnh Quảng Ninh (tháng 10 năm 1963) gồm 3 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí

và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng

Từ khi thành lập đến nay, Quảng Ninh không ngừng lớn mạnh, phát triển toàn diện, hiệu quả và bền vững

1 Lập bảng thống kê thời gian và tên gọi Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963

2 Nêu ý nghĩa của ngày 30-10-1963 đối với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Trang 8

1 Vẽ sơ đồ thể hiện các mốc thời gian gắn với tên gọi Quảng Ninh qua các thời kì lịch

sử (giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963)

2 Nêu cảm nghĩ của em về việc Bác Hồ đặt tên cho tỉnh là Quảng Ninh

1 Quan sát bảng số liệu thống kê Nêu nhận xét về sự phát triển của các đơn vị hành chính và dân số của tỉnh Quảng Ninh từ năm 1963 đến nay

Nội dung Năm 1963 Năm 2020

Tổng số đơn vị

hành chính

Tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính gồm 3 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.

Tỉnh Quảng Ninh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 4 thành phố (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí), 2 thị xã (Quảng Yên, Đông Triều), 7 huyện (Hải Hà, Đầm Hà, Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân Đồn, Cô Tô) với 177 đơn vị hành chính cấp xã (98 xã, 72 phường, 7 thị trấn).

2 Giới thiệu quá trình thành lập huyện hoặc thị xã, thành phố, khu kinh tế nơi em đang sống và học tập

LuYỆN tẬP

VẬN DụNG

Trang 9

VĂN HỌC DÂN GIAN tỉnh QUẢNG NINH

Lựa chọn: Kể tên một truyện cổ hoặc đọc một bài vè, một câu tục ngữ, một câu

ca dao về Quảng Ninh mà em biết

Thuyết minh được những nét khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh.

Lựa chọn và thuyết trình được một vấn đề của văn học dân gian Quảng Ninh.

Có kĩ năng đọc hiểu một số tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu của Quảng Ninh.

Mục tiêu

HÌNH tHÀNH KiẾN tHỨc MỚi

MỞ ĐẦu

I Vài nét khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh

1 Bối cảnh hình thành và phát triển văn học dân gian Quảng Ninh

Quảng Ninh có miền nú i, trung du, đồ ng bằ ng, vù ng ven biển, vù ng biển vớ i nhiều thành phầ n dân tộc cù ng chung số ng Nghiên cứ u văn học dân gian Quảng Ninh cho thấ y, mỗ i vù ng miền nêu trên đều trở thành những “cá i nôi” phá t triển văn học dân gian Tuỳ theo thành phầ n dân tộc và đặc thù văn hoá mà ở mỗ i vù ng miền, văn học dân gian có né t đặc sắ c riêng Quảng Ninh không chỉ có văn học dân gian củ a người Kinh mà cò n có văn học dân gian củ a cá c dân tộc í t người Bở i thế, văn học dân gian củ a Quảng Ninh có sự đa

dạ ng về thể loạ i, đề tài, nội dung tư tưởng và hì nh thứ c thể hiện Tuy nhiên, bên cạ nh né t đặc sắ c riêng, văn học dân gian ở cá c vù ng miền Quảng Ninh đều có điểm chung Đó là, các tác phẩm văn học dân gian phản á nh hiện thực cuộc sống cũng như phần nào lị ch sử

hì nh thành và phá t triển củ a Quảng Ninh, phản á nh tâm tư tì nh cảm cũ ng như những kinh nghiệm trong lao động sản xuấ t củ a người Quảng Ninh Văn học dân gian còn là nguồn nuôi dưỡng văn học viết, góp phần làm cho văn học Quảng Ninh nói chung trở nên phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc riêng

Trang 10

2 Các thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Quảng Ninh

2.1 Ca dao

Quảng Ninh có một kho tàng ca dao lớn về số lượng và giá trị nội dung tư tưởng, phản ánh đời sống tâm tư tình cảm của người Quảng Ninh trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với cuộc sống và con người với thiên nhiên, trong đó có một

số nội dung cơ bản sau:

– Vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên:

(1) Cửa Gỗ lại có hang Luồn Thâu kênh Bồ Lội tới miền Tuần Châu Nào nào Cửa Lục nơi đâu

Cửa Lục lại có lối thâu Kênh Đồng.

(2) Vua Thánh Tông trị vì thiên lí Đặt bài thơ còn để lại đây

Miếu Đức Ông ở nơi Cửa Suốt Khách vãng lai lần lượt cúng dâng Vạn Hoa chốn ấy ngát lừng

Cặp Tiên có giếng giữa rừng trong thay

Qua Soi Dây, bắt sang Ghềnh Đám Tới Hòn Quay sẽ tạm nghỉ ngơi Trông ra Hòn Gạc xa vời Kìa voi Hà Nứa, kìa voi Đầm Bầu Khe càng sâu lắm truông ở giữa Qua Dù Dì tới cửa Tân Yên Khen ai khéo đặt cho nên Một bên Vũng Vật, một bên Vua Bà

(Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng,

Ti Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh, 1980)

Bên cạnh sự đa dạng về thể loại, về đề tài, về nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện, điểm chung của văn học dân gian Quảng Ninh là gì?

Trang 11

– Nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần qua việc tái hiện các truyền thống văn hoá,

lễ hội Tiêu biểu là cảnh lễ hội miếu Tiên Công vào ngày mồng bảy tháng giêng:

Mồng bảy hội miếu Tiên Công Dưới già đánh vật, trên rồng thi bay Đêm thì hát đúm vui thay

Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

Và lễ hội Yên Tử bắt đầu ngày 10 tháng giêng (âm lịch) kéo dài đến hết tháng ba:

Trăm năm tích đức tu hành, Chưa về Yên Tử, chưa thành quả tu.

– Vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi:

(1) Trăm năm một cuộc tình duyên Phải đâu thăm ván bán thuyền cho qua Một lời đã nói cùng ta

Đừng như bãi sú vào ra trăm đường

Đã thương thì một lòng thương Đừng như tép lẫn vãi đường vịt ăn.

(2) Trên rừng ríu rít chim kêu Cửa lò róc rách suối reo đêm ngày

Thương nhau ta đứng ở đây

Nước non là bạn cỏ cây là tình.

(Ca dao Vùng mỏ)

(3) Yêu nhau nước đựng sàng không lọt

Ghét nhau nước đựng chậu còn trôi

Yêu nhau thì mười ngày đường cũng gần

Ghét nhau nhà trên nhà dưới vẫn xa

(Ca dao dân tộc Tày)

– Sự lầm than, cơ cực của người phu mỏ thời kì thực dân Pháp khai thác thuộc địa Họ quanh năm ăn đói mặc rét, bị bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:

Trang 12

(1) Oằn lưng đội thúng than đầy Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi.

(2) Lên tầng khuỵu gối đun xe

Gò lưng mửa mật nắng hè cháy da.

(3) Ai về tôi nhắn câu này

Cu li Cẩm Phả đi giày bằng rơm Bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

“Đờ suy” là nón, gái không dám nhìn.

(4) Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già Việc gì mà rủ nhau ra

Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

(Ca dao Vùng mỏ)

Nhìn chung, qua ca dao, có thể nhận thấy đời sống tâm hồn của người Quảng Ninh với nhiều cung bậc, màu sắc gắn với mỗi hoàn cảnh sống Dù cuộc sống xưa kia còn nhiều cơ cực, nhưng vượt lên điều đó, người Quảng Ninh vốn giàu nghị lực sống và có tâm hồn lãng mạn vẫn luôn thể hiện một tình yêu tha thiết với cuộc sống

2.2 Vè

Qua hình thức văn vần, các bài vè thường nói về những nhân vật và sự kiện tại các địa

phương Đáng chú ý có những bài vè: vè Trần Hưng Đạo khao quân, vè chiến khu Đông Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng, vè Móng Cái giành chính quyền, chùm vè về đời sống

người thợ mỏ và chùm vè đi lính ở Vân Hải

Vè Trần Hưng Đạo khao quân kể về việc Trần Hưng Đạo khao quân một bữa cháo hoa để

nhắc nhở quân sĩ không quên dân trăm họ đang đói khổ trong tình cảnh bị giặc ngoại xâm cướp bóc, từ đó thức tỉnh lòng căm thù giặc, khích lệ ý chí chiến đấu đánh tan kẻ thù xâm lược

Vè Móng Cái giành chính quyền, vè chiến khu Đông Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng kể

về những con người và sự kiện đáng nhớ trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 13

Bên cạnh những bài vè là sáng tác của tập thể, Quảng Ninh còn có những bài vè do cá

nhân sáng tác Nổi tiếng là vè ông đĩ Tràng ở đảo Vân Hải (huyện Vân Đồn) Ông đĩ Tràng

là người sáng tác những bài vè nổi tiếng; ông có con gái đầu lòng tên là Tràng, người ta lấy tên con gái ông để gọi ông theo cách gọi của người xưa Vè ông đĩ Tràng hài hước, kể những chuyện như mấy cô đi đào mồi nước trôi mất váy, chuyện ông ba vợ mà phải nằm không, chuyện các ông chức dịch thu tiền dân sửa đình Quan Lạn nhưng rồi dùng tiền đó để

ăn uống, chia chác Cùng với vè ông đĩ Tràng còn có vè cụ Bầm Cụ ở xã Hiệp Hoà, thị xã Quảng Yên, thuộc dòng họ Vũ Văn nhưng có chức “Lý mua” nên được gọi là cụ Lý Bầm

Cụ có một số bài vè nổi tiếng: vè hội đồng Bống, Bớp; vè đắp đập sông Khoai; vè Pháp đánh thành Quảng Yên; vè Cung Đình Vận; vè phá chùa; vè cha Bằng Những bài vè của

cụ tố cáo bộ mặt xấu xa, thối nát của bọn cường hào, kì mục tại địa phương cũng như sự tàn

ác của thực dân Pháp xâm lược

Ông Pháp Thất ở khu Cẩm Phả có bài Vè đình công năm băm sáu với 317 câu Bài vè

được ông sáng tác, khi cuộc đình công của thợ mỏ Cẩm Phả tháng 11 năm 1936 thắng lợi Nội dung bài vè trình bày từ nguyên cớ xảy ra cuộc đình công đến khi kết thúc với những diễn biến cụ thể Bài vè đã được phổ biến rộng rãi vào thời kì đó Tên Cai Hảo – một nhân vật trong bài vè – đã từng dọa bắt ông giải về Hòn Gai, nhưng trước lí

lẽ đanh thép của ông Pháp Thất chúng đã chịu thua Ngoài giá trị văn học, bài vè còn

là một tài liệu lịch sử về cuộc đấu tranh vang dội của công nhân vùng mỏ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Cụ bà Phạm Thị Bế ở phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên có bài vè lụt năm Đinh Mão,

kể chuyện vỡ đê Hà Nam và thảm cảnh của dân chúng dưới thời thực dân Pháp Cụ Bế còn

có một số bài: Vè cải cách ruộng đất; vè vào hợp tác xã nói về các sự kiện cách mạng đáng

nhớ đối với người dân

Nhìn chung, đối với văn học dân gian Quảng Ninh, vè là thể loại có nhiều thành tựu đặc sắc, vừa có giá trị hiện thực vừa có nhiều giá trị nhân văn, đáng được lưu truyền học tập

2.3 Truyện dân gian

Trước hết phải nói đến những truyện cổ giải thích về nguồn gốc ra đời của những địa danh cụ thể ở Quảng Ninh Đó là truyền thuyết về Hạ Long và Bái Tử Long, giải thích về nguồn gốc ra đời của hàng ngàn đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long; là sự tích đảo Trà Cổ, giải thích về nguồn gốc của những địa danh trên đảo Trà Cổ Tương tự, còn có các

truyện: Sự tích hang Trinh Nữ, Sự tích Cô Thanh Lảnh, Sự tích sông Khoai, Sự tích hang Nhà Trò, Sự tích hang Đúc Tiền, Sự tích hang Ma, Sự tích vụng Bạch Tuộc,…

Trang 14

Bên cạnh đó, còn một số truyện kể về một số nhân vật gắn với đất và người Quảng Ninh:

Sự tích xã Vô Ngại kể về số phận nhân vật vua Ngại và giải thích giống tre mọc ngược chỉ

có ở đây; Truyện Phạm Nhan kể về sự tích của tên giặc phản quốc Phạm Nhan và sự ra đời của loài vắt và loài đỉa; Sự tích chùa và suối Giải Oan kể chuyện vua quan nhà Trần; Sự tích miếu Lê Lợi giải thích sự ra đời của miếu thờ Lê Lợi ở xã Lê Lợi.

Ở các địa phương của Quảng Ninh còn có các câu chuyện ghi nhớ công lao của những người đã có công khai mở, tạo dựng nên làng xóm quê hương như chuyện về 6 vị tổ ở Trà

Cổ, 25 vị Tiên công gắn liền với vùng đảo Hà Nam

Nhìn chung, chủ đề xuyên suốt trong các truyện cổ về Quảng Ninh là tinh thần yêu nước, yêu quê hương tha thiết và ý chí kiên cường của nhân dân Quảng Ninh trong công cuộc bảo vệ non sông đất nước

Các truyện dân gian Quảng Ninh, cũng giống như các truyền thuyết, cổ tích nói chung, đều có yếu tố hoang đường kì ảo, nhưng cốt lõi vẫn là giải thích nguồn gốc kiến tạo nên địa hình đất đai, trời biển Quảng Ninh; phản ánh hiện thực công cuộc tạo dựng nên làng xóm quê hương và chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc

II Đọc hiểu một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh

1 Ca dao

(1) Gió đông nam còn đang hây hẩy Gió đông vàng lừng lẫy thuyền lên Giong buồm từ vũng Cặp Tiên Hôm nay Cặp Vấn tới miền Gãnh Dong Xôn xao vợ vợ chồng chồng

Trở giời cá nổi cá dông áp bờ Vui sao vui đến bất ngờ

Cá vào vỡ lưới phải chờ cá ra.

(2) Con ơi nhớ lấy lời cha Bảo nhau chớ có mà ra chốn này Chốn này là cảnh đọa đày Trăm nghìn tai họa gieo ngay vào người

Lò sập đổ, đá rơi, tầng lở Nào nạn tai xe cộ hằng ngày Rừng thiêng nước độc khổ thay

Trang 15

Ốm đau, bệnh tật, chẳng rày thuốc thang Muỗi như trấu, mùng màn chẳng có Lại vắt rừng, thú dữ như rươi Tay làm miệng chẳng đủ nuôi Chốn này địa ngục, con ơi, đừng vào!

1 Khái quát chủ đề của từng bài ca dao

2 Hiện thực cuộc sống được biểu hiện như thế nào qua từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp

tu từ ở mỗi bài ca dao?

3 Tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian được thể hiện qua mỗi bài ca dao

2 Truyện cổ tích

SỰ TÍCH VỊNH HẠ LONG, BÁI TỬ LONG

Ngày xửa, ngày xưa, lâu lắm rồi, không biết vào thời nào, dân ta đang sống yên lành thì bỗng kẻ thù ầm ầm kéo tới Cậy đông người, chúng dùng hàng ngàn thuyền bè hùng hổ vây kín mặt biển Chúng nhăm nhăm gươm giáo và mồi lửa chỉ đợi lệnh là đồng loạt tràn lên bờ giết hết, cướp hết, đốt phá hết

Dân ta đã ít người, lại chỉ quen hoà bình làm ăn, làm thế nào địch nổi? Ai cũng thề cảm tử, "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" nhưng còn người già và trẻ em sao thoát được tay giặc, tiếng than khóc vang trời Chuyện ngang ngược trái đạo lí, trái lẽ trời và tiếng than khóc động đến thiên đình Không thể để đất nước con Rồng cháu Tiên bị giày xéo, tàn phá, sản vật quý báu bị cướp không, dân lành bị tàn sát, trời bèn sai một đàn rồng lập tức xuống hạ giới giúp dân ta ngăn chặn bước tiến của bọn giặc Xuống vùng biển này, ngay trước mũi thuyền giặc, đàn rồng vùng vẫy tạo nên một trận cuồng phong và phun ra vô vàn châu ngọc Châu ngọc thoắt biến thành hàng nghìn đảo đá muôn hình nghìn dáng Tất cả tạo nên một bức trường thành khổng lồ và bên trong các đảo đá ngổn ngang làm thành một trận đồ bát quái Đoàn thuyền giặc bị trận cuồng phong làm thất điên bát đảo, lại thấy bức trường thành bỗng sừng sững trước mặt, chúng vô cùng hoảng sợ bèn chen nhau tháo chạy Trời yên, biển lặng, đất nước lại thanh bình, mọi người lại vui vẻ làm ăn Người cấy lúa, người bẫy thú, người bắt cá, cảnh tượng đông vui tấp nập hơn xưa Ai cũng quý mến đàn rồng, loài vật mà bao đời ông cha tôn thờ

là thuỷ tổ của mình Đàn rồng cũng quyến luyến người và cảnh đẹp nơi này xin không

về trời nữa Ít lâu sau, đàn rồng con ở trên trời nhớ mẹ cũng xuống theo Từ đó, trong vùng biển đông bắc nước ta vĩnh viễn hiện hình một vùng đảo đá kì lạ Người ta đếm

Trang 16

được hơn hai nghìn hòn đảo mà không hòn nào giống hòn nào Mỗi đảo đá như một hòn non bộ khổng lồ do thợ trời tạc đẽo nên, quý giá như châu ngọc Chỗ rồng xuống được mọi người gọi là Hạ Long Chỗ đàn rồng con xuống sau quỳ lạy mẹ gọi là Bái Tử Long Ngày nay, giữa vùng châu ngọc Hạ Long, người ta vẫn thấy ẩn hiện một dáng rồng, đó là hòn Rồng Trong vùng Bái Tử Long có một quả núi dài nhô lên mười ngọn, chín ngọn quay về hướng Hạ Long, một ngọn quay đi hướng khác Dân gian bảo đó là mười rồng con và vẫn hát rằng:

Chín con theo mẹ ròng ròng Còn một con út dốc lòng không theo!

(Tống Khắc Hài sưu tầm và kể)

(Trích trong Ngữ văn địa phương Quảng Ninh, tập 1, Trương Quốc Trung, Trần Thuý Hạnh, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

1 Đọc, kể được sự tích trên (tóm tắt diễn biến cốt truyện)

2 Chỉ ra yếu tố kì ảo, hư cấu của truyện

3 Vì sao Trời cho rồng xuống giúp Nhân dân đánh giặc? Ý nghĩa của sự việc này là gì?

4 Tại sao đánh xong giặc, rồng không về trời nữa?

5 Giải thích ý nghĩa tên gọi Hạ Long, Bái Tử Long

1 Khá i quá t nội dung cơ bản củ a mỗ i thể loạ i: ca dao, vè, truyện cổ tích Quảng Ninh, mỗ i thể loạ i tóm lược trong khoảng 80 chữ

2 Căn cứ vào đặc điểm đị a lí , lị ch sử , giải thí ch vì sao Quảng Ninh lạ i có một kho tàng văn học dân gian phong phú về thể loạ i và chủ đề/nội dung?

1 Ngoài một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu đã học, em hãy kể tên một số thể loại văn học dân gian khác ở Quảng Ninh

2 Sưu tầm thêm một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh và phân tích được vẻ đẹp của một tác phẩm trong số đó

3 Thuyết trình về một vấn đề văn học dân gian mà em tâm đắc

LuYỆN tẬP

VẬN DụNG

Trang 17

dI TÍCH, DI SẢN, DANH THẮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

MỞ ĐẦu

Trình bày khái quát được các di tích lịch sử, di sản văn hoá, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt).

Giới thiệu được một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu.

Giới thiệu được một số di sản thiên nhiên, di sản phức hợp Giới thiệu được một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu.

Mục tiêu

Em biết những di tích, di sản, danh thắng nào trên địa bản tỉnh Quảng Ninh? Hãy chia

sẻ những hiểu biết của em về những di tích, di sản, danh thắng đó với các bạn

1 Một số di sản vật thể tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông bắc của Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh; phía tây bắc và bắc kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả, đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía đông và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ; phía tây nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng).

Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mĩ đặc biệt, ngày 12-8-2009, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng vịnh Hạ Long là Di tích quốc gia đặc biệt Ngày 17-12-1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ nhất là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí về vẻ đẹp cảnh quan và ngày 02-12-2000 công nhận lần thứ hai với tiêu chí về giá trị địa chất – địa mạo

Trang 19

1.2 Di tích khảo cổ

Di chỉ khảo cổ huyện Cô Tô

Các nhà khảo cổ thuộc Viện khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một di chỉ khảo cổ tại bãi cát lớn trên con đường từ thị trấn Cô Tô đến xã Ðồng Tiến, huyện đảo Cô Tô Trên bề mặt di chỉ, bước đầu, các nhà khảo cổ phát hiện một số hiện vật như Hòn kê (hòn đá có lỗ vũm trên một hoặc hai mặt) và bàn mài rãnh, đây là dấu hiệu cho thấy có thể huyện đảo Cô

Tô là một trong những địa điểm cư trú của chủ nhân thuộc văn hoá Hạ Long (có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 năm)

Di chỉ khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên

Di tích Khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên nằm trên dãy núi Hòn Hai có địa hình rất phức tạp, phân bố trên diện tích hơn 10.000m2 nằm ở phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long.Các nhà khoa học đã tìm thấy những hiện vật thuộc giai đoạn muộn của văn hoá

Hạ Long (hậu kì đá mới) có niên đại gần 4000 năm cách ngày nay như: bàn mài rãnh hình chữ U, rìu, bôn có vai, rìu bôn có vai có nấc, gốm xốp có xương pha vụn nhuyễn thể với kĩ thuật chế tác cao mang đậm văn hoá biển đặc trưng nhất của người Hạ Long

cổ xưa

Rừng ngập mặn Đồng Rui được biết đến như lá phổi xanh bảo vệ môi trường, phòng chống gió bão, triều cường và giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội của địa phương

hình 3.3 Rừng ngập mặn Đồng Rui.

Trang 20

1.3 Di tích lịch sử

Di tích lịch sử Bạch Đằng

Khu di tích lịch sử Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các nguyên gốc di tích, những bằng chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288

Di tích Bạch Đằng trải rộng trên

phạm vi 380ha, bên dòng sông Bạch

Đằng, sông Chanh, sông Rút thuộc địa

phận thị xã Quảng Yên và thành phố

Uông Bí gồm 11 điểm di tích: Bãi cọc

Yên Giang, Bãi cọc Đồng Vạn Muối,

Bãi cọc Đồng Má Ngựa, Bến đò

Rừng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua

Bà, đình Yên Giang, đình Trung Bản,

đền Trung Cốc thuộc thị xã Quảng

Yên và đình Đền Công, miếu Cu Linh

thuộc khu Đền Công 1, phường Trưng

Vương, thành phố Uông Bí hình 3.4 Bãi cọc Yên Giang, thị xã Quảng Yên

hình 3.5 Đền Cửa Ông.

Di tích lịch sử đền Cửa Ông

Đền Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả và Đền Cặp Tiên thuộc xã Đông Xá, huyện Vân Đồn Theo sử sách ghi chép, có thể khẳng định đền Cửa Ông được khởi dựng, tồn tại qua hơn 100 năm Đền Cửa Ông là một quần thể các công trình tín ngưỡng đa dạng gồm đền, chùa, lăng, phủ thờ Mẫu Trong đó đền Thượng thờ Đức Ông Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, gia quyến, cận thần của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Di tích lịch sử đền Cửa Ông đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2017

Trang 21

Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô

Nằm ở trung tâm thị trấn Cô Tô, khu di tích lịch sử Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô bao gồm các hạng mục: Tượng đài Bác Hồ, đền thờ Bác Hồ, Dốc Khoai, ao cá, Nhà lưu niệm

và cánh đồng muối

Vào ngày 9-5-1961, Bác Hồ ra thăm đảo Cô Tô Tháng 1-1962, khi Bác trở lại thăm vùng Đông Bắc, thể theo nguyện vọng của Nhân dân tỉnh nhà, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Uỷ ban Hành chính tỉnh Hải Ninh khi ấy đã xin phép Bác cho dựng tượng Người trên đảo Cô Tô và được Bác đồng ý Điều đặc biệt, Cô Tô

là nơi đầu tiên và duy nhất được Bác Hồ cho phép dựng tượng khi Người còn sống

1.4 Di tích kiến trúc nghệ thuật

Cụm Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đình Quan Lạn

Công trình kiến trúc tiêu biểu đình Quan Lạn nằm ngay trên bến tàu thuyền thuộc trung tâm xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn Đình được xây dựng theo kiểu hình chữ Công bao gồm gian bái đường, gian ống muống (nối giữa bái đường với hậu cung) và gian hậu cung Mái đình lợp bằng ngói vẩy; trên nóc mái có đắp trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt; các đầu đao uốn cong

hình 3.7 Đình và nghè Quan Lạn.

Trang 22

Đình Trà Cổ

Theo hồ sơ khoa học xếp hạng của di tích, Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê (năm 1461) Năm 1974, đình Trà Cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia

hình 3.8 Đình Trà Cổ, khu nam Thọ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái

Chùa Yên Tử gắn liền

với tên tuổi Phật hoàng Trần

Nhân Tông (1258-1308) dài

gần 20 km theo tuyến đường

từ Dốc Đỏ (chùa Bí Thượng)

đến đỉnh núi Yên Tử (chùa

Đồng), thuộc địa bàn phường

Phương Đông, xã Thượng

Yên Công, thành phố Uông

Trang 23

Khu di tích lịch sử và thắng cảnh núi Bài Thơ

Núi Bài Thơ nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long Núi Bài Thơ là nơi ghi lại dấu ấn lịch sử, là biểu tượng của thành phố Hạ Long, được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử, thắng cảnh vào năm 1992

hình 3.10 Đỉnh núi Bài Thơ và cảnh thành phố hạ Long.

hình 3.11 Rước kiệu tại Lễ hội Tiên Công, thị xã Quảng Yên.

1 Hãy giới thiệu một số di sản văn hoá vật thể tiêu biểu ở Quảng Ninh và địa phương em

2 Nếu được chọn một di tích, danh thắng để đưa bạn bè tỉnh khác đi tham quan, em

sẽ chọn địa điểm nào? vì sao?

2 Một số di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh

2.1 Lễ hội Tiên Công

Là nơi quần tụ của các điểm di tích thuộc nhiều loại hình như lịch sử, danh lam thắng cảnh, núi Bài Thơ mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá, thẩm mĩ của nhiều di tích nổi tiếng như: chùa Long Tiên, đền Đức Ông Trần Quốc Nghĩa, Trung tâm Bưu điện Quảng Ninh; Trận địa 12 ly 7; Hang thị đội Hồng Gai; Các hang phòng không sơ tán

Trang 24

Là một trong những lễ hội văn hoá truyền thống lớn nhất trong năm của thị xã Quảng Yên Theo các tư liệu, từ thời Lý - Trần, đầu thế kỉ XV, khoảng từ năm 1434 đến 1500, có 6 nhóm Tiên Công (trong đó có 17 vị Tiên Công) và dân cư đến quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai, lập làng, tạo nên khu đảo Hà Nam Để tưởng nhớ công

ơn các vị Tiên Công, người dân xã Phong Lưu đã lập miếu thờ thập thất Tiên Công ở thôn Cẩm La để tuần rằm lễ tiết, tứ thời phụng thờ

Lễ hội ra đời khoảng cuối thế kỉ XVII (từ 1650-1690) Lễ hội Tiên Công có nhiều nghi lễ rất độc đáo như: nghi lễ chạp tổ, ra cỗ họ, nghi lễ dẫn thọ, rước thọ, Đặc sắc nhất là nghi lễ rước thọ được tổ chức vào ngày chính hội mùng 7 tháng Giêng Vào ngày này, những gia đình có cha mẹ thượng thọ có điều kiện sẽ cùng dòng họ và làng xóm tổ chức đoàn rước đưa “cụ Thượng” về miếu Tiên Công lễ Tổ

2.2 Thực hành Then của người Tày huyện Bình Liêu

Hát Then – tiếng Tày gọi là “xướng Then”, là tín ngưỡng văn hoá lâu đời của người Tày Diễn xướng nghi lễ Then của người Tày huyện Bình Liêu có ba hình thức chính là: Cấp sắc Then; hỉ phúc, vàn phúc; “so booc” (cầu hoa, cầu có con nối dõi tông đường) Then có nhiều làn điệu phục vụ các nghi lễ cúng tế, nội dung diễn tả con đường Then đưa binh mã đi qua ba tầng trời để làm lễ

Bài hát then miêu tả cảnh trẩy hội xuân nên duyên chồng vợ được nghệ nhân Đặng Sàu dịch nghĩa như sau: “Ngày xuân hoa thắm nở bốn phương/ Hoa đào nở hương thơm ong đến/ Được gặp em trò chuyện ngày xuân/ Lòng anh cứ lâng lâng khó tả/ Người người vui rộn rã hỏi thăm/ Lễ hội đình hàng năm tổ chức/ Cầu toàn dân hạnh phúc ấm no/ Giờ đình đã xây to vững chắc/ Tướng Hoàng Cần đánh giặc giúp dân/ Bài hát then mùa xuân còn vang mãi/ Ghi công lao để lại cháu con/ Cao Xiêm - núi Thái Sơn hùng vĩ/ Đình Lục Nà yêu quý đất thiêng/ Ngày mười sáu tháng Giêng khai hội/ Rợp cờ hoa phấp phới niềm vui/ Anh với em cùng chơi hát múa/ Sánh men say chan chứa yêu thương/ Thầm gửi trao vấn vương ý tình/ Tình đôi ta giản dị chờ mong/ Ra Giêng lễ tơ hồng mang đến/ Cho thỏa ước nguyện cùng nhau/ Nồng thắm như trầu cau mãi mãi”

Lời hát then là thể thơ thất ngôn, chữ thứ 5 của câu sau vần với chữ thứ 7 câu trước, vốn là những câu chữ được dân gian chắt lọc, gọt giũa, vừa là những câu thơ trữ tình, giàu nhạc điệu, vừa là lời khuyên răn, khích lệ, vừa là những kinh nghiệm về đối nhân

xử thế Cho nên khi lắng nghe những lời hát then sẽ chắt lọc được những bài học quý

về cuộc sống, về cách ứng xử với thiên nhiên và mọi người xung quanh

Trang 25

hình 3.12 Thực hành nghi lễ Then tại cộng đồng người Tày ở Bình Liêu.

2.3 Hội làng Bằng Cả của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả, thành phố Hạ Long

Bên cạnh lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, Hội làng là lễ hội lớn nhất trong năm của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả, thành phố Hạ Long Hội làng người Dao Thanh Y xã Bằng Cả là

lễ hội lâu đời, gắn liền với sự phát triển của cộng đồng người Dao từ trên 300 năm trước

Từ trang phục, vật phẩm cúng lễ cho tới các nghi lễ trong lễ hội đều được đồng bào tiếp nối, phát huy giá trị

hình 3.13 Một cảnh trong lễ cấp sắc của đồng bào Dao Thanh Y.

Trang 26

2 Hãy tìm hiểu và phân biệt điểm giống và khác nhau giữa di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.

3 Hãy tìm và hát một bài hát Then mà em thích

1 Tham gia các hoạt động trải nghiệm tại khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh/

di sản văn hoá phi vật thể địa phương mà em biết:

– Tìm hiểu về các giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của di tích, di sản

– Thực hiện dự án/sản phẩm học tập (bằng video quay trực tiếp, video dựng bằng hình ảnh chụp có lồng tiếng thuyết minh, bài viết hoặc các sản phẩm khác…) giới thiệu giá trị của di sản văn hoá với du khách trong nước và quốc tế

2 Hãy thuyết trình, giới thiệu về những vấn đề em đã chuẩn bị

1 Hã y nêu tên cá c di tí ch, di sả n văn hoá, danh lam thắ ng cả nh tiêu biể u củ a Quả ng Ninh

2 Trong các di sản văn hoá phi vật thể nêu trên, em muốn được trải nghiệm loại hình nào nhất, vì sao?

3 Nếu được chọn một di sản phi vật thể để giới thiệu cho bạn bè trong nước và quốc

tế, em sẽ chọn giới thiệu di sản nào?

Trang 27

Tính đến tháng 01 năm 2021, Quảng Ninh có 632 di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh

Trong đó:

– 05 di tích xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt

– 54 di tích xếp hạng cấp quốc gia

– 85 di tích xếp hạng cấp tỉnh

– 488 di tích được kiểm kê, phân loại (chưa được xếp hạng)

Quảng Ninh hiện có 09 bảo vật quốc gia:

– Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông, niên đại thế kỉ XVII, được thờ trong tháp Huệ Quang tại Khu Di tích danh thắng Yên Tử

– Bình gốm Đầu Rằm

– Hộp vàng Ngọa Vân-Yên Tử

– Trống đồng Quảng Chính

– Thống Đồng thời Trần

– Mâm bồng gốm men vẽ nhiều màu

– Bình gốm hoa nâu Kinnari, niên đại từ thế kỉ XI – XII

– Bình gốm hoa sen, niên đại thế kỉ XI – XII

– Thạp gốm hoa nâu, niên đại thế kỉ XI – XII

Có 06 di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, gồm:

– Lễ hội truyền thống đình Trà Cổ

– Lễ hội truyền thống đình Quan Lạn

– Hát Nhà tơ

– Then nghi lễ của người Tày

– Lễ hội Tiên Công

– Lễ hội đền Cửa Ông

EM cÓ BiẾt

Trang 28

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC DI TÍCH, DI SẢN, DANH THẮNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI

CỦA TỈNH QUẢNG NINH

đã làm mất đi nét chân thực, tính độc đáo vốn có của di sản

Do đó, công tác gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá là điều kiện tiên quyết để Quảng Ninh hiện thực hoá mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, di tích gắn với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là ngành du lịch, giúp cho chiến lược xây dựng, phát triển Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế

Em hãy cho biết tỉnh Quảng Ninh đã có các hoạt động gì để bảo vệ, phát huy giá trị

di sản văn hoá của tỉnh nhà?

Giới thiệu được nguyên tắc chung trong công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Giải thích được mối quan hệ biện chứng giữa việc phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng với phát triển du lịch ̶ dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Phân tích được mối quan hệ, tác động của các di tích, di sản, danh thắng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Quảng Ninh.

Mục tiêu

MỞ ĐẦu

Trang 29

● Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản

● Huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại

di sản văn hoá

● Đào bới; xây dựng trái phép, lấn

chiếm đất

● Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; đưa

trái phép ra nước ngoài

● Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản để thực hiện những hành vi trái pháp luật

1 Nguyên tắc chung trong công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn Quảng Ninh

1.1 Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

1.2 Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá Chủ sở hữu di sản văn hoá có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

1.3. Nhà nước đầu tư công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

1.4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh

tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có

trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hoá

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1 Nêu những nguyên tắc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2 Hành vi nào bị nghiêm cấm để bảo tồn và giữ gìn các di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh?

HÌNH tHÀNH KiẾN tHỨc MỚi

Trang 30

hình 4.3 Tượng đồng Phật hoàng Trần nhân Tông tại Yên Tử.

2 Một số vấn đề về sự phát triển du lịch, dịch vụ của tỉnh Quảng Ninh

2.1 Việc phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng với phát triển du lịch – dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Hệ thống di tích lịch sử, di sản

văn hoá phong phú, được đầu tư

phục dựng bài bản, được bảo vệ,

phát huy, giống như “ngọc trong

đá” càng mài càng sáng, ngày càng

có sức thu hút lớn, góp phần tạo đà

cho du lịch Quảng Ninh phát triển

Giai đoạn 2015-2020, tốc độ tăng

trưởng của ngành du lịch Quảng

Ninh tăng trung bình 12–15%

mỗi năm, tăng đến 30–50% so với

thời điểm năm 2015

Yên Tử là một thành công điển hình trong việc chung tay bảo vệ, tôn tạo, phát huy giá trị của di tích để di tích trở thành điểm du lịch trọng yếu của tỉnh 10 năm qua (từ năm 2010-2020) gần 3.000 tỉ đồng đã được đầu tư cho hạ tầng kĩ thuật, dịch vụ và các điểm di tích Yên Tử đón trung bình 2 triệu lượt khách mỗi năm, ở cả 4 mùa trong năm thay vì chỉ một mùa lễ hội, chiếm đến 60% tổng lượng du khách thuộc loại hình du lịch tâm linh tại Quảng Ninh

Hệ thống di tích lịch sử, di sản văn hoá có đóng góp như thế nào vào sự phát triển các ngành kinh tế Quảng Ninh?

Trang 31

hình 4.4 Tiết mục của huyện Bình Liêu trong ngày hội văn hoá các dân tộc Quảng ninh 2020.

2.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển di sản văn hoá mang bản sắc của Quảng Ninh gắn với phát triển kinh tế ̶ xã hội

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo tồn di sản văn hoá trong phát triển kinh tế – xã hội, Năm 2018, tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt đề án “Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, đặt ra mục tiêu chung là “giữ gìn và phát huy bền vững bản sắc văn hoá; các giá trị di sản thiên nhiên, di sản văn hoá ” và đề ra 07 nhóm giải pháp, đó là:

(1) Nghiên cứu để phát huy các giá trị đặc sắc về văn hoá các dân tộc, văn hoá biển đảo, văn hoá công nhân vùng mỏ, sự giao thoa với nền văn minh sông Hồng trong hình thành văn hoá và con người Quảng Ninh nhằm khắc sâu, nhân rộng những truyền thống văn hoá tốt đẹp, để những giá trị đặc sắc đó trở thành nguồn lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển

(2) Bảo tồn và phát huy tốt giá trị các di tích lịch sử văn hoá Bảo tồn, khôi phục làng nghề truyền thống, đặc biệt là di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc đang có nguy cơ mai một Khuyến khích các hoạt động sản xuất, quảng bá các loại hình văn hoá phi vật thể, thể hiện được đặc trưng riêng có của tỉnh Quảng Ninh

(3) Rà soát, kiểm tra, đánh giá các lễ hội trong toàn tỉnh, từ đó chọn lọc để thổi hồn, khắc sâu, nâng tầm các giá trị tiêu biểu của các lễ hội, đảm bảo giữ gìn các giá trị nhân văn mang đậm bản sắc văn hoá riêng có của Quảng Ninh Xây dựng, quy hoạch lễ hội toàn tỉnh trên

cơ sở kế thừa, kết nối các lễ hội truyền thống

(4) Xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật Quảng Ninh phong phú, đa dạng, đậm

đà bản sắc, kết hợp truyền thống với hiện đại

Trang 32

(5) Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác, biểu diễn để lớp trẻ kế cận Tập hợp, động viên, bồi dưỡng, tạo cơ hội và điều kiện để khích lệ đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo, cho ra đời các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tư tưởng cao, phản ánh thực tiễn của cuộc sống, nâng tầm văn hoá truyền thống.

(6) Mở rộng không gian văn hoá, tăng cường kết nối giao lưu, tiếp thu tinh hoa tiên tiến của thế giới và khu vực để quảng bá văn hoá Quảng Ninh ra thế giới, nhất là đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ kết nghĩa, hợp tác trên các lĩnh vực với tỉnh Quảng Ninh.(7) Xây dựng cơ chế và chính sách đặc thù phục vụ cho nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hoá

Chọn một vấn đề trong các giải pháp nêu trên mà em quan tâm để phân tích, đưa ra

đề xuất về việc bảo tồn và phát triển văn hoá mang bản sắc của Quảng Ninh gắn với phát triển du lịch, dịch vụ

1 Lập bảng phân tích mối quan hệ tác động giữa việc phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng với phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo gợi ý sau

LuYỆN tẬP

hình 4.5 hội diễn văn nghệ quần chúng ngành Than.

Phát huy giá trị các di tích, di sản Phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội

Đầu tư bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử,

di sản văn hoá, làng nghề

Trang 33

Phát huy giá trị các di tích, di sản Phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội

Nâng tầm các giá trị tiêu biểu của các lễ hội

mang đậm bản sắc riêng có của Quảng Ninh.

Mở rộng không gian văn hoá, tăng cường

kết nối giao lưu, tiếp thu tinh hoa tiên tiến của

thế giới và khu vực.

1 Qua việc tìm hiểu thực trạng, em hãy chỉ ra những hạn chế trong công tác bảo tồn

và phát huy giá trị một di tích, di sản, danh thắng ở Quảng Ninh

2 Theo em, chúng ta cần làm gì để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, di sản, danh thắng ở Quảng Ninh?

VẬN DụNG

2 Hãy đề xuất một số nội dung để vừa phát huy giá trị di tích, di sản văn hoá ở địa phương em vừa phát triển kinh tế, văn hoá xã hội

Trang 34

CÁC DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH QUẢNG NINH

1 Ở xã, phường em đang sống có những thành phần dân tộc nào?

2 Em có biết huyện nào của Quảng Ninh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cư trú?

1 Các thành phần dân tộc, địa bàn phân bố cư trú

a) Các thành phần dân tộc

Quảng Ninh có 43 thành phần dân tộc chung sống Trong đó:

– Dân tộc Kinh có 1.157.793 người;

– Dân tộc Dao có 73.589 người;

– Dân tộc Tày có 40.700 người;

– Dân tộc Sán Dìu có 20.668 người;

– Dân tộc Sán Chay (gồm Cao Lan và Sán Chỉ) có 16.346 người;

– Dân tộc Hoa có 4.514 người

(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019)

Các thành phần dân tộc thiểu số khác: Nùng, Mường, Thái, Khơ-me, Mông, Thổ, Giáy, Jrai, Ngái, Êđê, Xơ-đăng, Cơ-ho, Chăm, Hrê, Mnông, Ra-glai, Bru-Vân Kiều, Gié-Triêng, Khơ-mú, Co, Tà-ôi, Chơ-ro, Kháng, Xinh-mun, Hà Nhì, Lào, La Chí, La Ha, Phù Lá,

La Hủ, Lự, Lô Lô, Pà Thẻn, Cờ Lao, Cống, Bố Y, Pu Péo

b) Địa bàn phân bố cư trú

Dân tộc Kinh ở Quảng Ninh cư trú chủ yếu ở các thành phố, thị xã và các huyện ven biển

Trang 35

Các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh phân bố, cư trú ở các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Huyện Bình Liêu có tỉ lệ dân tộc thiểu số chiếm 95,8% dân số toàn huyện; huyện Ba Chẽ

có tỉ lệ dân tộc thiểu số chiếm 79,8%; huyện Tiên Yên có tỉ lệ dân tộc thiểu số chiếm 47,2% Các dân tộc thiểu số còn cư trú đông ở các huyện: Bắc thành phố Hạ Long, Đầm Hà, Hải

Hà, Cẩm Phả, Vân Đồn

Trong các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh, có 5 thành phần dân tộc là dân tộc Dao, dân tộc Tày, dân tộc Sán Dìu, dân tộc Sán Chay (Cao Lan và Sán Chỉ), dân tộc Hoa sống tập trung thành cộng đồng làng, bản

1 Nêu tên 6 thành phần dân tộc có dân số lớn ở Quảng Ninh

2 Kể tên 3 huyện, thị xã có tỉ lệ người dân là dân tộc thiểu số lớn nhất ở Quảng Ninh

3 Dân tộc thiểu số nào có tập quán sống thành làng, bản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh?

2 Các dân tộc có ngôn ngữ, chữ viết riêng

Người dân tộc Kinh ở Quảng Ninh sử dụng ngôn ngữ phổ thông và chữ quốc ngữ như người Kinh ở các tỉnh, thành khác của nước ta Trước thời kì sử dụng chữ quốc ngữ, người Kinh ở Quảng Ninh cũng sử dụng chữ Nôm

Các dân tộc: Dao (Dao Thanh Y và Dao Thanh Phán), Tày, Sán Dìu, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chỉ) ở Quảng Ninh có lịch sử tồn tại lâu đời trên đất Quảng Ninh Đây cũng là các dân tộc có tiếng nói riêng, đó là tiếng Dao (Dao Thanh Y và Dao Thanh Phán), tiếng Tày, tiếng Sán Dìu, tiếng Sán Chay (Cao Lan, Sán Chỉ), được sử dụng giao tiếp trong đời sống sinh hoạt hằng ngày Các dân tộc này dựa vào chữ Hán cũng đã tạo ra chữ viết cho dân tộc mình,

đó là chữ Nôm Tày, Nôm Sán Dìu, Nôm Dao, Nôm Cao Lan Chữ viết của các dân tộc nêu trên thường thấy trên các cuốn sách cúng, sách hát, sách truyền thuyết, sách lịch sử hay sách ghi chép truyện cổ, thơ, Những cuốn sách đó thường được lưu giữ bởi những người làm thầy cúng, trưởng bản Đây cũng là loại chữ thường được dùng trong các dịp lễ tết, cúng bái, nghi thức quan trọng

Người Dao, Tày, Sán Dìu, Cao Lan

bên cạnh việc dựa vào chữ Hán để tạo

chữ Nôm, còn dựa vào chữ cái La-tinh để

tạo chữ viết ghi âm tiếng nói của mình

Cách sử dụng chữ viết này phổ biến hơn

vì dễ nhớ, dễ viết, dễ đọc và dễ hiểu Đồng

bào các dân tộc đã dùng chữ này để ghi

lại những bài ca dao, dân ca, bài hát, viết

thư, và các nhu cầu giao tiếp khác

Trang 36

Tuy nhiên, hiện nay, việc dùng chữ Nôm và chữ viết dựa vào chữ cái La-tinh rất ít Chủ yếu đồng bào các dân tộc thiểu số thường dùng chữ quốc ngữ như người Kinh

Việc dạy, học tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số phần lớn qua truyền miệng trong gia đình và cộng đồng

1 Những dân tộc thiểu số nào ở Quảng Ninh có ngôn ngữ và chữ viết riêng?

2 Hãy nêu những loại chữ viết mà các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh đã và đang sử dụng

- Lễ hội đền Cửa Ông

Lễ hội đền Cửa Ông được tổ chức tại đền Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả từ mùng 2 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch Chính hội vào ngày 2 tháng 3 âm lịch Lễ hội là dịp để người dân tưởng niệm, tỏ lòng biết ơn đối với tướng Trần Quốc Tảng

và các tướng lĩnh có công dẹp giặc, mang lại bình yên cho dân Đây là một trong những lễ hội lớn nhất tỉnh Quảng Ninh diễn ra hằng năm

- Lễ hội Bạch Đằng

Lễ hội Bạch Đằng hay còn có cách gọi

khác là Giỗ trận, được tổ chức vào ngày

8 tháng 3 âm lịch hằng năm và kéo dài

khoảng 3-4 ngày Lễ hội được tổ chức

với quy mô lớn tại các đình, đền nổi

tiếng như đền Trần Hưng Đạo, đình Yên

Giang, đình Trung Bản, miếu Vua Bà,

bãi cọc Bạch Đằng, đình Đền Công,

thuộc đất Quảng Yên, Uông Bí Lễ hội

tưởng nhớ công ơn vĩ đại của các tướng

Ngô Quyền, Lê Hoàn và Hưng Đạo Vương

Trang 37

Trần Quốc Tuấn cùng những vị anh hùng đã hi sinh trong các cuộc chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng

- Lễ hội Tiên Công

Lễ hội Tiên Công được tổ chức từ mùng 7 tháng giêng âm lịch tại vùng đảo Hà Nam thuộc thị xã Quảng Yên Lễ hội nhằm tưởng nhớ công ơn to lớn của 17 vị Tiên Công đã tạo dựng nên vùng đảo này

- Lễ hội đình Lục Nà

Lễ hội được tổ chức vào ngày 16 – 17 tháng giêng hằng năm Đình Lục Nà thuộc thôn Bản Cáu, xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu Đình thờ thành hoàng làng Hoàng Cần – một tướng quân, một người anh hùng đã có công đánh giặc phương Bắc Lễ hội bao gồm hai phần lễ

và hội Phần lễ là rước sắc phong, bài vị thành hoàng làng đi một vòng quanh Bản Cáu, lễ dâng hương, tế thần… Phần hội bao gồm các trò chơi dân gian Lễ hội đình Lục Nà chính

là một dịp tôn vinh những người anh hùng đã bảo vệ đất nước quê hương cũng như gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống

b) Trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian cũng là những hoạt

động truyền thống nổi tiếng tại Quảng

Ninh Các trò chơi dân gian thường

được tổ chức trong các dịp lễ hội, đặc

biệt là vào đầu xuân năm mới Có thể

kể đến các trò chơi dân gian như: đánh

đu, tổ tôm điếm, bịt mắt đập niêu,

bịt mắt bắt vịt, cờ người, chọi gà, nhảy

bao bố, múa sạp truyền thống, cướp cờ,

cõng bạn thổi bóng Mỗi trò chơi có

những nét đặc sắc và thú vị riêng, thu

hút đông đảo người tham dự

Trò chơi dân gian là một phần không thể thiếu trong mỗi lễ hội Các trò chơi này là dịp

để mọi người đến lễ hội được giao lưu, chia sẻ, tìm đến với những niềm vui trong cuộc sống, cũng như tăng cường sự gắn kết cộng đồng, cùng nhau đoàn kết xây dựng quê hương Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp hơn

c) Các môn thể thao dân tộc

Giống như các trò chơi dân gian, các môn thể thao dân tộc truyền thống thường được

tổ chức gắn với chương trình của các lễ hội hằng năm Có thể kể đến một số môn thể thao

Trang 38

truyền thống như: đẩy gậy, bắn nỏ, kéo co, đua thuyền, đi cà kheo, Các môn thể thao ngoài việc rèn luyện sức khoẻ còn mang những ý nghĩa văn hoá khác Chẳng hạn, đánh cầu chinh, đánh quay, đi cà kheo, ném còn là để duy trì văn hoá truyền thống của người Sán Chỉ; đua thuyền chải truyền thống giữa hai giáp Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ là nghi thức tôn vinh chiến thắng ở Vân Đồn chống giặc Nguyên Mông của quân dân nhà Trần năm 1288.

Chọn một hoạt động truyền thống ở Quảng Ninh, sưu tầm các hình ảnh, dữ liệu về đặc trưng, nội dung, giá trị kinh tế, của hoạt động truyền thống đó và thuyết trình trước lớp

4 Tinh thần đại đoàn kết trong quá trình đấu tranh, gìn giữ và xây dựng đất nước

Là một tỉnh giáp biên giới, từ xưa đến nay, Quảng Ninh luôn là địa danh gắn với nhiều

sự kiện lớn của đất nước Trải qua nhiều thời kì lịch sử, quân và dân Quảng Ninh đã luôn sát cánh cùng quân và dân cả nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nên nhiều thành tựu, chiến công lớn, giữ vững vị trí tuyến đầu phòng thủ cho đất nước Có được những thành tựu và chiến công đó là nhờ Nhân dân Quảng Ninh luôn phát huy tinh thần đại đoàn kết trong quá trình đấu tranh, gìn giữ và xây dựng đất nước

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Quảng Ninh đã phát huy mạnh mẽ truyền thống “Kỉ luật và đồng tâm” của những người thợ mỏ năm xưa mà khởi đầu của truyền thống đó là từ cuộc tổng bãi công của hơn ba vạn thợ mỏ vùng than Quảng Ninh tháng 11-1936 chống lại chủ mỏ – thực dân Pháp Thành công của cuộc tổng bãi công đó đã cho người Quảng Ninh một bài học vô cùng quý báu về tính kỉ luật, về tinh thần tương thân tương ái, tinh thần đoàn kết trong cuộc đấu tranh cách mạng Kể từ đó cho đến ngày nay, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, “Kỉ luật và đồng tâm” đã luôn là chiến lược đoàn kết của người Quảng Ninh, trở thành yếu tố chủ lực tạo nên những thắng lợi lớn của Quảng Ninh ở mỗi giai đoạn cách mạng Cụ thể là:

Trong những năm bị đế quốc, thực dân phong kiến thống trị và đàn áp, Nhân dân Quảng Ninh đã đấu tranh chống lại chế độ hà khắc của kẻ thù bằng nhiều hình thức thích hợp từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế tiến lên đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh vũ trang, góp phần cùng nhân dân cả nước giành lại quyền sống và độc lập tự do cho Tổ quốc trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các tầng lớp Nhân dân Quảng Ninh đã đoàn kết vừa kháng chiến vừa xây dựng cuộc sống mới Sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954

về Đông Dương được kí kết, thực dân Pháp buộc phải rút quân, hoà bình được lập lại trên quê hương Quảng Ninh

Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nhân dân Quảng Ninh đã tham gia xây dựng

và phát triển các lực lượng vũ trang, ổn định đời sống và sản xuất, khắc phục thiên tai và địch hoạ

Trang 39

Các tầng lớp nông dân, công nhân, trí thức, đoàn kết một lòng, phát huy mọi khả năng cống hiến cho sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước; giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Trong thời kì đổi mới, Nhân dân Quảng Ninh đã tập hợp và phát huy được mọi khả năng của các lực lượng xã hội để phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, làm nên những kì tích trong công cuộc đổi mới, phát triển mạnh công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp và đặc biệt

là thế mạnh du lịch

Bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhân dân Quảng Ninh tiếp tục tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Điều đó đã góp phần tích cực vào quá trình đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền Nhân dân, chống mọi hoạt động chia rẽ, kích động của các thế lực thù địch

Hãy kể một câu chuyện về tình đoàn kết của người Quảng Ninh trong đời sống, lao động, sản xuất mà em biết

1 Điền vào lược đồ tỉnh Quảng Ninh những thành phố, thị xã và huyện có đông người Kinh sinh sống, ghi vào lược đồ những huyện có người dân tộc thiểu số sinh sống chiếm từ 47% trở lên (giáo viên chuẩn bị lược đồ trống)

2 Mô tả cụ thể về một lễ hội ở Quảng Ninh Nêu rõ lễ hội đó thường được tổ chức khi nào, ở đâu, mục đích của lễ hội, chương trình lễ hội bao gồm những phần nào, ý nghĩa của

Trang 40

Xây dựng được kế hoạch để giới thiệu Khu di tích – danh thắng Yên Tử.

Đề xuất một số giải pháp cho việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị của Khu di tích – danh thắng Yên Tử.

Phương tiện học tập, đồ dùng

cá nhân cần thiết Tìm hiểu trước

về địa điểm trải nghiệm.

Lựa chọn dụng cụ.

?

Tìm hiểu giá trị Khu di tích - danh thắng Yên Tử.

Ngày đăng: 07/09/2023, 14:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w