1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Bệnh Viêm Tử Cung Trên Heo Nái Sinh Sản Tại Trại Heo Giống Minh Phong Và Hiệu Quả Của Phác Đồ Điều Trị Bệnh..pdf

60 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bệnh Viêm Tử Cung Trên Heo Nái Sinh Sản Tại Trại Heo Giống Minh Phong Và Hiệu Quả Của Phác Đồ Điều Trị Bệnh
Tác giả Phạm Văn Toàn
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Hữu Hòa
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 MỞ ĐẦU (10)
    • 1.1. Đặt vấn đề (10)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (11)
      • 1.2.1. Mục tiêu (11)
      • 1.2.2. Yêu cầu của đề tài (11)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (12)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (12)
      • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn (12)
  • Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (13)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (13)
      • 2.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại (14)
      • 2.1.3. Hoạt động sản xuất của trang trại (15)
      • 2.1.4. Thuận lợi và khó khăn (16)
    • 2.2. Tổng quan nghiên cứu (17)
      • 2.2.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu của đề tài (17)
      • 2.2.2. Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái (22)
    • 2.3. Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới và ở Việt Nam (28)
      • 2.3.1. Trên thế giới (28)
      • 2.3.2 Tại Việt Nam (29)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (31)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (31)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (31)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (31)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi (31)
      • 3.3.1. Nội dung nghiên cứu (31)
      • 3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi (31)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi (32)
      • 3.4.1. Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin (32)
      • 3.4.2 Phương pháp điều trị (32)
      • 3.4.3. Một số công thức tính toán các chỉ tiêu theo dõi (33)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (33)
  • Phần 4. KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (36)
    • 4.1 Công tác phục vụ sản xuất (36)
      • 4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng (36)
      • 4.1.2. Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh (41)
      • 4.1.3. Công tác khác (44)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu (46)
      • 4.2.1. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại (46)
      • 4.2.2. Mức độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái (46)
      • 4.2.3. Tỷ lệ và mức độ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản theo lứa đẻ (48)
      • 4.2.4. Tỷ lệ và mức độ mắc viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm (50)
      • 4.2.5. Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bình thường và lợn bị viêm tử cung (52)
      • 4.2.6. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản (54)
      • 4.2.7. Ảnh hưởng của hai phác đồ điều trị bệnh đến một số chỉ tiêu động dục trở lại ở nái (55)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (57)
    • 5.1. Kết luận (57)
    • 5.2. Đề nghị (57)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đàn lợn nái đang trong quá trình sinh sản ở trại

- Bệnh viêm tử cung trên lợn nái của trại nái Minh Phong.

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Tại trại lợn Minh Phong của ông Đặng Chi Chiến, thôn Đồng Sài, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

- Đánh giá tỷ lệ mắc, mức độ nghiệm trọng, triệu chứng biểu hiện và đánh giá kết quả điều trị

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại

- Triệu chứng của lợn khi mắc viêm tử cung

Kết quả điều trị lợn nái bị viêm tử cung theo hai phác đồ điều trị cho thấy thời gian hồi phục, tỷ lệ thụ thai và tỷ lệ động dục trở lại có sự khác biệt rõ rệt Phác đồ điều trị hiệu quả giúp cải thiện nhanh chóng sức khỏe của lợn nái, tăng cường khả năng sinh sản và rút ngắn thời gian hồi phục sau điều trị Việc lựa chọn phác đồ phù hợp là yếu tố quyết định đến thành công trong việc điều trị viêm tử cung ở lợn nái.

- Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung qua từng lứa đẻ

- Tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung theo từng giai đoạn

- Xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái

- Sự thay đổi triệu chứng cục bộ và toàn thân ở lợn nái mắc bệnh viêm tử cung.

Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin

Để xác định tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung, cần thực hiện việc theo dõi thông qua sổ sách ghi chép của cán bộ kỹ thuật tại trang trại, thu thập thông tin từ công nhân làm việc tại đây, cùng với việc theo dõi trực tiếp tình trạng sức khỏe của lợn nái.

Để xác định các biểu hiện lâm sàng của lợn nái, cần chú ý đến thân nhiệt, hô hấp, màu sắc dịch viêm, mức độ thu nhận thức ăn và khả năng tiết sữa Tôi đã áp dụng phương pháp đo đếm thường quy nhiều lần hoặc quan sát tại một thời điểm nhất định để lấy số liệu bình quân.

Lợn nái mắc bệnh được chia làm hai lô điều trị theo phác đồ của bảng 3.1:

Bảng 3.1 Phác đồ điều trị cho lô thí nghiệm lợn nái

Diễn giải Phác đồ 1 Phác đồ 2

Loại lợn Nái ngại Nái ngoại

Thời gian điều trị 3 – 5 ngày 3 – 5 ngày

Phác đồ điều trị -Vetrimoxin LA

1ml/10kg TT/ lần/ ngày, tiêm bắp

-Alnagin 50, 1ml/15-20kg TT/ lần/ ngày, tiêm bắp

- Oxytoxin, tiêm bắp, 2ml/con/lần/ ngày

- Catosal®, 1ml/10-15kg TT/ lần/ngày, tiêm bắp

- Povidon iod 10%, tỷ lệ 1/100 thụt rửa

-Pendistrep LA 1ml/10kgTT/lần/ ngày, tiêm bắp

- Alnagin 50, 1ml/15-20kg TT/ lần/ ngày, tiêm bắp

- Oxitoxin, tiêm bắp, 2ml/con/lần/ ngày

- Catosal®, 1ml/10-15kg TT/ lần/ngày, tiêm bắp

- Thuốc tím (KMnO4 ), tỷ lệ 10/1000, thụt rửa

3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ và mức độ mắc bệnh

- Tỷ lệ mức độ mắc bệnh (%) = 𝑆ố 𝑙ợ𝑛 𝑏ị 𝑚ắ𝑐 ở 𝑚ứ𝑐 độ (1+)(2+)(3+)

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙ợ𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 x 100 Bệnh viêm tử cung được chia ra làm 3 mức độ, thể hiện mức độ nghiệm trọng của bệnh dựa vào triệu chứng điển hình:

Viêm tử cung ở lợn mẹ có mức độ nhẹ (1+) thường xảy ra sau khi lợn đẻ từ 12 đến 72 giờ, với triệu chứng thân nhiệt tăng nhẹ từ 39-39,5 độ C Lợn có biểu hiện ăn kém, bộ phận sinh dục bên ngoài phù thũng và có dịch màu trắng đục chảy ra kèm theo mùi hôi.

Mức độ trung bình (2+) của viêm tử cung đặc trưng bởi sự xuất hiện của mủ trong tử cung và niêm mạc tử cung bị hoại tử Con vật thường có triệu chứng sốt cao từ 40-40,5 độ C, ăn ít hoặc bỏ ăn, và cảm thấy đau đớn khó chịu Ngoài ra, bộ phận sinh dục bên ngoài có dấu hiệu sung huyết, kèm theo dịch âm đạo chảy ra có dạng vón cục giống bã đậu và có mùi thối khó chịu Tình trạng này thường xảy ra sau 4-5 ngày sau khi đẻ.

Viêm tử cung ở mức độ nặng (3+) thường biểu hiện qua tình trạng viêm cata lẫn mủ, viêm sinh mủ, và sự xâm nhập của vi khuẩn Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất dẫn đến phân hủy, gây sốt cao cho con vật, có thể lên đến 42°C Dịch âm đạo chảy ra có mùi thối khắm, kèm theo dịch viêm có lẫn máu, với màu sắc giống như máu cá.

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả số liệu được theo dõi và xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học thông qua phần mềm Excel, với các tham số thống kê được ghi chép cẩn thận.

- Sai số của số trung bình:

- Hệ số biến dị :Cv (%)

Để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn con ngay từ khi còn trong bụng mẹ, các trang trại cần thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm vaccine cho từng giai đoạn phát triển của lợn, đặc biệt là lợn nái Việc này giúp ngăn ngừa sự lây truyền bệnh từ mẹ sang con trong quá trình mang thai, từ đó bảo vệ sức khỏe và khả năng sản xuất của đàn lợn Lịch phòng bệnh cho lợn nái được trình bày chi tiết trong bảng 3.2.

Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn nái tại cơ sở

Loại lợn Tuần tuổi vaccine Đường đưa thuốc

Liều lượng (ml/con) Phòng bệnh

23 tuần CircoShild Tiêm 2 ml Circo ( PCV2)

24 tuần Ingelvac Tiêm 2 ml Tai xanh lần 1

25 tuần Farrowsure B Tiêm 1 ml Khô thai lần 1

26 tuần Vetvaco Tiêm 1 ml Dịch tả

27 tuần AuJetkey Tiêm 1 ml Giả dại ( AD)

28 tuần Aflogen Tiêm 2 ml LMLM ( FMD)

29 tuần Farrowsure B 1 ml Khô thai lần 2

10 tuần Vetvaco Tiêm 1 ml Dịc tả ( CFS)

12 tuần Aflogen Tiêm 2 ml LMLM ( FMD)

15 tuần Dufamec Tiêm 1ml/ 33 kg

14 ngày sau đẻ Farrowsure B Tiêm 1 ml Khô thai

KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Công tác phục vụ sản xuất

4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Công việc vệ sinh tại trại bao gồm chăm sóc nái chửa, nái đẻ, lợn con cai sữa và thực hiện các biện pháp an toàn sinh học Các nhiệm vụ chính là dọn phân, rửa chuồng và máng ăn, tắm cho lợn, xử lý rác thải và thức ăn dư thừa, điều trị và phòng bệnh, cũng như phun thuốc sát trùng cho chuồng trại và khu vực xung quanh Công nhân phải mặc đồ bảo hộ, đi ủng và xông sát trùng trước khi vào khu vực trại, thực hiện rắc vôi 300m đường vào khu vực trại hai tuần một lần.

Rác thải được thu gom vào cuối buổi và đưa ra khu tập chung để đốt, với xác động vật chết được tiêu hủy ở khu vực quy định

Để duy trì môi trường sạch sẽ cho chuồng nuôi, cần vệ sinh hàng ngày và rắc vôi ở hành lang cũng như chuồng đẻ Đối với chuồng bầu, cần rội vôi nước và thực hiện tiêu độc bằng thuốc sát trùng Ommicide mỗi hai ngày, pha với tỷ lệ 32ml trên 100 lít nước.

Tại trại Minh Phong, lợn con sẽ được cai sữa sau 21 ngày và lợn mẹ sẽ được kẹp thẻ và chuyển về chuồng bầu Lợn con được nuôi trên chuồng sàn từ 7-10 ngày hoặc chuyển về chuồng cai sữa Khi chuồng trống, công tác rửa chuồng sẽ được tiến hành, các tấm đan chuồng sẽ được tháo ra và ngâm trong dung dịch sát trùng RTD-TC 01 trong 1 ngày, sau đó được xịt rửa, cọ sạch và phơi khô Cuối cùng, các tấm đan này sẽ được ngâm lại trong dung dịch sát trùng thêm 1 ngày Hệ thống khung chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ, xịt nước thường và tưới phun bằng dung dịch vôi xút để đảm bảo an toàn vệ sinh.

Chỉ cần 30 phút để xịt sạch gầm chuồng, thông cống khi bị tắc, sau đó tiêu độc khử trùng kỹ lưỡng và rắc vôi bột Để khô tự nhiên trong 1 ngày, sau đó lắp đan vào và sát trùng bằng Cồn Eco Iodine ST Cuối cùng, đuổi lợn chờ đẻ từ chuồng nái chửa xuống.

Bảng 4.1 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn Minh Phong

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng đẻ Chuồng cai sữa

Thứ 2 Phun sát trùng Rội nước vôi gầm + rắc vôi hành lang đường đi

Rắc vôi đường đi Thứ 4 Phun sát trùng Rội nước vôi gầm + rắc vôi hành lang đường đi

Thứ 5 Rội vôi gầm chuồng

Phun sát trùng + Rắc vôi đường đi

Thứ 6 Phun sát trùng Rội vôi gầm + rắc vôi đường đi

Rắc vôi đường đi Chủ nhật

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng :

Quản lý và chăm sóc lợn đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng, phát triển và khả năng miễn dịch của đàn lợn Do đó, trại đã thiết lập quy trình chăm sóc phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của lợn.

Trong thời gian thực tập tại trại Minh Phong, tôi đã có cơ hội tham gia vào nhiều hoạt động chăm sóc động vật, bao gồm việc chăm sóc nái chửa và nái đẻ, hỗ trợ quá trình đỡ đẻ, chăm sóc lợn con theo mẹ đến khi cai sữa, cũng như điều trị lợn con cai sữa và chăm sóc lợn thịt.

Chúng tôi trực tiếp vệ sinh, chăm sóc và điều trị cho đàn lợn nái đẻ Mỗi giai đoạn phát triển của lợn yêu cầu chế độ chăm sóc và khẩu phần dinh dưỡng riêng biệt Quy trình chăm sóc bao gồm các giai đoạn nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ và đàn lợn con theo mẹ cho đến khi cai sữa, tất cả đều được thực hiện theo quy trình chuẩn của trại.

+ Quy trình chăm sóc và khẩu phần dinh dưỡng nái chửa:

Hàng ngày, ngoài việc cho ăn, vệ sinh, dọn phân và tắm cọ cho lợn, tôi còn kiểm tra tình trạng sức khỏe của lợn nái như sảy thai và mang thai giả Tôi phun thuốc sát trùng hai ngày một lần và thuốc ghẻ hai lần mỗi tuần Vào cuối giờ chiều, tôi phải chở phân ra khu xử lý Lợn nái chửa được cho ăn thức ăn hỗn hợp Dehues 3030, với khẩu phần tùy thuộc vào tuần chửa và thể trạng Từ tuần 1 đến tuần 12, lợn nái ăn 2,2 – 2,7 kg/ngày, từ tuần 13 đến 14 là 2,5 - 3 kg/ngày, và từ tuần 15 trở đi, chuyển sang thức ăn 3960s với khẩu phần 2,7-3,5 kg/ngày, được cho ăn hai lần và chuyển lên chuồng đẻ chờ sinh.

+ Quy trình chăm sóc nái đẻ:

Lợn nái chửa được di chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7-

Trong 10 ngày, việc giảm thiểu tỷ lệ sảy thai cho lợn cần được thực hiện cẩn thận Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng cần được dọn dẹp, rửa sạch và phun sát trùng đầy đủ Lợn nái trước khi chuyển sang chuồng đẻ phải được tắm sạch và sát trùng bằng cồn Iodine Cần mang theo thẻ nái và kẹp thẻ đúng cho từng con Thức ăn cho lợn chờ đẻ nên được cung cấp với tiêu chuẩn 3 kg/ngày, điều chỉnh lượng cám tùy thuộc vào khả năng mang thai, chia thành 2 bữa sáng và chiều.

Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, thì giảm khẩu phần ăn xuống 0,5 kg/con/bữa để tránh lợn ăn nhiều chèn ép lên thai

Sau khi lợn nái đẻ, có thể cho lợn ăn khoảng 0,5 kg thức ăn mỗi con mỗi bữa, chia thành nhiều bữa trong ngày Sau một tuần, lượng thức ăn cần thiết sẽ đạt 6 kg mỗi con mỗi ngày Đối với những nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con, lượng thức ăn có thể tăng lên 7-8 kg mỗi con mỗi ngày, tùy thuộc vào khả năng của chúng.

+ Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:

Sau khi lợn con ra đời, cần lau sạch dịch nhầy và rắc bột Mistral Tiếp theo, nhỏ 1 giọt kháng thể Igone-S cho mỗi con Việc mài nanh và cắt đuôi sẽ được thực hiện vào buổi chiều nếu lợn đẻ vào buổi sáng, hoặc vào sáng hôm sau nếu lợn đẻ vào buổi tối hoặc chiều.

Lợn con 2 ngày tuổi cần được nhỏ thuốc phòng ngừa tiêu chảy, trong khi lợn con 3 ngày tuổi sẽ được tiêm sắt, nhỏ cầu trùng, thiến và tiêm kháng sinh chống viêm để đảm bảo sức khỏe và phát triển tốt.

Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành cho lợn tập ăn với cám sữa Romelko blu Lợn con được từ 6-8 ngày tuổi tiêm phòng suyễn Mycoplasma

Lợn con được 13-15 ngày tuổi tiêm phòng tai xanh PRRS

Khi lợn con đạt khoảng 21 ngày tuổi, việc cai sữa cần được tiến hành Trước một ngày cai sữa, nên tiêm kháng sinh amoxicillin kết hợp với Catosal ® để giảm stress và ngăn ngừa tiêu chảy cho lợn con.

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại được thực hiện một cách tích cực và đầy đủ, nhằm đảm bảo sức đề kháng tốt nhất cho đàn lợn Việc này giúp giảm thiểu khả năng nhiễm bệnh, từ đó bảo vệ kinh tế của trang trại.

Quy trình phòng bệnh bằng thuốc và Vaccine cho các loại lợn ở trại được trình bày qua bảng 4.2

Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn con theo mẹ và cai sữa tại cơ sở

Vắc xin/ thuốc/ chế phẩm Đường đưa thuốc

1 ngày IgOne- S Đường tiêu hóa 2 ml Tiêu chảy

2-3 ngày Fe Tiêm 2 ml Thiếu sắt

5% Tiêu hóa 1 ml Cầu trùng

7 ngày Mycoflex Tiêm 2 ml Suyễn

14 ngày Ingelvac Tiêm 2ml Tai xanh

21 ngày CircoShild Tiêm 2 ml PCV2

(Circo ) Lợn cai sữa 4 tuần Vetvaco Tiêm 1ml Dịchtả

5 tuần Aflogen Tiêm 2ml FMD

4.1.2 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh

Khi lợn mắc bệnh, việc áp dụng phương pháp điều trị phù hợp là rất quan trọng để giúp chúng nhanh chóng hồi phục Ngoài việc chăm sóc, cần chú ý quan sát các biểu hiện bất thường để phát hiện bệnh kịp thời, từ đó xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả, giảm tỷ lệ chết và thiệt hại kinh tế Hàng ngày, tôi cùng với cán bộ kỹ thuật không chỉ thực hiện công tác vệ sinh mà còn kiểm tra và theo dõi đàn lợn ở tất cả các ô chuồng để phát hiện những con bị bệnh Trong thời gian thực tập tại trại lợn Minh Phong, tôi đã tham gia điều trị một số bệnh cùng với cán bộ kỹ thuật.

- Do trước và sau đẻ không đảm bảo vệ sinh sàn, cơ quan sinh dục sạch sẽ

Kết quả nghiên cứu

4.2.1 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại

Trong suốt 6 tháng thực tập, em đã thu thập số liệu về tình trạng nái mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ, và kết quả này được trình bày chi tiết trong bảng 4.4.

Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung từ tháng 6 đến tháng 11 Tháng Số nái theo dõi Số nái mắc bệnh Tỷ lệ (%)

Theo số liệu từ bảng 4.4, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng có sự chênh lệch rõ rệt Đối tượng nghiên cứu là 207 con nái đẻ được theo dõi.

Tỷ lệ mắc viêm tử cung ở con là 15,45%, cho thấy công tác vệ sinh phòng bệnh và thủ thuật ngoại khoa tại trại khá hiệu quả Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần từ tháng 8 đến tháng 11, với đỉnh điểm 22,91% vào tháng 11 do thời tiết giao mùa, gây khó khăn trong công tác phòng bệnh.

4.2.2 Mức độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái Để xác định được tình hình mắc và mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại Minh Phong, em đã theo dõi, ghi chép, thống kê số lượng lợn bị mắc bệnh từ tháng 6 đến tháng 11 Kết quả theo dõi mức độ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản trình bày ở bảng 4.5

Bảng 4.5 Mức độ mắc bệnh của đàn lợn nái

STT Mức độ mắc Số con mắc

Tổng số con theo rõi

1 Số con mắc mức độ 1+ 22 207 10,62

2 Số con mắc mức độ 2+ 9 207 4,35

3 Số con mắc ở mức độ 3+ 1 207 0,48

Theo bảng số liệu 4.5, tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tại trại chỉ là 15,45%, với 32 con trên tổng số 207 con được theo dõi Đáng chú ý, phần lớn trường hợp mắc viêm tử cung ở mức độ nhẹ, chiếm 10,62% tổng đàn và nhanh chóng hồi phục Tỷ lệ mắc ở mức độ trung bình là 4,35%, trong khi mức độ nặng chỉ chiếm 0,48%.

Nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại Việt Nam khá cao.

Tỷ lệ lợn nái sau sinh sản bị mắc bệnh viêm tử cung là rất cao chiếm 42,4%, trong đó nhóm nái lai, nái ngoại chiếm 50,84%

Tỷ lệ mắc viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn Minh Phong của ông Đặng Chi Chiến – Quế Võ – Bắc Ninh thấp hơn so với mức trung bình toàn quốc Nguyên nhân có thể do việc chăm sóc, quản lý và chế độ ăn uống tốt, cùng với việc duy trì vệ sinh chuồng trại và vệ sinh bộ phận sinh dục cho lợn nái, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị sinh.

4.2.3 Tỷ lệ và mức độ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản theo lứa đẻ Độ tuổi, số lứa đẻ của lợn là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung Để xác định độ tuổi và lứa đẻ của lợn nái đến tỷ lệ và mức độ bị mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ Kết quả được em trình bày ở bảng 4.6

Bảng 4.6 Tỷ lệ và mức độ mắc viêm tử cung theo lứa đẻ từ tháng 6 đến tháng 11

Số nái mắc bệnh (con)

Tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái có sự biến động rõ rệt theo số lần đẻ, với tỷ lệ cao nhất là 23,33% ở những nái có 1-2 lứa đẻ Tỷ lệ này giảm xuống còn 15,45% ở nái đã đẻ trên 6 lứa, trong khi tỷ lệ viêm tử cung ở những nái đẻ 3-4 lứa là 12,90% Cuối cùng, tỷ lệ thấp nhất là 10,64% ở những nái đẻ từ 5-6 lứa.

Mức độ mắc bệnh ở nái thay đổi theo các lứa đẻ Cụ thể, nái có lứa đẻ từ 1-2 có tỷ lệ 7,15% mắc bệnh ở mức độ nặng, trong khi 100% nái ở lứa đẻ trên 6 bị viêm tử cung ở mức độ trung bình Đối với nái đẻ từ 3-4 lứa, tỷ lệ mắc bệnh ở mức độ nhẹ là 75,00%.

Kết quả cho thấy, những nái hậu bị lứa đẻ 1-2 có nguy cơ cao bị viêm tử cung nặng do chế độ chăm sóc và dinh dưỡng không hợp lý, dẫn đến thai quá to Sự chưa hoàn thiện về thể vóc cũng gây hẹp xương chậu, làm tăng nguy cơ đẻ khó Mặc dù các thủ thuật kéo thai có thể gây tổn thương cho tử cung, nhưng nhờ sức khỏe tốt và khả năng rặn mạnh, hầu hết trường hợp chỉ mắc viêm ở thể nhẹ.

Nái trên 6 lứa đẻ có nguy cơ mắc bệnh ở mức trung bình, mặc dù đã hoàn thiện về tính và thể vóc, nhưng sức khỏe lại suy giảm, thể trạng kém Điều này dẫn đến khó khăn trong quá trình sinh đẻ, rặn đẻ yếu, và thời gian sinh kéo dài, tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập và gây hại.

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc theo lứa đẻ

1-2 lứa 3-4 lứa 5-6 lứa trên 6 lứa

Tỷ lệ mắc theo lứa đẻ

Số nái kiểm tra Số nái nhiễm

Số nái kiểm tra Số nái nhiễm Nhiễm độ 1 Nhiễm độ 2 Nhiễm độ 3

Lứa 1-2 lứa 3-4 Lứa 5-6 Trên 6 lứa

4.2.4 Tỷ lệ và mức độ mắc viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm Đối với vị trí địa lý, nước ta là nước nằm trong kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, sự thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa rất rõ rệt, đặc biệt là miền bắc có hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh trong năm Do đó khí hậu có ảnh hưởng lớn tới tình hình phát triển, vệ sinh chăm sóc, sức đề kháng của vật nuôi như lợn nái Việc nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu trong năm đến tỷ lệ và mức độ viêm tử cung trên nái có ý nghĩa lớn trong việc chăm sóc lợn nái, từ đó có thể thay đổi phương thức vệ sinh và chăm sóc đàn lợn Vì vậy, trong nghiên cứu này em đã tiến hành theo dõi, đánh giá tỷ lệ và mức độ mắc bệnh viêm tử cung qua 6 tháng em thực tập trong năm, kết quả được trình bày tại bảng 4.7

Bảng 4.7 Tỷ lệ và mức độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 2022

Số nái mắc bệnh (con)

Theo số liệu bảng 4.7, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung có sự biến động nhẹ theo tháng, với tháng 10 và 11 ghi nhận tỷ lệ cao hơn so với các tháng 6, 7, 8 và 9 Sự gia tăng này có thể liên quan đến mùa chuyển giao từ thu sang đông, khi tiểu khí hậu thay đổi giữa ngày và đêm, dẫn đến ngày nóng, đêm lạnh, và có thể là thời tiết lạnh kéo dài Điều này làm cho công tác vệ sinh và tắm rửa cho nái, đặc biệt là nái sau khi đẻ, trở nên khó khăn hơn, từ đó góp phần làm tăng tỷ lệ viêm tử cung, trong đó có một tỷ lệ nhỏ mắc thể nặng.

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh theo tháng

Tháng 6 Tháng 7 tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11

Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng

Số nái kiểm tra Số nái nhiễm

Hình 4.4 Biểu đồ mức độ mắc bệnh theo tháng 4.2.5 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bình thường và lợn bị viêm tử cung

Biểu hiện lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh cho vật nuôi, giúp người chăn nuôi nhận định chính xác tình trạng sức khỏe của chúng Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các biểu hiện lâm sàng ở 32 lợn nái khỏe mạnh và 32 lợn bị viêm tử cung, tất cả đều được nuôi trong cùng điều kiện môi trường và chăm sóc Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 4.8.

Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11

Mức độ mắc bệnh theo tháng

Số nái kiểm tra Số nái nhiễm Nhiễm độ 1 Nhiễm độ 2 Nhiễm độ 3

Bảng 4.8 So sánh một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bình thường và lợn bị viêm tử cung (n = 32)

Chỉ tiêu theo dõi Lợn khỏe

Lợn bị viêm tử cung ( ± m X )

Dịch rỉ viêm Không có Có

Màu Trắng xám, trắng đục, hồng hoặc màu rỉ sắt

Lượng thức ăn tiêu thụ Ăn hết hoặc gần hết khẩu phần ăn Ăn ít hoặc bỏ ăn hẳn

Phản ứng đau Không đau Có phản ứng đau

Ngày đăng: 07/09/2023, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Hoàng Toàn Thắng và PGS.TS. Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, PGS.TS. Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
15. Nguyễn Văn Thanh (2003), Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị, Tạp chí KHKT thú y, tâp 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Tạp chí KHKT thú y
Năm: 2003
16. Nguyễn Văn Thanh (2007), Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại với hội chứng tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp tập 5 17. Phạm Thị Trang (2023), “ Giáo trình nội bộ bào chế và kiểm nghiệmthuốc thú y”, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nội bộ bào chế và kiểm nghiệm thuốc thú y
Tác giả: Phạm Thị Trang
Năm: 2023
18. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh(2010), “ Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y tập 17.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y tập 17.II
Tác giả: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
19. Bane A., (1986), Control and Prevention of infherited disorder causing infertility, Technical Managemen A.I Programmes SwisdishUniversity of Agricultural sciences. Uppsala Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Control and Prevention of inherited disorder causing infertility
Tác giả: Bane A
Nhà XB: Swedish University of Agricultural Sciences
Năm: 1986
20. McIntosh G. B. (1996), Mastitis metritis agalactia syndrome, Science report, Animal research institute, Yeerongpylly, Queensland,Australia, Unpublish, pp.1 – 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mastitis metritis agalactia syndrome
Tác giả: G. B. McIntosh
Nhà XB: Animal Research Institute
Năm: 1996
21. Mekay.W.M, (1975), The use of antibiotics in animal feeds in the United Kingdom, The impact and importance of legislative controls. Worlds pautry, Sciences jounal 31. 116 – 28. (A rejoinder to the oreview of Smith. Sebelow, Arguing Strongly that there is no Cause for concern) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact and importance of legislative controls
Tác giả: Mekay W.M
Nhà XB: Worlds Poultry Sciences Journal
Năm: 1975
22. Sttergren I, (1986), Cause of infertility in femal reproduction system, Tecnical Management A.I. Programmes Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cause of infertility in femal reproduction system
Tác giả: Sttergren I
Nhà XB: Tecnical Management A.I. Programmes
Năm: 1986

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w