Tính tất yếu Đề án chuyên ngành LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức vô[.]
TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CÁC LOẠI RỦI RO
Thanh toán quốc tế và vai trò của Thanh toán quốc tế
Ngày nay, ngân hàng hiện đại hoạt động đa năng để tăng thu nhập không chỉ từ các nghiệp vụ truyền thống mà còn mở rộng sang các lĩnh vực như kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, bảo lãnh và tài trợ ngoại thương Những hoạt động này đã tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí, không chỉ tăng về số lượng mà còn cả tỷ trọng.
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng, với tốc độ tăng trưởng cao và mang lại nguồn thu phí ngày càng tăng cho các ngân hàng thương mại Thông qua nghiệp vụ này, các ngân hàng có thể phát triển thêm nhiều dịch vụ khác như tín dụng, tài trợ xuất khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh và mở rộng quan hệ kinh doanh.
Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các quốc gia, cá nhân hoặc tổ chức Quá trình này diễn ra thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan, giúp kết nối và thực hiện giao dịch tiền tệ một cách hiệu quả.
1.1.2.Vai trò của Thanh toán quốc tế
1.1.2.1.Đối với nền kinh tế.
Thanh toán quốc tế là yếu tố thiết yếu trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức ở các quốc gia khác nhau Nó không chỉ giúp giải quyết mối quan hệ hàng hóa và tiền tệ mà còn tạo ra sự liên tục trong quá trình sản xuất và thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Thanh toán quốc tế thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, mang lại quy trình thanh toán an toàn, nhanh chóng và tiện lợi, đồng thời giảm chi phí cho các bên tham gia.
Thanh toán quốc tế là dịch vụ ngân hàng liên quan đến tài sản ngoại bảng, giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng về dịch vụ tài chính Hoạt động này không chỉ tăng doanh thu và nâng cao uy tín ngân hàng mà còn tạo dựng niềm tin cho khách hàng, mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh trong thị trường Ngoài ra, thanh toán quốc tế còn hỗ trợ các hoạt động kinh doanh khác, mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu, phát triển kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương và tài trợ thương mại.
Hoạt động thanh toán quốc tế góp phần nâng cao tính thanh khoản cho ngân hàng Thông qua các giao dịch TTQT, ngân hàng có khả năng thu hút nguồn vốn ngoại tệ tạm thời từ các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế, dưới hình thức ký quỹ chờ thanh toán.
TTQT thúc đẩy sự hiện đại hóa công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, giúp các ngân hàng áp dụng những công nghệ tiên tiến Điều này không chỉ đảm bảo hoạt động TTQT diễn ra nhanh chóng, kịp thời và chính xác mà còn giúp phân tán rủi ro, mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng.
Hoạt động thương mại quốc tế (TTQT) giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, từ đó nâng cao uy tín quốc tế Điều này tạo điều kiện cho ngân hàng khai thác nguồn tài trợ từ các ngân hàng nước ngoài và huy động vốn trên thị trường tài chính quốc tế, đáp ứng nhu cầu về vốn của mình.
Trong thương mại quốc tế (TTQT), việc lựa chọn phương thức thanh toán là rất quan trọng và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của các bên tham gia Các bên thường thỏa thuận sử dụng phương thức thanh toán có lợi cho cả hai Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của mối quan hệ thương mại, nhiều phương thức thanh toán đã được thiết lập, bao gồm ứng trước, ghi sổ, nhờ thu, chuyển tiền và tín dụng chứng từ Trong số này, phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng nhất vì đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho tất cả các bên Tại Việt Nam và trên toàn thế giới, phương thức thanh toán này hiện chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.
Tính tất yếu của hoạt động thanh toán quốc tế
Trước thế kỷ X, các nhà buôn thường bán hàng rong, thu tiền ngay tại chỗ từ các sản phẩm của mình và tái đầu tư vào hàng hóa đã bán để gia tăng vốn.
Từ thế kỷ XI đến XIII, sự xáo trộn do Đạo Thiên Chúa gây ra đã hình thành một hình thức mới, dẫn đến việc mở rộng truyền đạo Sự giao thoa và trao đổi giữa phương Đông và phương Tây đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các thành phố thương mại như Venigio và Genoa.
Việc lưu thông tiền tệ đã trở nên cần thiết và được điều chỉnh bởi Giới nhà thờ và thương nhân thành Vơnigiơ Các chuyến tàu thương mại với phương Đông luôn chở đầy hàng hóa mới, và kỹ thuật bán hàng phải tuân theo các quy định cụ thể Nhà tài trợ gửi kim loại quý cho người đi biển để mua hàng hóa xa xôi, chấp nhận rủi ro mất mát nếu xảy ra tai nạn Nếu chuyến tàu an toàn, lợi nhuận sẽ được chia cho cả nhà tài trợ và người đi biển, người đã mạo hiểm mạng sống để thực hiện giao dịch Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận luôn hiện hữu, khi người đi biển tìm cách mang về lượng hàng hóa hoặc tiền lớn nhất Do đó, trong suốt hàng thế kỷ, các nhà buôn đã đặt ra câu hỏi về hiệu quả của các phương tiện thanh toán trong khả năng thời đại đó cho phép.
Bắt đầu từ thế kỷ X, thương nhân Ả Rập đã sử dụng tấm vé viết tay thay cho kim loại quý, hứa hẹn thanh toán vào một ngày nhất định Sau đó, người Ý đã phát triển hình thức này thành thư tín dụng, tạo ra một phương thức tài chính tiện lợi Trong quá trình này, một người phát hành soạn thảo thư tín dụng, trong khi một người thanh toán ở thành phố khác sẽ nhận và thực hiện nghĩa vụ thanh toán vào ngày đã định.
Việc bán hàng và thanh toán cho người mua nước ngoài tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với thương mại nội địa Khoảng cách địa lý gây khó khăn trong việc thực hiện thanh toán giữa các bên Trong suốt lịch sử, các nhà buôn luôn tìm kiếm phương thức thanh toán hiệu quả nhất phù hợp với thời đại Do đó, phương thức thanh toán quốc tế đã ra đời như một yếu tố cần thiết trong sự phát triển của ngoại thương.
Phương thức tín dụng chứng từ- phương thức chủ yếu trong hoạt động
1.3.1.Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ(L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một thỏa thuận trong đó ngân hàng phát hành thư cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, dựa trên yêu cầu của khách hàng Ngân hàng chỉ thực hiện nghĩa vụ này khi nhận được bộ chứng từ thanh toán đáp ứng các điều kiện và điều khoản đã quy định.
1.3.2 Đặc điểm phương thức tín dụng chứng từ
1.3.2.1 L/C là hợp đồng kinh tế hai bên
L/C là hợp đồng kinh tế giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, trong đó ngân hàng phát hành đại diện cho yêu cầu và chỉ thị của người mở L/C Ngân hàng phát hành không chỉ là nhà cung cấp dịch vụ mà còn là bên tin cậy cho cả người mở và người thụ hưởng, cho phép họ thực hiện giao dịch trực tiếp Điều này cho thấy rằng tiếng nói của người yêu cầu mở L/C không được thể hiện rõ ràng trong nội dung của L/C.
1.3.2.2 L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa
L/C, hay tín dụng chứng từ, là một giao dịch độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc các hợp đồng khác mà không bị ràng buộc bởi các điều khoản của hợp đồng đó Ngân hàng không chịu trách nhiệm hay liên quan đến hợp đồng, ngay cả khi L/C có tham chiếu đến hợp đồng này.
L/C (Thư tín dụng) đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, hình thành từ hợp đồng ngoại thương nhưng hoàn toàn độc lập sau khi được thiết lập Khi L/C đã được mở và các bên liên quan chấp nhận, nội dung của L/C không còn phụ thuộc vào hợp đồng ngoại thương, do đó không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C.
1.3.2.3 L/C chỉ căn cứ vào chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ.
Các chứng từ trong giao dịch L/C đóng vai trò quan trọng, là bằng chứng giao hàng của người bán và là cơ sở để nhà nhập khẩu thanh toán cho ngân hàng Ngân hàng chỉ thanh toán khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ, không quan tâm đến tình trạng hàng hóa Nếu chứng từ phù hợp, ngân hàng phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, ngay cả khi hàng hóa không được giao đúng như trong chứng từ Ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm nếu thanh toán cho người xuất khẩu khi chứng từ không phù hợp, vì nhà nhập khẩu có quyền từ chối hoàn trả tiền.
1.3.2.4 L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ.
Việc giao dịch và thanh toán dựa vào chứng từ yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt bộ chứng từ trong L/C Để nhận thanh toán từ ngân hàng, nhà xuất khẩu cần lập bộ chứng từ phù hợp, đảm bảo tuân thủ các điều khoản và điều kiện trong L/C, bao gồm số lượng, tỷ trọng từng loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng đúng yêu cầu.
1 Người xin mở L/C (applicant): là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của họ.Trong thương mại quốc tế, Người yêu cầu mở thường là nhà nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việcNHPH trả tiền cho người thụ hưởng L/C
Ngân hàng thông báo (Advising bank)
Người thụ hưởng L/C (beneficiary) là bên nhận số tiền thanh toán hoặc sở hữu hối phiếu đã được chấp nhận theo L/C Tùy vào hoàn cảnh cụ thể, người thụ hưởng có thể được gọi bằng các tên khác nhau như người bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter) hoặc người ký phát hối phiếu (drawer).
3 Ngân hàng phát hành (issuing bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/
Ngân hàng phát hành (NHPH) là ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của người xin mở thư tín dụng (L/C) và thường được hai bên mua bán thỏa thuận trong hợp đồng Nếu không có thỏa thuận trước, nhà nhập khẩu có quyền tự chọn NHPH, còn được biết đến là ngân hàng mở.
4 Ngân hàng thông báo (advising bank): là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH tại nước nhà xuất khẩu
5.Ngân hàng xác nhận (confirming bank): là ngân hàng bố sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
6 Ngân hàng được chỉ định( nominated bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu.Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành ngân hàng được chỉ định.Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của ngân hàng được chỉ định giống như NHPH khi nhận được bộ chứng từ.
Bước 1 Hai bên mua bán ký hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C
Sau khi ký hợp đồng, nhà nhập khẩu cần chủ động làm đơn theo mẫu và chuẩn bị các giấy tờ liên quan để yêu cầu ngân hàng mở L/C Việc này phải tuân thủ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
Sau khi xem xét giấy tờ và đơn xin mở L/C, ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sẽ tiến hành lập L/C nếu đồng ý Ngân hàng sẽ thông qua ngân hàng đại lý tại nước xuất khẩu để thông báo về việc phát hành L/C và chuyển L/C cho người xuất khẩu, sau đó gửi bản gốc cho ngân hàng thương mại.
Bước 4 Sau khi nhận được bản gốc L/C từ ngân hàng phát hành, NTTB sẽ kiểm tra độ chính xác thực của L/C và gửi bản gốc cho nhà xuất khẩu.
Khi nhà xuất khẩu nhận bản gốc của L/C và chấp nhận các điều khoản, họ sẽ tiến hành giao hàng Nếu không chấp nhận, nhà xuất khẩu cần đề nghị với nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng phát hành để sửa đổi và bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương.
Sau khi giao hàng, NXK cần lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình bộ chứng từ hợp lệ cho NHPH để nhận thanh toán.
Rủi ro trong thanh toán quốc tế
Rủi ro trong thanh toán quốc tế đề cập đến khả năng xảy ra tổn thất không mong muốn khi thực hiện giao dịch thanh toán qua các phương thức khác nhau.
1.4.2 Rủi ro thường gặp trong phương thức L/C
1.4.2.1 Rủi ro kỹ thuật Đối với NXK :chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ như: lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ các bên, chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng, chứng từ không ghi số L/C…, thì NXK cũng có thể bị NH mở L/C hoặc người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Đối với NNK: vì việc thanh toán của NH chỉ căn cứ vào chứng từ nên không có sự đảm bảo nào cho NNK về tình trạng hàng hóa; hay là rủi ro trong trường hợp hàng hóa cập cảng trước khi bộ chứng từ đến tay NNK khiến cho hàng hóa không được giải tỏa, gây khó khăn cho NNK. Đối với NNPH: có nhiểu rủi ro xảy ra, như NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng ngay cả khi ngân hàng mất khả năng thanh toán hoặc bi phá sản do kinh doanh thua lỗ.Ngoài ra ngân hàng cũng gặp những rủi ro như: nếu trong L/C không quy định bộ vận dơn đầy đủ thì một người NK có thể lấy được hàng hóa khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hóa lại là ngân hàng phát hành theo cam kết của L/C
Sự tin tưởng và thiện chí giữa người mua và người bán là yếu tố then chốt đảm bảo an toàn cho thương mại quốc tế Khi nhà nhập khẩu không thiện chí và cố tình không thực hiện hợp đồng, họ có thể lợi dụng những sai sót nhỏ trong bộ chứng từ để yêu cầu giảm giá, kéo dài thời gian thanh toán, hoặc thậm chí từ chối thanh toán, gây thiệt hại cho người bán.
NNK có thể đối mặt với rủi ro nếu NXK thực hiện hành vi gian dối trong giao hàng, như cố tình cung cấp hàng hóa kém chất lượng hoặc không đúng số lượng.
Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực ngân hàng xuất hiện khi ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán ngay cho người hưởng lợi theo quy định của thư tín dụng (L/C), ngay cả khi người xin mở thư tín dụng không có ý định hoàn trả.
Phương thức tín dụng chứng từ là một trong những phương thức thanh toán quốc tế phổ biến, với sự tham gia của các chủ thể từ nhiều quốc gia và lĩnh vực khác nhau Tín dụng chứng từ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ môi trường chính trị và xã hội của từng quốc gia Những biến động nhỏ trong chính trị và xã hội có thể tác động đến tự do thương mại và hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán.
Rủi ro chính trị thường phát sinh từ sự thay đổi trong môi trường pháp lý, bao gồm các yếu tố như thay đổi thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối và luật xuất nhập khẩu Ngoài ra, các sự kiện như biểu tình, nổi loạn, bạo động và chiến tranh cũng có thể gây ra rủi ro cho các bên tham gia, cùng với nguy cơ mất mát chứng từ.
1.4.2.4 Rủi ro khách quan từ nền kinh tế
Khi nền kinh tế một quốc gia suy thoái, các ngân hàng có thể bị phong tỏa hoặc tạm ngưng hoạt động, dẫn đến nguy cơ không thu hồi được nợ Nếu nợ nước ngoài quá lớn, khả năng chi trả của người mua sẽ giảm, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Hơn nữa, sự phong tỏa kinh tế ở các quốc gia như Cuba và Iraq cũng tạo ra rủi ro cho bất kỳ quốc gia hay đơn vị kinh tế nào có hoạt động xuất nhập khẩu với những nước này.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Các hoạt động hỗ trợ thanh toán xuất nhập khẩu (XNK) của ngân hàng, như cho vay XNK và bảo lãnh, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình thanh toán XNK qua ngân hàng.
Năng lực và trình độ thành thạo của nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng hình ảnh tích cực cho ngân hàng Phong cách giao tiếp chuyên nghiệp của họ không chỉ giúp khách hàng cảm thấy thoải mái mà còn tạo ấn tượng tốt đẹp, từ đó nâng cao sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng.
Khả năng trang bị phương tiện kỹ thuật vật chất của ngân hàng phản ánh sự hiện đại mà khách hàng có thể dễ dàng nhận thấy Những trang thiết bị hữu hình này không chỉ nâng cao trải nghiệm dịch vụ mà còn khẳng định vị thế cạnh tranh của ngân hàng trong ngành tài chính.
Thông tin khách hàng, bao gồm khả năng thanh toán và đạo đức, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả thanh toán và đánh giá rủi ro Tuy nhiên, trong các giao dịch, việc thiếu thông tin đầy đủ giữa các bên tham gia có thể dẫn đến nhiều rủi ro.
*Đạo đức cán bộ ngân hàng
Rủi ro trong ngân hàng thường xuất phát từ việc cán bộ ngân hàng cố ý vi phạm quy trình thanh toán và không tuân thủ các thông lệ quốc tế Điều này dẫn đến việc tiếp tục bảo lãnh hoặc mở L/C cho những khách hàng không tuân thủ nguyên tắc thanh toán của hệ thống ngân hàng.
* Năng lực tham gia quá trình cung ứng dịch vụ
* Uy tín của khách hàng
Sự kiên quyết thực hiện các giao ước trong hợp đồng là rất quan trọng Một người có đạo đức tốt sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro, trong khi đó, nếu khách hàng có hành vi lừa đảo hoặc trốn tránh nghĩa vụ, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn.
*Năng lực, kinh nghiệm kinh doanh của khách hàng.
Dù nhà nhập khẩu có uy tín, nhưng nếu hiệu quả kinh doanh kém, việc hoàn trả nợ vay ký quỹ L/C sẽ gặp khó khăn.
1.5.3 Các nhân tố thuộc về môi trường khách quan
Môi trường pháp lý không ổn định ở nhiều quốc gia thường xuyên thay đổi và bổ sung luật pháp, dẫn đến nguy cơ hủy bỏ hợp đồng Biến động chính trị là một yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng chứng từ.
Sự thay đổi tỷ giá và biến động kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đồng tiền các quốc gia, gây ra nguy cơ thiệt hại lớn cho các bên tham gia thanh toán Các nước bị cấm vận hoặc đang trong thời kỳ suy thoái sẽ đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm khả năng thanh toán đúng hạn và rủi ro ngoại hối do chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền.
Môi trường tự nhiên là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế Những thay đổi trong môi trường tự nhiên, như thiên tai, hỏa hoạn, động đất và sóng thần, có thể dẫn đến rủi ro bất khả kháng, khiến các bên không thể thực hiện nghĩa vụ của mình, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toán giữa các bên liên quan.
Kinh nghiệm khắc phục rủi ro ở một số ngân hàng và bài học kinh nghiệm cho Vietinbank
1.6.1 Kinh nghiệm khắc phục rủi ro
1.6.1.1.Ngân hàng ngoại thương Vietcombank
Ngân hàng ngoại thương Vietcombank, ngân hàng chuyên doanh đầu tiên của Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại như cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối Sau 45 năm phát triển, ngân hàng đã chuyển mình mạnh mẽ theo mô hình ngân hàng đa năng.
Năm 2008, Vietcombank chính thức trở thành ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam và được tạp chí Asiamoney vinh danh là “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam” Để giảm thiểu rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C, ngân hàng đã học hỏi từ những kinh nghiệm của ngân hàng công thương Việt Nam Đối với rủi ro tín dụng, ngân hàng dựa vào các quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và thực hiện đánh giá rủi ro tín dụng qua các chính sách quản trị rủi ro, quy trình tín dụng, và hệ thống xếp hạng tín dụng Về rủi ro tỷ giá, ngân hàng thiết lập hạn mức trạng thái cho từng loại tiền tệ và quản lý trạng thái đồng tiền hàng ngày, đồng thời áp dụng chiến lược phòng ngừa rủi ro để duy trì trạng thái trong hạn mức đã định.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt trong lĩnh vực chuyên môn Năm 2008, ngân hàng đã cử 542 cán bộ tham gia các khóa tập huấn ngắn hạn về thanh toán quốc tế, quản lý tài sản Nợ-Có và nghiệp vụ chuyển tiền Những khóa học này giúp giảm thiểu rủi ro trong công việc do cán bộ ngân hàng không đủ trình độ nghiệp vụ.
1.6.1.2 Ngân hàng kỹ thương Techcombank
Techcombank là ngân hàng thương mại đô thị đa năng tại Việt Nam, chuyên cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng và cạnh tranh cho cá nhân và doanh nghiệp Ngân hàng cam kết đáp ứng nhu cầu khách hàng, tạo giá trị cho cổ đông, phát triển nhân viên và đóng góp vào sự phát triển cộng đồng Với mạng lưới đại lý rộng khắp gần 100 quốc gia, Techcombank nổi bật trong lĩnh vực thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Techcombank đã triển khai một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng chứng từ, bao gồm việc thiết lập cấu trúc rủi ro tín dụng dựa trên các nguyên tắc kiểm soát và quản trị rủi ro kết hợp với chính sách tín dụng Để quản lý rủi ro tín dụng của từng khách hàng, ngân hàng áp dụng các hạn mức và định mức kỹ quỹ phù hợp Đặc biệt, trong năm 2008, Techcombank đã tập trung hóa công tác thẩm định tín dụng tại Hội sở, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu rủi ro tín dụng cho khách hàng.
Techcombank là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc áp dụng hệ thống quản trị rủi ro thị trường từ năm 2003 Rủi ro hoạt động của ngân hàng xuất phát từ việc thiếu sót hoặc sai lệch trong quy trình nội bộ, lỗi con người, hệ thống, và các yếu tố bên ngoài Mặc dù đây là loại rủi ro truyền thống, nhưng các phương pháp kiểm soát rủi ro hoạt động vẫn còn mới mẻ, ngay cả với các ngân hàng toàn cầu Tại Techcombank, mọi bộ phận chức năng đều có trách nhiệm kiểm soát rủi ro hoạt động trong chính sách của mình, trong khi bộ phận chuyên trách về rủi ro hoạt động trong khối quản trị rủi ro thị trường và hoạt động tập trung vào các loại rủi ro như rủi ro tác nghiệp, rủi ro công nghệ và rủi ro quy trình sản phẩm.
1.6.1.3 Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một ngân hàng đa ngành, hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ và tín dụng Ngân hàng cam kết tuân thủ các quy định pháp luật, đồng thời không ngừng nâng cao lợi nhuận để hỗ trợ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Hiện nay, ngân hàng quản lý rủi ro ngoại hối bằng cách thực hiện theo giới hạn của ALCO, phê duyệt giá trị chịu rủi ro cho ba đồng tiền chủ yếu là USD, EUR và JPY Đồng thời, ngân hàng cũng theo dõi rủi ro ngoại hối cho giỏ ngoại tệ bao gồm ba loại đồng tiền này.
Năm 2008, thị trường chứng kiến những biến động mạnh về tỷ giá, buộc các ngân hàng phải chủ động xây dựng và giám sát hạn mức rủi ro ngoại hối để giảm thiểu tổn thất trong hoạt động kinh doanh.
BIDV đã chính thức triển khai chương trình quản lý rủi ro lãi suất từ tháng 9/2008, nhằm đo lường và hạn chế tổn thất do rủi ro lãi suất gây ra Công cụ này giúp ngân hàng xác định mức tổn thất tối đa có thể chấp nhận, phù hợp với độ ưa thích rủi ro trong từng giai đoạn.
1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Vietinbank
Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã triển khai các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế thông qua phương thức tín dụng chứng từ, đồng thời đối mặt với cả cơ hội và thách thức Những kinh nghiệm giảm thiểu rủi ro từ các ngân hàng khác đã được áp dụng để tối ưu hóa quy trình này.
Hoạt động đối ngoại của NHCTVN đang được chú trọng, đặc biệt trong giai đoạn cổ phần hóa ngân hàng và hội nhập quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế, với trọng tâm là thanh toán bằng phương thức TDCT, đã được triển khai theo hướng tích cực.
Tiếp tục gia tăng khối lượng thanh toán xuất nhập khẩu qua phương thức L/C tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam (NHCTVN), đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao số lượng món và tổng số tiền L/C xuất khẩu được thông báo và thanh toán qua NHCTVN.
Thứ hai, phấn đấu tăng tỷ lệ thu dịch vụ phí thanh toán L/C trong tổng phí dịch vụ của ngân hàng.
Thứ ba, Nâng cao chất lượng và độ an toàn của nghiệp vụ TTQT theo phương thức L/C.
Quản lý chặt chẽ việc mở L/C nhập khẩu thông qua hạn mức ủy quyền và nguồn thanh toán cho nước ngoài là cần thiết để giảm thiểu rủi ro tín dụng của khách hàng và rủi ro tỷ giá.
Thứ năm, Giữ chữ “tín” trong thanh toán, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ mà NHCTVN đã cam kết với phía nước ngoài.
Vào thứ Sáu, chúng ta sẽ tập trung phát triển chương trình bảo lãnh L/C trả chậm dài hạn nhằm nhập khẩu máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước.
Thứ bảy, Nghiên cứu phát triển và mở rộng các loại hình L/C trả ngay để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thứ tám, Tiếp tục hoàn thiện phần mềm chương trình thanh toán quốc tế (IBS) trong nội bộ NHCTVN và mạng truyền tin của toàn hệ thống.
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT VÀ CÁC LOẠI RỦI RO
Thực trạng rủi ro trong phương thức L/C trả ngay
Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong những ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên toàn cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và phát triển các dịch vụ khác.
Mặc dù tín dụng chứng từ là phương thức an toàn và cân bằng quyền lợi của các bên, nhưng nó vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho tất cả các bên liên quan, bao gồm cả Ngân hàng Công thương Việt Nam L/C là phương thức quốc tế phổ biến nhất trong ngân hàng Công thương, và ngân hàng này cũng đóng vai trò là nhà tài trợ cho các hoạt động thương mại.
2.1.1.Rủi ro tín dụng của khách hàng
Do hạn chế về thực lực tài chính, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng cho hoạt động kinh doanh Khi gặp khó khăn trong giao dịch quốc tế, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngân hàng Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp về vốn để nhập khẩu hàng hóa và thiết bị Khi mở L/C, nếu khách hàng thiếu vốn, họ chỉ cần ký quỹ một phần, trong khi ngân hàng có thể cho vay phần còn lại, thậm chí 100% giá trị L/C nếu có sự tin tưởng Tuy nhiên, nếu khách hàng không thể thanh toán, điều này gây rủi ro cho ngân hàng, không chỉ là mất vốn mà còn có thể dẫn đến việc không thu hồi vốn đúng hạn và phát sinh chi phí không cần thiết.
Dư nợ cho vay nhập khẩu tại ngân hàng công thương Việt Nam Đơn vị : Triệu đồng
Năm Dư nợ cuối kỳ Dư nợ quá hạn
Tỷ trọng nợ quá hạn (%)
(Nguồn số liệu ngân hàng công thương Việt Nam)
Trong những năm gần đây, rủi ro tín dụng của khách hàng trong thanh toán L/C nhập khẩu đã giảm rõ rệt Cụ thể, tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay nhập khẩu đã giảm từ 7,76% vào năm 1999 xuống còn 5,12% vào năm 2002.
Một ví dụ điển hình về rủi ro tín dụng của khách hàng là vụ kiện giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam – Sở giao dịch 1 và Công ty Điện máy - Xe đạp xe máy do khoản vay không được thanh toán.
8 khế ước yêu cầu thanh toán theo L/C nhập khẩu hàng hoá Ngày 27 tháng 6 năm
Vào năm 2007, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xét xử công khai vụ án số 73/2007/TLST – KDTM liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam – Sở giao dịch 1 và Công ty Điện máy - Xe đạp xe máy Trong các năm 1995 và 1996, Ngân hàng đã cho Công ty vay 8 khế ước với lãi suất 9,5%/năm và lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn Tuy nhiên, do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, Công ty không thể trả nợ đúng hạn Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 10.1.2007, Công ty xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền gốc của 8 khế ước tính đến ngày 31.12.2006.
Ngân hàng Công Thương đang đối mặt với rủi ro tín dụng từ khách hàng, với tổng số tiền nợ là 742.000 USD, trong đó tiền lãi trong hạn là 655.580,07 USD và tiền lãi quá hạn là 73.268,48 USD Để thu hồi nợ, ngân hàng đã quyết định trình đơn lên tòa án.
Trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng chỉ dựa vào chứng từ mà không xem xét thực tế hàng hóa, dẫn đến việc nhiều khách hàng nước ngoài lợi dụng sơ hở này để lừa đảo và chiếm đoạt tài sản Khi bộ chứng từ hoàn chỉnh và đáp ứng các điều khoản L/C, ngân hàng phải thanh toán cho người xuất khẩu, ngay cả khi hàng hóa chưa được giao hoặc không đạt tiêu chuẩn Sự tranh chấp giữa người mua và người bán có thể gây ra xung đột giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, khiến ngân hàng công thương Việt Nam phải nỗ lực và theo kiện nhiều năm để bảo vệ uy tín trong thanh toán quốc tế.
Nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam xuất phát từ việc doanh nghiệp không giữ uy tín, dẫn đến tranh chấp với ngân hàng Sau khi ký hợp đồng ngoại thương và yêu cầu mở L/C, một số doanh nghiệp do biến động giá hàng hóa đã tìm cách trì hoãn thanh toán, thậm chí từ chối nhận hàng mặc dù bộ chứng từ đầy đủ Tình huống này đã đặt ngân hàng vào thế khó, gây ra nhiều tranh chấp Ví dụ, vào ngày 18/12/2002, NHCT chi nhánh Bến Thủy mở L/C cho 10.000MT phôi thép với giá USD 294/MT, nhưng khi hàng đến, giá giảm xuống USD 250/MT, khiến khách hàng không chịu thanh toán do lỗ lớn, buộc ngân hàng phải cho vay nợ bắt buộc.
Vụ kiện giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Tổng công ty Cổ phần thương mại xây dựng vào năm 2008 là một ví dụ điển hình về đạo đức khách hàng tại Việt Nam, khi ngân hàng yêu cầu thanh toán 5.400.000.000đ tiền gốc và 4.587.594.742đ tiền lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng.
Trong thương mại quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có vị thế cao và gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ lâu năm Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp Việt Nam thường phải đối mặt với rủi ro từ khách hàng nước ngoài, ảnh hưởng đến ngân hàng công nghiệp Một ví dụ điển hình là vào ngày 26.8.2004, Công ty Vật tư nông nghiệp Nghệ An (Agrimex) đã ký hợp đồng mua 6.500 tấn phân đạm urea từ Công ty Summit Prakasa Asia Pte Ltd, Singapore với giá 229 USD/tấn Để thực hiện hợp đồng, vào ngày 30.8, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An đã mở L/C số 440LCB200400025 Mọi thủ tục diễn ra thuận lợi và đến ngày 7.9, phía Summit đã chỉ định tàu Long Biên để vận chuyển lô hàng đến cảng TP.Hồ Chí Minh.
Vào ngày 8 tháng 9, Agrimex đã ký hợp đồng SPA/UREA/VTN-629/2004 ("629") để mua thêm 6.500 tấn urea từ "Summit" Do giá urea trên thị trường đang tăng cao, Agrimex phải chấp nhận mức giá 243 USD/tấn cho giao dịch này Hợp đồng cũng được thực hiện thông qua Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An.
Vào ngày 18.9, Summit đã xếp lên tàu Long Biên 6.300 tấn urea để giao cho Agrimex theo L/C số 440LCB200400027 ("LC 27") Tuy nhiên, Summit lại lập chứng từ thanh toán cho hợp đồng thứ hai "629" với giá trị 1.530.900 USD, đồng nghĩa với việc họ giao hàng cho hợp đồng sau và trốn tránh trách nhiệm giao hàng cho hợp đồng "627" đã ký trước đó, gây thiệt hại cho Agrimex lên tới 236.550 USD.
Từ ngày 27.9 đến 7.10, Agrimex đã gửi nhiều văn bản yêu cầu Summit thực hiện nghĩa vụ giao hàng nhưng không nhận được phản hồi Đến hạn giao hàng 10.10 theo hợp đồng "627", Summit vẫn không giao hàng Để đối phó với vụ kiện, Summit đề nghị giao hàng với giá 247,5 USD/tấn, cao hơn giá cũ 229 USD/tấn, và yêu cầu Agrimex rút đơn kiện Ông Trương Văn Hiền, giám đốc Agrimex, cho biết Summit đã giao lô hàng đã cam kết cho Unimex Hà Tĩnh với giá 266 USD, thu lợi chênh lệch 154.012,6 USD Hành động này không chỉ vi phạm hợp đồng mà còn gây thiệt hại cho Agrimex và ảnh hưởng đến ngân hàng công thương Việt Nam.
Trong lĩnh vực thanh toán hàng xuất khẩu, rủi ro liên quan đến L/C giả và bộ chứng từ giả ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các ngân hàng từ khu vực Trung Cận Đông Nhiều trường hợp L/C thật nhưng bản sửa đổi lại giả, dẫn đến việc hàng hóa đã được xếp lên tàu trước khi ngân hàng phát hiện Các L/C này thường được phát hành qua thư, và ngân hàng phát hành không tham gia mạng SWIFT, gây khó khăn cho ngân hàng công thương trong việc xác minh chữ ký và mẫu dấu Rủi ro phổ biến khác là ngân hàng nước ngoài có thể trì hoãn thanh toán hoặc tìm cách bắt lỗi không hợp lý, gây áp lực lên người bán Việt Nam, phản ánh rủi ro đạo đức của ngân hàng phát hành.
Thực trạng rủi ro trong phương thức L/C trả chậm
Trong phương thức L/C trả chậm, rủi ro cao hơn so với L/C trả ngay do hàng hóa nhập khẩu thường được thế chấp Rủi ro này phát sinh khi hợp đồng đã thực hiện nhưng khách hàng không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán Ngân hàng sẽ coi các thư tín dụng không thanh toán là khoản cho vay bắt buộc và vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng.
Bảng 2.2.Các khoàn công nợ của L/C
Ngân hàng Công Thương Việt Nam ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả chậm trong giai đoạn 1995-1997 Tính đến cuối năm 1994, tổng dư nợ bảo lãnh đạt 72 triệu USD, và con số này đã tăng lên 235 triệu USD vào cuối năm 1995.
Bảng 2.3: Doanh số thực hiện L/C trả chậm tại ngân hàng công thương Việt Nam Đơn vị: Triệu đồng
Số dư đầu kỳ Phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ
( Nguồn số liệu ngân hàng công thương VN )
Vào năm 1999 và 2000, Ngân hàng Công thương đã thu hồi một số khoản mà ngân hàng đã thanh toán thay cho khách hàng trong các năm trước, dẫn đến việc cột này xuất hiện dấu (-).
Qua hoạt động thực tiễn ở ngân hàng công thương, những rủi ro phát sinh trong L/C trả chậm có thể kể đến những rủi ro chủ yếu sau:
2.2.1 Rủi ro hàng hóa khó tiêu thụ
Rủi ro này do nguyên nhân giá cả cao hay chất lượng hang hóa không đảm bảo.Cụ thể:
Giá cả hàng hóa nhập khẩu thường cao do phương thức L/C trả chậm, trong đó tiền hàng bao gồm cả lãi suất trả chậm không được ghi cụ thể Điều này khiến người mua không nhận thức được mức lãi suất cao, thậm chí có khi còn vượt qua lãi suất của ngân hàng Công thương Việt Nam, dẫn đến giá hàng hóa thực tế cao hơn nhiều Hệ quả là khả năng tiêu thụ hàng hóa và việc trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp nhập khẩu bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nhiều hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu theo phương thức L/C trả chậm thường là hàng hóa ế thừa, chất lượng kém, gây khó khăn trong việc tiêu thụ tại Việt Nam, dẫn đến tình trạng tồn đọng vốn lưu động lớn Đối với máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất, nếu doanh nghiệp Việt Nam không có kiến thức đầy đủ, họ có thể dễ dàng nhập khẩu những thiết bị cũ và lạc hậu.
2.2.2 Rủi ro về đạo đức khách hàng Việt Nam
Do việc chưa thanh toán nước ngoài, các nhà nhập khẩu thường xem nhẹ quản lý tiêu thụ hàng hóa, dẫn đến tình trạng lợi dụng vốn kinh doanh để kiếm lãi cao hơn Một số khách hàng thậm chí còn tìm cách lừa đảo ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng khi phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng hạn Để giữ chữ tín trong thanh toán quốc tế, ngân hàng công thương đã phải đứng ra chi trả thay cho các khách hàng không còn khả năng thanh toán, điển hình là các khoản nợ của công ty Minh Phụng và Epco, với tổng số tiền lên đến 200 triệu USD mà hiện nay ngân hàng không thể đòi lại.
Một sự việc nghiêm trọng liên quan đến việc phát hành 2 L/C trả chậm của chi nhánh Ngân hàng Công Thương Việt Nam cho dây chuyền thiết bị sản xuất nước tinh khiết và giấy dầu của Hàn Quốc, trị giá 800.000 USD, vẫn chưa được giải quyết Nước ngoài đã cáo buộc Ngân hàng Công Thương Việt Nam không thực hiện cam kết thanh toán theo thông lệ quốc tế Tuy nhiên, quyết định từ chối thanh toán của Ngân hàng Công Thương Việt Nam dựa trên các cơ sở hợp lý.
Nhà nhập khẩu đã vi phạm hợp đồng ngoại thương, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho doanh nghiệp nhập khẩu tại Việt Nam Hiện tại, vụ việc đang trong giai đoạn tranh chấp và được trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam thụ lý.
Ngân hàng Hàn Quốc đã thực hiện việc chuyển nhượng L/C trái với quy định của UCP 500, cụ thể là chuyển nhượng hai lần mà không có sự đồng ý của ngân hàng công thương Việt Nam Trong khi đó, bộ chứng từ gốc và các hối phiếu liên quan đến L/C vẫn đang được ngân hàng công thương Việt Nam lưu giữ và chưa được ký hậu.
Thứ ba, L/C đã hết hạn hiệu lực.
Dưới đây là nguyên nhân dẫn đến rủi ro ở ngân hàng công thương
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro ở ngân hàng công thương
2.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Thiếu thông tin là một trong những nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp Việt Nam không thể lựa chọn được khách hàng uy tín trong thương mại quốc tế Nhiều doanh nghiệp chỉ tìm đến cơ quan chức năng để xác minh đối tác sau khi đã xảy ra rủi ro, dẫn đến việc bị lừa đảo bởi các công ty "ma" Kinh doanh quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm rõ khả năng tài chính và uy tín của đối tác, nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tìm được đối tác tin cậy, dẫn đến tình trạng bị ép giá và lừa đảo.
Thứ hai, do trình độ nghiệp vụ còn yếu kém
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ một nền kinh tế ngoại thương độc quyền sang nền kinh tế mở và hội nhập, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm Trong khi đó, các đối tác nước ngoài có hàng trăm năm kinh nghiệm trong lĩnh vực buôn bán quốc tế, thì đội ngũ chuyên gia của chúng ta trong các lĩnh vực pháp luật, kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương và thanh toán quốc tế vẫn còn thiếu hụt do chưa được đào tạo kịp thời Theo thống kê, hơn 60% cán bộ làm nghiệp vụ tại các doanh nghiệp xuất khẩu chưa được đào tạo về nghiệp vụ ngoại thương, dẫn đến nguy cơ xảy ra sai lầm trong tác nghiệp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Do khách hàng thiếu trung thực
Rủi ro về đạo đức trong giao dịch của khách hàng Việt Nam chủ yếu xuất phát từ sự thiếu trung thực Nhiều khách hàng vì lợi ích trước mắt đã vi phạm cam kết, chẳng hạn như sử dụng tiền thu được từ hàng hóa đã bán để chi cho mục đích khác thay vì trả nợ ngân hàng Thậm chí, họ còn dùng lô hàng mới nhập khẩu để thế chấp vay vốn tại ngân hàng khác Hành động trì hoãn và từ chối thanh toán của một số khách hàng không chỉ trái với thông lệ quốc tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng công thương Việt Nam.
2.3.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng công thương
2.3.2.1 Hoạt động nghiệp vụ còn nhiều vướng mắc và thiếu sót.
Ngoài các rủi ro liên quan đến khách hàng, ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro do cán bộ ngân hàng thiếu trình độ nghiệp vụ và trách nhiệm trong công việc Việc không kiểm tra kỹ lưỡng bộ chứng từ và thiếu thông tin cụ thể về uy tín của khách hàng khi mở L/C có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Hạn mức tín dụng và hạn mức mở L/C do ngân hàng công thương quy định là cần thiết để quản lý việc phát hành L/C của các chi nhánh, nhưng điều này cũng gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động hiệu quả Nhiều doanh nghiệp không được cấp hạn mức đủ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, dẫn đến việc chờ đợi phê duyệt từ Hội sở chính, làm chậm trễ trong việc mở L/C Hệ quả là khách hàng nước ngoài có thể từ chối giao hàng do giá cả tăng hoặc lý do không nhận được L/C đúng hạn, gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam mà không thể kiện được đối tác nước ngoài.
Việc chấp hành quy chế và quy trình nghiệp vụ L/C trả chậm tại nhiều chi nhánh chưa nghiêm túc, dẫn đến việc mở L/C trả chậm cho khách hàng như thủ tục trả ngay, bỏ qua nghiệp vụ bảo lãnh hoặc nới lỏng các nguyên tắc bảo lãnh Một số chi nhánh thiếu tờ trình thẩm định hoặc có tờ trình sơ sài, không đúng quy trình xét duyệt bảo lãnh Ngoài ra, một số món bảo lãnh vượt quá quyền phán quyết của chi nhánh, chấp nhận bảo lãnh mà không thực hiện ký quỹ, thậm chí cho vay để ký quỹ mở L/C trả chậm hoặc chỉ ký quỹ một phần mà không có tài sản thế chấp Những vi phạm và sự tùy tiện trong thực hiện quy chế bảo lãnh đã gây ra mất an toàn trong công tác thanh toán L/C trả chậm.
Các ngân hàng cần có phương án quản lý chặt chẽ hàng hóa, bao gồm việc giữ chìa khóa kho hàng và chỉ cho phép xuất hàng khi có lệnh từ ngân hàng, đồng thời yêu cầu tiền bán hàng phải nộp ngay vào tài khoản quản lý Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu hết các chi nhánh ngân hàng công thương Việt Nam không có kho quản lý hàng hóa và không theo dõi quá trình tiêu thụ, dẫn đến việc không kiểm soát được việc sử dụng tiền bán hàng trước hạn thanh toán Điều này đã tạo điều kiện cho khách hàng lợi dụng vốn quay vòng, gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán.
Công tác thẩm định dự án cần được coi trọng hơn, đặc biệt đối với các L/C trả chậm nhập khẩu máy móc và dây chuyền sản xuất Việc thẩm định dự án đầu tư đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Tại các chi nhánh của Ngân hàng Công Thương Việt Nam, quy trình thẩm định dự án hiện nay còn nhiều hạn chế và mang tính hình thức Nguyên nhân chủ yếu là do ngân hàng muốn duy trì mối quan hệ với khách hàng truyền thống, dẫn đến việc bỏ qua một số bước quan trọng trong quy trình thẩm định Hơn nữa, trình độ của cán bộ ngân hàng chưa đáp ứng yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu và thẩm định dự án Chất lượng thẩm định kém này là một trong những yếu tố chính gây ra rủi ro trong hoạt động bảo lãnh L/C trả chậm của ngân hàng.
2.3.2.2 Kinh doanh ngoại tệ chưa đáp ứng được nhu cầu thanh toán L/C
Ngân hàng Công Thương Việt Nam quy định các chi nhánh không được bán ngoại tệ cho nhau hoặc cho ngân hàng khác, và số dư tài khoản mua bán ngoại tệ không vượt quá 500.000 USD Quy định này nhằm tránh ứ đọng vốn trong kinh doanh ngoại tệ, tuy nhiên, nếu chi nhánh cần ngoại tệ để phục vụ khách hàng thanh toán L/C, ngân hàng có thể cung ứng kịp thời Thực tế, ngân hàng không đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu này, khiến các chi nhánh phải tìm mua từ khách hàng và ngân hàng khác Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam thường xuyên mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, dẫn đến cung ngoại tệ không đủ đáp ứng cầu, làm cho nguồn mua ngoại tệ từ khách hàng của Ngân hàng Công Thương Việt Nam thường không đủ để thỏa mãn nhu cầu.
2.3.2.3 Trình độ nghiệp vụ cán bộ ngân hàng còn nhiều hạn chế
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng thường thấp ở những chi nhánh có khối lượng thanh toán quốc tế ít Tình trạng này gây ra khó khăn và rủi ro cho cả ngân hàng và khách hàng do cán bộ thanh toán quốc tế không nắm vững nghiệp vụ.
Nhiều lãnh đạo chi nhánh ngân hàng chưa nắm vững hoạt động ngân hàng đối ngoại, dẫn đến việc họ chưa chú trọng vào việc điều hành và phát triển nghiệp vụ này Họ cũng chưa chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng cũng như phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại quốc tế.
2.3.2.4.Công tác kiểm tra giám sát kém hiệu quả
Kiểm tra giám sát là một nghiệp vụ quan trọng giúp đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, phát hiện sai sót trong bảo lãnh L/C trả chậm và kiểm soát việc sử dụng vốn của khách hàng Tuy nhiên, công tác này thường mang tính hình thức và không hiệu quả, dẫn đến việc không phát hiện kịp thời các vi phạm nghiêm trọng Một số chi nhánh chưa chú trọng đúng mức đến công tác này, làm giảm vai trò của nó, và thậm chí khi phát hiện sai sót, họ cũng không có biện pháp xử lý hiệu quả.
Nguyên nhân trên giác độ vĩ mô
3.3.1 Môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C chưa hoàn thiện
Hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng và thanh toán quốc tế tại Việt Nam còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ, với việc các nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện luật ngân hàng bị chậm ban hành Điều kiện thực thi luật chưa đầy đủ, thiếu quy chế và văn bản pháp lý hướng dẫn giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, cũng như chưa có văn bản công nhận và hướng dẫn áp dụng UCP, Incoterm Sự khác biệt giữa luật quốc gia và thông luật quốc tế gây khó khăn cho các bên tham gia phương thức L/C Có trường hợp khách hàng nước ngoài đã giao hàng và xuất trình chứng từ đúng với L/C, nhưng do vi phạm pháp luật của khách hàng Việt Nam, tài sản và tài khoản của họ tại ngân hàng bị phong tỏa, dẫn đến việc tòa án cấm ngân hàng thanh toán L/C cho nước ngoài, gây tổn thất về tài sản và uy tín cho ngân hàng công thương Việt Nam.
3.3.2 Chính sách thương mại chưa ổn định
Chính sách thương mại không ổn định và biểu thuế thay đổi thường xuyên đang gây khó khăn cho ngân hàng và doanh nghiệp trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh Thủ tục hành chính rườm rà trong quản lý xuất nhập khẩu tiêu tốn nhiều thời gian, làm mất cơ hội kinh doanh Hơn nữa, sự phối hợp giữa các bộ ngành chưa chặt chẽ và chức năng của ngân hàng trong quản lý nhập khẩu chưa được làm rõ, tạo ra trở ngại cho hoạt động thanh toán quốc tế.
Định hướng kế hoạch xuất nhập khẩu của chính phủ Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu Mặc dù chính phủ khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu, nhưng vẫn thiếu chiến lược tổng thể để hỗ trợ kịp thời, đặc biệt trong khâu tiêu thụ sản phẩm Một số doanh nghiệp đã tìm kiếm thị trường mới, như thị trường thủy sản Mỹ, nhưng gặp khó khăn do các rào cản thuế quan và phi thuế quan nghiêm ngặt Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp xuất khẩu mà còn tạo áp lực cho ngân hàng công thương trong việc bảo vệ khách hàng.
3.3.3 Tỷ giá hối đoái không ổn định
Chính sách quản lý ngoại hối của chính phủ và ngân hàng nhà nước hiện đang gặp nhiều vấn đề, dẫn đến tình trạng thừa thiếu ngoại tệ gây khó khăn trong thanh toán ngân hàng Bên cạnh đó, sự biến động trong tỷ giá giữa các đồng tiền cũng tạo ra rủi ro mất mát cho các ngân hàng.
Thị trường ngoại hối ở Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh, khiến các ngân hàng thương mại phải tự tìm kiếm ngoại tệ qua nhiều hình thức khác nhau Điều này dẫn đến chi phí cao và không đảm bảo về thời gian cũng như khối lượng ngoại tệ cần thiết cho các giao dịch thanh toán.
Chương 3: Các giải pháp giảm thiểu rủi ro tại Ngân hàng
Công thương Việt Nam và các kiến nghị
Cơ hội và thách thức hiện nay đối với NHCTVN
Từ năm 2010, Việt Nam đã mở cửa gần như hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng theo cam kết hội nhập quốc tế, mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng Chính thương Việt Nam (NHCTVN).
Cổ phần hóa ngân hàng thương mại là một xu thế tất yếu, và vào ngày 23 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Số 1354/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam Ngân hàng này đã tiến hành cổ phần hóa bằng cách giữ nguyên vốn nhà nước hiện có và phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, đảm bảo Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối không dưới 51% vốn điều lệ Đến ngày 25 tháng 12 năm 2008, ngân hàng đã thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng 10% vốn điều lệ với giá bình quân là 20.265 đồng, so với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu.
Cổ phần hóa ngân hàng đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho NHCTVN, nâng cao vị thế của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng quốc tế và mở rộng mạng lưới đối tác Việc nắm bắt thông tin về uy tín và khả năng thanh khoản của đối tác trong thanh toán quốc tế giúp giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là rủi ro về đạo đức khách hàng.
Hội nhập quốc tế thúc đẩy cải cách ngân hàng, buộc các ngân hàng trong nước hoạt động theo nguyên tắc thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh Khi có cổ đông chiến lược là nhà đầu tư nước ngoài uy tín, họ sẽ tham gia vào hội đồng quản trị, tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế Điều này giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng, tăng cường giám sát, quản trị tài sản và quản trị rủi ro, đồng thời minh bạch hóa hoạt động ngân hàng và cải thiện tình hình tài chính.
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và nới lỏng hạn chế đối với tổ chức tài chính nước ngoài là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng Việc mở rộng quan hệ đại lý quốc tế giúp các ngân hàng trong nước phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại, từ đó thúc đẩy hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ Năm 2008, NHCTVN đã mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý toàn cầu với hơn 850 ngân hàng tại hơn 80 quốc gia, tăng cường hợp tác với các ngân hàng nước ngoài Doanh số thanh toán nhập khẩu đạt 7,02 tỷ USD, tăng 44,68% so với năm 2007, trong khi doanh số thanh toán xuất khẩu đạt 4,25 tỷ USD, tăng 48,8% Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước dễ dàng tiếp cận thị trường tài chính quốc tế, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, đồng thời phản ứng linh hoạt với tín hiệu thị trường để tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
Mặc dù có nhiều cơ hội phát triển, các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng công thương Việt Nam, cũng đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Do đó, việc xác định những thách thức này và tìm ra các phương hướng, giải pháp khắc phục là rất cần thiết.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, đất nước không chỉ nhận được quyền lợi mà còn đối mặt với nhiều thách thức Ngành ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng công thương Việt Nam, cũng phải đối diện với những khó khăn riêng biệt trong bối cảnh này.
Việc mở cửa thị trường tài chính đã dẫn đến sự gia tăng số lượng ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và quản lý Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh cũng gia tăng theo lộ trình nới lỏng quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, bao gồm việc mở chi nhánh, điểm giao dịch, và mở rộng phạm vi hoạt động Trong khi đó, các tổ chức tài chính Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, đặc biệt là về khả năng huy động tiền gửi và mở rộng dịch vụ ngân hàng.
Trình độ chuyên môn và quản lý còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp và sức cạnh tranh yếu Nợ quá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro kém, vốn nhỏ và năng lực tài chính thấp, cùng với chất lượng tài sản chưa đạt yêu cầu.
Hoạt động tín dụng đang mở rộng nhanh chóng, tuy nhiên, rủi ro tín dụng vẫn chưa được kiểm soát và đánh giá một cách chặt chẽ, không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu hội nhập.
Sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay còn đơn điệu, thiếu tính tiện ích và chất lượng dịch vụ chưa cao Quy trình quản trị chưa tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, dẫn đến tính minh bạch thấp Hơn nữa, môi trường làm việc và văn hóa kinh doanh chưa được hình thành do vai trò và trách nhiệm trong công việc chưa rõ ràng, cùng với hệ thống thông tin quản lý và quản lý rủi ro chưa hiệu quả.
Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán hiện nay đang lạc hậu, có nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực Điều này dẫn đến việc không đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực quản lý của Ngân hàng Nhà nước Hơn nữa, khả năng chống đỡ rủi ro của các ngân hàng thương mại cũng còn nhiều hạn chế.
Hệ thống ngân hàng hiện tại gặp nhiều bất cập do thể chế chưa hoàn thiện, cùng với đó là hệ thống pháp luật về ngân hàng thiếu sự đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cải cách cũng như lộ trình hội nhập.
Sau năm 2010, các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ dần mất lợi thế cạnh tranh về quy mô, khách hàng và kênh phân phối khi các hạn chế và sự phân biệt đối xử được loại bỏ Điều này dẫn đến việc ngân hàng nước ngoài gia tăng quy mô hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường, cùng với việc cung cấp đa dạng dịch vụ Tuy nhiên, rủi ro cho hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể gia tăng khi các ngân hàng nước ngoài kiểm soát một số tổ chức tài chính trong nước thông qua góp vốn và mua cổ phần, khiến một số tổ chức tài chính nội địa đối mặt với nguy cơ thua lỗ và phá sản do sức cạnh tranh yếu và khả năng kiểm soát rủi ro hạn chế trong môi trường ngân hàng quốc tế.
Mở cửa thị trường tài chính trong nước gia tăng rủi ro từ các yếu tố bên ngoài, đồng thời làm giảm cơ hội khai thác chênh lệch tỉ giá và lãi suất giữa thị trường nội địa và quốc tế Ngân hàng Công thương Việt Nam đang phải đối mặt với các cú sốc kinh tế và tài chính toàn cầu, cũng như nguy cơ khủng hoảng.
Giải pháp giảm thiểu rủi ro
Phương thức tín dụng chứng từ là hình thức thanh toán chủ yếu trong giao dịch quốc tế của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng công thương Mặc dù đây là phương thức hiệu quả, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các bên tham gia Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế cạnh tranh, các ngân hàng cần tìm cách giảm thiểu rủi ro đến mức tối thiểu Bài viết này sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Công thương Việt Nam.
3.2.1 Giải pháp về nghiệp vụ Đối với L/C nhập khẩu trả ngay: khi đó ngân hàng Công thương Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng phát hành, nên sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro nhất từ khâu mở L/C đến khi nhận được bộ chứng từ hàng hóa và thanh toán ra nước ngoài. Để tránh rủi ro cần các giải pháp sau:
Để ngăn ngừa rủi ro trong giao dịch xuất nhập khẩu, việc nâng cao thẩm định tình hình tài chính của khách hàng nhập khẩu tại Việt Nam là rất quan trọng Điều này giúp ngân hàng phát hành hiểu rõ hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó giảm thiểu rủi ro tín dụng Bản chất của thư tín dụng (L/C) là độc lập với hợp đồng ngoại thương và hàng hóa, vì vậy việc nắm vững thông tin tài chính là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ lợi ích của ngân hàng.
Hai là: xem xét những điều kiện bất lợi trong L/C.
Nếu thư tín dụng (L/C) cho phép yêu cầu thanh toán qua điện, sau khi người bán cung cấp bộ chứng từ hoàn hảo cho ngân hàng của mình, ngân hàng này có quyền gửi điện yêu cầu thanh toán tới ngân hàng phát hành Đây là hình thức yêu cầu thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi, nghĩa là nếu sau khi chuyển tiền mà bộ chứng từ có lỗi và nhà nhập khẩu từ chối thanh toán, ngân hàng phát hành có quyền đòi lại số tiền đã chuyển.
Nếu L/C quy định ngân hàng hoàn tiền lại là ngân hàng thứ ba ở nước ngoài thì sẽ rủi ro cho ngân hàng nước ngoài (theo UR 525)
Khi L/C yêu cầu xác nhận, cần lựa chọn ngân hàng có đại lý uy tín và quan hệ tốt với Ngân Hàng Công Thương Việt Nam để thực hiện việc xác nhận.
Ngân hàng cần yêu cầu nhà nhập khẩu cam kết mua bảo hiểm hàng hóa trước khi mở thư tín dụng (L/C), đặc biệt là đối với các L/C được cấp bằng vốn vay ngân hàng Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và tránh tranh chấp liên quan đến hàng hóa.
Định mức quỹ hợp lý là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng phát hành giảm thiểu rủi ro về tỷ giá và tín dụng Nếu tỷ giá tăng mạnh, tỷ lệ ký quỹ cao có thể khiến nhà nhập khẩu lựa chọn phương án nhận hàng có lợi hơn Trong trường hợp khách hàng gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng có quyền quản lý lô hàng và chỉ trả một phần giá trị L/C Tuy nhiên, việc xác định mức ký quỹ hợp lý không hề đơn giản, vì mức ký quỹ cao có thể gây khó khăn về vốn cho khách hàng, dẫn đến việc họ chuyển sang ngân hàng khác với mức ký quỹ thấp hơn Đồng thời, không nên phân biệt giữa tỷ giá ký quỹ của L/C mở bằng vốn tự có và vốn vay ngân hàng, vì mức độ an toàn của cả hai loại này tương đương Mức ký quỹ thường phụ thuộc vào uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, khả năng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế của lô hàng nhập khẩu, và tỷ lệ trượt giá của đồng tiền.
Ngân hàng mở cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định của UCP trong việc thông báo về sự bất hợp lệ của bộ chứng từ Theo đó, ngân hàng mở phải thông báo cho ngân hàng chuyển chứng từ hoặc ngân hàng chiết khấu trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được chứng từ Thông báo này phải nêu rõ tất cả các bất hợp lệ mà ngân hàng đã phát hiện, và những bất hợp lệ này phải được coi là toàn bộ và cuối cùng, không được bổ sung thêm bất kỳ bất hợp lệ nào khác sau đó.
Theo quy định của UCP, người bán có quyền từ chối bản sửa đổi L/C mà không cần thông báo Để tránh tình trạng không rõ ràng về việc người bán có chấp nhận sửa đổi hay không, Ngân hàng Công thương Việt Nam nên thêm một câu vào bản sửa đổi: “Nếu trong vòng… ngày kể từ ngày sửa đổi L/C, ngân hàng phát hành không nhận được thông tin gì từ ngân hàng thông báo, thì bản sửa đổi này tự động có hiệu lực.”
Năm là: Cần liên hệ chặt chẽ với khách hàng nhập khẩu.
Khi nhận bộ chứng từ thanh toán, ngân hàng cần liên hệ với khách hàng nhập khẩu để xác minh thông tin về hàng hóa, bao gồm việc giao hàng và chất lượng sản phẩm Nếu có vấn đề, cán bộ thanh toán quốc tế phải kiểm tra kỹ lưỡng chứng từ, phát hiện sai sót để thông báo từ chối thanh toán, bảo vệ quyền lợi của khách hàng mà không vi phạm UCP Đối với L/C nhập khẩu trả chậm, ngân hàng Công thương Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng phát hành và ngân hàng chấp nhận hối phiếu trả chậm.
Cần hoàn thiện quy chế bảo lãnh L/C trả chậm để phù hợp với thực tiễn, nhằm khắc phục tâm lý sợ trách nhiệm và từ chối các yêu cầu của khách hàng về mở L/C trả chậm Việc này đặc biệt quan trọng cho các dự án nhập khẩu máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất mới, hiện đại, giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Hai là: Nâng cao công tác thẩm định dự án đầu tư
Công tác thẩm định là yếu tố then chốt trong việc quyết định bảo lãnh cho doanh nghiệp khi mở L/C trả chậm với nước ngoài Do đó, việc nghiên cứu và thực hiện công tác này cần được tiến hành một cách nghiêm túc Ngân hàng Công thương Việt Nam cần tổ chức các lớp huấn luyện để nâng cao chuyên môn cho cán bộ, đảm bảo quy trình thẩm định hiệu quả và chính xác.
Ba là: Tăng cường kiểm tra và kiểm soát các L/C trả chậm, đồng thời quản lý chặt chẽ tiền hàng thu được từ dự án nhằm đảm bảo nguồn thanh toán cho các đối tác nước ngoài.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán với nước ngoài khi đến hạn và đánh giá đúng tiến độ dự án, cần thực hiện tốt công tác kiểm soát các L/C trả chậm Đối với các khoản nợ vay bắt buộc đã phát sinh, cần rà soát nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời, bao gồm việc đôn đốc đơn vị tiêu thụ hàng hóa để trả nợ ngân hàng, hoặc phối hợp với các cơ quan pháp luật để giải quyết những món nợ khó đòi và xử lý tài sản thế chấp.
Ngân hàng Công thương Việt Nam tham gia vào phương thức L/C với vai trò ngân hàng thông báo, cung cấp dịch vụ thu phí mà không chịu trách nhiệm thanh toán Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phải đảm bảo quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, do đó cần xác thực tính trung thực của các L/C bằng cách kiểm tra mã khóa.
Kiến nghị
3.3.1.Kiến nghị với chính phủ
Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại chủ yếu xuất phát từ các yếu tố kinh tế vĩ mô Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, với mức tăng 8,4% vào năm 2007, cao nhất trong 10 năm qua Tuy nhiên, năm này cũng chứng kiến nhiều biến động trên thị trường, với lạm phát đạt mức hai con số Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tạo áp lực ngoại tệ cho ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng công thương Việt Nam, dẫn đến khó khăn trong việc điều hành tỷ giá và gia tăng giá xăng dầu, vàng, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô, do đó cần xây dựng các chính sách kinh tế đồng bộ, nhất quán và có tính định hướng lâu dài để đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế.
Chính phủ cần thiết lập một khung pháp lý đồng bộ và ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm đảm bảo hoạt động an toàn và thuận lợi cho các ngân hàng Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng là cần thiết, bao gồm sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng, cũng như xây dựng và điều chỉnh các quy định về cấp phép, tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng để tuân thủ các cam kết khi gia nhập WTO Hơn nữa, cần hoàn thiện các quy định về quản lý ngoại hối để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng.
Chính phủ cần ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các thông lệ quốc tế nhằm đồng bộ hóa hệ thống luật trong nước với các quy định pháp luật của các quốc gia khác Điều này sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp pháp lý giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, do mỗi quốc gia có những quy định về nguồn luật riêng biệt.
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước
Ngân hàng Nhà nước cần chú ý đến các diễn biến cụ thể của thị trường để có thể đưa ra các biện pháp phù hợp cho các ngân hàng thương mại, nhằm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra.
Ngân hàng Nhà nước cần triển khai các biện pháp cải thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhằm hướng tới việc hình thành thị trường hối đoái Việt Nam.
Các ngân hàng thương mại phải thực hiện giám sát ngoại hối cuối ngày, đồng thời bắt buộc xử lý trạng thái ngoại hối của mình thông qua việc mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng.
Mở rộng đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bao gồm Ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại, và các đơn vị thành viên có doanh số thanh toán quốc tế lớn, cùng với những người môi giới Điều này tạo ra một thị trường sôi động với tỷ giá sát thực hơn, giúp nâng cao tính cạnh tranh và minh bạch trong giao dịch ngoại tệ.
Phát triển các nghiệp vụ vay mượn ngoại tệ, đầu cơ, gửi tiền qua đêm và các hình thức giao dịch ngoại tệ như mua bán kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền mua và quyền bán là rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính.
+ Cần tăng cường hơn nữa vai trò của ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trở nên cực kỳ quan trọng Hội nhập mang đến cơ hội để NHNN tăng cường hợp tác với các ngân hàng trung ương và tổ chức tài chính quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ và ngăn ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường tiền tệ hoạt động an toàn sẽ góp phần nâng cao hiệu lực chính sách tiền tệ Đồng thời, hội nhập quốc tế thúc đẩy cải cách thể chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý tài chính, đồng thời loại bỏ các hình thức bảo hộ và hỗ trợ tài chính đối với ngân hàng trong nước Do đó, NHNN cần tiếp tục nâng cao vai trò quản lý của mình đối với các ngân hàng thương mại.