Khái niệm Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài thì :” Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng về tra nợ
Trang 1Trờng đại học kinh tế quốc dân
- -BÀI TẬP LỚN MễN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề bài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ Lí HIỆU QUẢ
NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhúm sinh viờn thực hiện: Nhúm 6
1 Mai Thị Thanh Hằng - 11131219
2 Lờ Thị Nhung - 11133023
3 Hoàng Thế Thường - 11133912
4 Định Văn Kiờn - 11132002
5 Đàm Thanh Duy -
Lớp tớn chỉ : Tài chớnh quốc tế - 2
Hà Nội, 11/2015
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI VIỆT NAM 2 1.1 Khái niệm 2
1.2 Phân loại nợ nước ngoài 2
1.3 Vai trò của Nợ nước ngoài 3
PHẦN 2 : THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 5
2.1 Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam 5
2.2 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam 5
2.3 Cơ cấu nợ nước ngoài của việt nam 6
2.4 Tác động của tỷ giá đối với nợ nước ngoài Việt Nam 7
PHẦN 3: GIẢI PHẢP 11
3.1.Các biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán nợ 11
3.1.1 Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 11
3.1.2 Đảm bảo chính sách tỷ giá và dự trữ ngoại tệ 11
3.2 Các biện pháp giảm chi phí vay nợ 12
3.2.1 Gia tăng hệ số tín nhiệm quốc gia 12
3.2.2 Nâng cao tình thần chống tham nhũng 13
3.3 Biện pháp quản lý nợ vay hiệu quả 13
3.3.1 Kiểm soát nợ nước ngoài 13
3.3.2 Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả 14
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Nợ nước ngoài là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia Từ những nước nghèo nhất ở châu Phi đến những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Campuchia hay những cường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật, EU thì đều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của chính phủ nhằm các mục đích khác nhau Nợ nước ngoài cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lý tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ nước ngoài có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất cứ thời điểm nào và để lại những hậu quả nghiêm trọng Trong những năm gần đây, sự quan tâm của thế giới đang đổ vào Hy Lạp, nơi mà núi nợ đang đè lên lưng nước này
Nó đã đẩy nền kinh tế nước này vào nguy cơ sụp đổ với tổng số nợ công lên tới
300 tỷ Euro (chiếm 124% GDP năm 2009) và mức thâm hụt ngân sách hai con
số, trong khi tăng trưởng kinh tế tiếp tục âm Hiện nay, Hy Lạp là nước có mức
nợ công thuộc loại nhiều nhất tại châu Âu so với quy mô nền kinh tế và được ví như “một người bệnh đang trong thời kỳ nguy kịch” Mức độ tín nhiệm tài chính của nước này đã bị tụt xuống hạng BBB- Điều này đồng nghĩa với khả năng đi vay tiền từ bên ngoài trở nên khó khăn Nếu không trả được, Hy Lạp sẽ trở thành nước bị vỡ nợ, các chủ nợ sẽ tìm cách siết nợ,
Trang 4PHẦN 1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI VIỆT NAM 1.1 Khái niệm
Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài thì :” Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành ( không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng ) về tra nợ gốc và lãi tại một thời điểm các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”
Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài : Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm công tác liên ngành của IMF thì khái niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế , không phải công nợ bất thường ,đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc hoặc lãi tại một số thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nên kinh tế nợ và đối tượng không cư trú”
1.2 Phân loại nợ nước ngoài
Phân loại theo chủ thể đi vay gồm: Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh và nợ tư nhân
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh : Nợ công được định nghĩa là
các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm nợ của khu vực công với nợ của khu vực tư nhân được khu vực tư nhân bảo lãnh Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xã định là các công nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại một nền kinh tế với bên nợ đó
Nợ tư nhân: loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không
được khu vực công của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng Về bản chất đây
là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay , tự trả
Trang 5 Phân loại theo thời hạn vay gồm : nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn : là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống Vì thời
gian đáo hạn ngắn , khối lượng thường không đáng kể , nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng được quản lí chặt chẽ như nợ dài hạn Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng
Nợ dài hạn : là những công nợ có thời gianđáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã
gia hạn kéo dài tên một năm tính từ ngày ký kết vay nowjcho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia
Phân loại theo loại hình vay vốn : vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
và vay thương mại
Vay hỗ trợ phát triển chính thức ODA: bao gồ các chuyển khoản song
phương( giữa các Chính phủ ) hoặc đa phương( từ các tổ chức quốc tế cho chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là cho không, được ưu đãi
về lãi suất, thời gian trả nợ và thời gian ân hạn.Lãi suất vay hỗ trợ chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại, thời gian dài 9 từ 10,15 hay 20 năm) nhưng đôi khi kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định
Vay thương mại : khác với vay hỗ trợ vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay
thương mại không có ưu đãi về lãi suất và cả thời gian ân hạn.Lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trương tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường
Phân loại theo chủ thể cho vay gồm: nợ đa phương và nợ song phương
Nợ đa phương:đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc,WB,IMF, các
ngân hàng phát triển trong khu vực,các cơ quan địa phương như OPEC và liên chính phủ
Trang 6Nợ song phương : đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chức
OECD và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
1.3 Vai trò của Nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài tạo nguồn vốn bổ sung cho quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế , điều chỉnh cán cân thanh toán quốc gia
Góp phần hỗ trợ cho các nước vay nợ tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lí của các nhà tài trợ nước ngoài
Tăng them sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế đất nước
Góp phần chuyển đổi, hoàn thiện cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa
Trang 7PHẦN 2 : THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
2.1Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam
Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các quốc gia đang phát triển (có thể cho là các quốc gia thiếu vốn, cần sự giúp đỡ của các yếu tố ngoại sinh) , Chính phủ cần phải huy động các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ quá trình xây dựng và phát triển đất nước Nợ của Chính phủ chủ yếu xuất phát từ ba nguồn chủ yếu sau:
Nợ ODA (nguồn vốn vay phát triển chính thức- phần cho vay ưu đãi trong khoản hỗ trợ phất triển chính thức của ODA)
Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương
Phát hành trái phiếu quốc tế( một hình thức vay nợ nước ngài vừa mới được Chính phủ áp dụng)
2.2 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam
Tổng số vốn vay nước ngoài của Chính phủ đã giải ngân đạt gần 597 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 27,5% tổng số vốn vay của Chính phủ Đặc biệt, nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ chủ yếu được sử dụng cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo, chiếm trên 91% tổng số
Trong giai đoạn từ 2010 đến 2015, Chính phủ cấp bảo lãnh thực hiện hàng loạt chương trình, dự án trọng điểm sử dụng vốn vay nợ trong và ngoài nước, với tổng số vốn cam kết tương đương 12,4 tỷ USD, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2007
-2010, trong đó bảo lãnh vay trong nước chiếm khoảng 54% và nước ngoài chiếm khoảng 46%
Trang 8Theo đánh giá của Bộ Tài chính, trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, tổng vốn vay của Chính phủ đưa vào cân đối ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển (tính cả trái phiếu Chính phủ, không bao gồm cho vay lại) đạt trên 1.400 nghìn tỷ đồng, trung bình đạt 7% GDP và có tốc độ tăng 14%/năm
Nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ chỉ sử dụng để cho vay lại các chương trình, dự án đầu tư phát triển có khả năng hoàn vốn với trị giá giải ngân trong khoảng 5 năm qua ước đạt 237 nghìn tỷ đồng.Cũng trong vòng 5 năm trở lại đây, Việt Nam đã sử dụng 578 nghìn tỷ đồng vốn vay Chính phủ bảo lãnh để
hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn vay dài hạn để thực hiện chương trình, dự án trọng điểm, cấp bách
Theo tính toán của Bộ Tài chính, chưa tính số đảo nợ thì số trả nợ của năm 2014 ước khoảng hơn 141 nghìn tỷ đồng, năm 2015 khoảng hơn 166 nghìn
tỷ đồng Nợ công so với GDP năm 2014 ước khoảng 59,6% GDP, nằm trong giới hạn cho phép không quá 65% GDP Ước tính năm 2015 là 62,3%
Phương thức phát hành trái phiếu đã được thay đổi để phù hợp với thực trạng phát triển, minh bạch hóa hoạt động của thị trường và từng bước tiếp cận các chuẩn mực của thị trường quốc tế
Quy mô của thị trường trái phiếu Việt Nam đã tăng từ mức 2,82% GDP năm 2001 lên mức 19% GDP năm 2011 và khoảng 21,2% GDP năm2014.Thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đã huy động được một khối lượng vốn lớn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển
Dự kiến, năm 2015, sẽ phát hành 250 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ; trong đó, tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm là 180 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm là 50 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 15 năm là 20 nghìn
tỷ đồng./
Trang 92.3 Cơ cấu nợ nước ngoài của việt nam
Tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (chỉ bao gồm nợ Chính phủ trung ương, địa phương và nợ được Chính phủ bảo lãnh) tính đến cuối năm 2010 đã vượt $32.5 tỷ, từ con số gần $27.93 tỷ trong năm 2009 Trong con số 32.5%, tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ là $27.86 tỷ, chiếm 85.7% tổng dư nợ, tương đương 42.2% GDP năm 2010 và tăng $4.6 tỷ so với năm 2009, đạt mức
nợ cao nhất kể từ năm 2005 Tính chung giai đoạn 5 năm 2006-2010, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng gấp đôi Đến cuối năm 2013, nợ nước ngoài chiếm khoảng 37.3% GDP Đến cuối năm 2014, nợ nước ngoài của quốc gia bằng 39.9% GDP
Năm 2010, Việt Nam đã phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế với lợi suất trên 7% thời hạn 10 năm, tức là năm 2020 Theo tính toán, mỗi năm Việt Nam phải trả nợ cả gốc lẫn lãi khoảng $1.5 tỷ, đến năm 2020 thì số tiền phải trả lên tới $24 tỷ Trong khi đó, tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với tổng số nợ phải trả đang xuống thấp Tỷ lệ dự trữ ngoại hối năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, trong khi năm 2009 là 290% và năm 2008 là 2,808%
2.4 Tác động của tỷ giá đối với nợ nước ngoài Việt Nam
Như đã đề cập ở trên, nợ nước ngoài của Việt Nam đang ở khoảng $110
tỷ, bằng khoảng 60.3% GDP trong đó nợ nước ngoài tương đương 39.9%
Trang 10Giả sử với GDP khoảng $183 tỷ trong năm 2014 thì nợ nước ngoài sẽ ở mức khoảng $73 tỷ Với tỷ giá vừa được điều chỉnh tăng 3% (từ 21,246 lên 22,547 VND/USD, Việt Nam sẽ phải chi thêm khoảng 95 tỷ đồng
Tuy nhiên, con số này không thể phản ánh được hết những tác động của thay đổi tỷ giá tới số nợ nước ngoài của Việt Nam, bởi các khoản nợ đều có thời gian đáo hạn dài nên ảnh hưởng được chia đều theo từng năm Tác động trước mắt có thể thấy rõ là số tiền trả nợ gốc và lãi trong năm nay và năm sau sẽ tăng lên đáng kể
Đặc biệt, trong bối cảnh Fed sắp sửa nâng lãi suất, thị trường vốn quốc tế
có khả năng cũng tăng chi phí cho vay, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của chính phủ Việt Nam cũng tăng theo
Theo thống kê, các chủ nợ lớn nhất của Việt Nam năm là Nhật Bản (34.5% tổng nợ), WB (28.8%), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) (15.5%) và Đức (9.8%) Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam lên hơn $2 tỷ trong năm 2010 (so với hơn $1 tỷ của năm 2009)
Tuy đã phát hành thêm $1 tỷ trái phiếu chính phủ quốc tế, cơ cấu đồng tiền nợ của Việt Nam vẫn chủ yếu là các đồng tiền chủ chốt Yên Nhật chiếm tỷ
Trang 11trọng lớn nhất 38.83%; tiếp đến là SDR (Đồng tiền có quyền rút vốn đặc biệt của IMF) chiếm 27.06%; và Đô-la Mỹ, Euro lần lượt chiếm 22.16% và 9.18%
Trừ đồng Đô-la Mỹ đang mạnh lên thì các đồng Yên Nhật và Euro đang mất giá do chính sách nới lỏng tiền tệ của các ngân hàng trung ương Nếu có thể đàm phán để thanh toán các khoản nợ trong năm nay hoặc năm sau bằng những đồng tiền này thì sẽ có lợi hơn cho Việt Nam Tuy nhiên, các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam thường kéo dài, 5-10 năm tới kinh tế Nhật hoặc Euro zone phát triển thì nhiều khả năng các ngân hàng trung ương thay đổi chính sách khiến Yên hoặc Euro lên giá, thì biện pháp này sẽ không còn khả thi
Trong khi đó, Fed ra dấu sẽ tăng lãi suất dần dần Thời điểm các khoản nợ đáo hạn mà đồng Đô-la Mỹ tăng vọt thì sẽ thổi khoản nợ của chính phủ Việt Nam lên một con số khổng lồ Và đối tượng “khổ sở” gánh nợ lại là người dân Việt Nam
Theo tính toán của tờ Economist hồi tháng 5, trung bình mỗi người dân Việt Nam đang gánh khoảng $980 nợ Với khoản nợ đang tăng lên từng năm cùng với đồng Đô-la mạnh lên, gánh nặng nợ nần của Việt Nam ngày càng trở nên nghiêm trọng
Nợ nước ngoài của quốc gia đến cuối năm 2014 khoảng 39,9% GDP và
dự kiến đến năm 2020 khoảng 46% GDP (quy định là không quá 50% GDP) Tỷ
Trang 12lệ nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa dịch vụ năm 2014 khoảng 25,9%, trong đó có 11,32% là do các ngân hàng thương mại đã tận dụng cơ hội vay ngoại tệ ngắn hạn, lãi suất thấp ở nước ngoài
để đáp ứng ngay cho nhu cầu thanh toán hàng hóa dịch vụ nhập khẩu Chính phủ
sẽ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước tăng cường quản lý việc vay ngắn hạn của các
tổ chức tín dụng để từ năm 2015 bảo đảm tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ này trong giới hạn quy định (dưới 25% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa dịch vụ hàng năm)
Trang 13PHẦN 3: GIẢI PHẢP 3.1.Các biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán nợ
3.1.1 Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.
Để có thể đảm bảo an toàn tín dụng, nền kinh tế phải có tăng trưởng kinh
tế cao để đảm bảo lãi vay nợ không vượt quá khả năng sinh lời của nó Ở nước
ta trong những năm gần đây đã có những tín hiệu tích cực sau những năm tăng
trưởng GDP bị giảm mạnh do cuộc khủng hoảng kinh tế toán cầu,tăng trưởng
GDP trong các năm 2012,2013,2014 lần lượt đạt 5.25%,5.42%,5.98%,.Cùng
với đó xuất khẩu cũng là nguồn cung ngoại tệ quan trọng cho trả nợ vay nước ngoài, vì vậy muốn nâng cao năng lực trả nợ và hạn chế những rủi ro tác động từ bên ngoài đòi hỏi xuất khẩu phải tăng trưởng cao, đa dạng hoá về cơ cấu và chủng loại
3.1.2 Đảm bảo chính sách tỷ giá và dự trữ ngoại tệ
Điều hành chỉnh sách tỷ giá phù hợp với tình hình vay nợ của quốc gia.Chính phủ cần có những phân tích và dự báo hợp lý về tình hình tài chính quốc tế để đưa ra những dự đoán tỷ giá trong tương lai,từ đó có thể lên kế hoạch vay nợ hợp lý
Dự trữ ngoại tệ là phương tiện đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế nhằm thoả mãn nhu cầu nhập khẩu, mở rộng đầu tư, hợp tác kinh tế với nước ngoài Bên cạnh đó dự trữ ngoại tệ còn được sử dụng như một lực lượng để can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm điều tiết tỷ giá hối đoái và để đối phó với những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra Như vậy, dự trữ ngoại tệ có vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế Do đó, cần thiết phải gia tăng dự trữ ngoại hối