Khảo sát thành phần hóa học cây ngọt nghẹo Gloriosa Superba L
Trang 22 TONG QUAN
2 1 Cây ngọt nghẹo:
Cây ngọt nghẹo hay còn gọi là roi, có củ nhú nhoái, có tên khoa học là Gloriosa superba L (Lindl), thuộc họ hành tỏi Liliaceae Ngoài ra cây còn
có tên thông thường: Glory lily, Climbing lily, Colchicaceae, Glorisa lily, Tiger claw, Flame lily, Isimiselo, Vlamlelie
2.1.1 Mô tả thực vat:
Cây ngọt nghẹo là loại cây sống lâu do thân rễ gồm một chuỗi củ mẫm,
láng, hình cung, trắng hay vàng Thân cây leo cao tới 3-6 m, nhấn mềm, phía đỉnh có cạnh Lá mọc so le hay mọc đối, đôi khi mọc vòng, không cuống hay
cuống ngắn Lá màu xanh tươi, phiến lá hình mác dài từ 1.2-2 cm, các tua cuốn hình thành tại đầu những chiếc lá cuộn lại hình xoắn ốc, toàn bộ dài 7-
12 cm, rộng 2-3 cm, gân dọc rất sát nhau Các tua cuốn dùng để bám chặt
vào những vật gần đó hay quấn vào những cây khác để giữ cho các thân leo
bò lên cao Thân leo cây ngọt nghẹo phát triển nhanh trong thời tiết ấm, ra
hoa rồi chết, sau một thời gian thân leo khác sẽ mọc lên từ rễ củ
Thân rễ thường gồm 2 củ dính nhau thành hình thước thợ, một củ nhỏ
hơn, thân rễ thường dài 15-20 cm, đường kính 2-2.5 cm Khi tươi củ mẫm
ngọt, trên mặt phủ một lớp vỏ màu nâu nhạt, dưới lớp vỏ là một lớp màu
Trang 3
-2-vàng nhạt như sáp, điểm những đốm màu -2-vàng sẫm Phía trong màu trắng
gồm những tế bào chứa tinh bột Dịch thân rễ nhây, hơi đắng, hàm lượng tỉnh
bột ở trong dịch của những thân rễ lâu năm thường ít đi [12]
(a): hoa ngọt nghẹo
(b): hạt ngọt nghẹo
(c): rễ củ ngọt nghẹo
Cây ngọt nghẹo là cây bụi rậm rạp với những hoa vàng Tên Gioriosa xuất phát từ “gloriosus” nghĩa là đẹp đẽ, superba bắt nguồn từ “superb” ý
nói về những bông hoa đẹp [14] Hoa mọc đơn độc hoặc gần nhau, hoa to rất
đẹp, là một loại hoa rất đặc biệt, hoa có màu đồ thẫm và vàng, cuống dài 10-
15 cm, cánh hoa có vàng đỏ ở 2/3 trên, phía dưới màu vàng tươi Bể mặt những cánh hoa vàng nhạt từ trên xuống Khi hoa nở hoàn toàn, những cánh
hoa dài ra, nhăn lại và cong dân về phía sau, trong khi liên tục suốt một phổ
màu từ xanh sang vàng, sang đỏ tươi Nhị 6 bao phấn dính ở giữa, bầu 3 ngăn
nhiều tiểu noãn Nhụy hoa rất nổi bật và dang rộng ra bên ngoài, cong lên trông duyên dáng, hình chùy dài 5-6 cm, chứa nhiều hạt, khi chín có màu
vàng tươi Tùy vào từng loại, hoa có thể dài từ 7-13 cm Hình dạng kỳ lạ của
hoa cùng với màu sắc sống động làm chúng ta ngạc nhiên ngay lần gặp đầu
Trang 4
-3-tiên Quả có hình chữ nhật, đài từ 6-12 cm, rộng từ 2-2.5 cm, có thể chứa 20 hạt mầm Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 6-8 [12]
2.1.2 Phân bố:
Trong tự nhiên cây thường sống ở những vùng có bóng râm mát trên những sườn đổi dọc theo vùng duyên hải Cây có xuất xứ từ rừng rậm nhiệt
đới Châu Phi, ngoài ra còn tìm thấy ở các nước Châu Á như Ấn Độ, %m Lanka, Miến Điện, Malaysia, Thái Lan, Indonesia
Ở Việt Nam, cây ngọt nghẹo được GS Đỗ Tất Lợi đem hạt giống ở'
Liên Xô cũ về trồng từ năm 1967 Hiện nay, cây ngọt nghẹo được phát hiện
tại vùng duyên hải miễn Trung, nơi có nhiều ánh sáng như Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Quảng Trị [12]
2.1.3 Việc trồng trọt và sự nghiên cứu:
Gieo hạt giống thường vào tháng 9-10, có khi mất đến 4 tháng hạt giống
mới nảy mầm, Cây phải được cho bò lên những cây khác hoặc có thể thay
bằng giàn kim loại trong vùng râm mát Vào mùa hè, cây cần được tưới nước
đầy đủ, tuy nhiên cần phải hạn chế nước vì nhiều nước quá có thể gây ngập
úng và thối rửa rễ củ [14]
Hạt ngọt nghẹo được dùng làm thuốc như củ, nhưng phái đấm bảo rằng
cây này sẽ không bị mất đi trong tự nhiên, thu hoạch không tiêu cực, không
tàn phá Tuy nhiên, hiệu suất hại trong tự nhiên rất thấp và không đồng đều
Các nhà nghiên cứu đã dùng các phương pháp thụ phấn khác nhau kế cả
phương pháp tự nhiên, sự thụ phấn và giao phấn nhân tạo để giải thích vấn
để trên Kết quá là không quan sát được sự tương phân về di truyền giữa tự
thụ phấn và giao phấn, mặc dù mầu hoa và hình dạng của giao phấn và tự
thụ phấn cho kết quả tốt hơn Việc thụ phấn nhân tạo giữa hoa của các cây
giống nhau thì cho hiệu suất hạt cao hơn (9.20 g/cây và 681.73 kg/hecta) so
với sự thụ phấn tự nhiên (4.31 g/cây và 319.26 kg/hecta) [12]
-4~
Trang 52.1.4 Công dụng và được tính:
2.1.4.1 Bộ phận sử dụng:
Chủ yếu là lá và củ Thu hái lá và củ quanh năm, dùng tươi hoặc chế
thành bột [1 1]
2.1.4.2 Tính vị, công năng:
Cây ngọt nghẹo rất độc, có vị rất đắng Lấy một ít bột thân rễ cho vào
chậu nuôi cá, cá chết rất nhanh Ở Campuchia người ta thường phát hiện một
số trường hợp ngộ độc chết người do ăn nhằm thân rễ cây ngọt nghẹo [12]
Ở Ấn Độ, thân rễ dùng để tự tử hoặc gây sẩy thai, dịch chiết từ lá dùng
để diệt chấy và các sinh vật khác ở tóc Người dân Thái Lan thường lấy dịch
từ củ hòa tan vào nước, bôi lên đầu trị bệnh rụng tóc [15]
Rễ cây dùng trị bệnh phong, các bệnh về da, trĩ, đau bụng, rắn cắn và
bò cạp đốt, Theo dân gian, thân rễ tươi giã nát, sau đó đấp vào vùng bụng đưới của phụ nữ để giúp cho dễ để, hoặc để cho nhau thai chóng ra Có khi
chỉ đấp lên gang ban tay ban chân cũng có kết quả Tinh bột thu được khi ngâm rửa cú đùng làm thuốc điểu trị bệnh lậu Nước chiết từ củ có tính
kháng khuẩn Nhựa lấy từ lá được sử đụng trị mụn và nhọt ở da Ở nước ta,
một số người dùng lá gid ra tri ghé khoét (ghẻ ăn miệng như nổi vôi) [11],
Cây ngọt nghẹo có giá trị cao trong liệu pháp trị bệnh cá truyền thống
và hiện đại Ngày nay, thân, lá, củ và hạt của nó được sử dụng cho việc chữa
bệnh viêm khớp Thường dùng dưới dạng thuốc đắp Liều uống không được
quá 0.5 mg mỗi ngày {12].
Trang 62.1.5 Thành phần hóa học:
Thân rễ tươi của cây ngọt nghẹo chứa khoảng 80% nước, nung cho 4.58% tro kiểm trong đó kali chiếm 1.53%, tro không tan trong nước, cho
thêm acid có súủi bọt, Năm 1880, Warden phân tích thấy một chất nhựa có vị
đắng, đặt tên là superbin và tác giả cho là giống hoạt chất trong củ hành biển (Scilla maritime), mt it acid tanic, tinh b6t và đường khử [12]
Nam 1915, nhém nghién cifu Clever, Green, Tutin da cé lap dude colchicin từ thân rễ cây ngọt nghẹo géc Srilanka vdi ham lượng 0.3%, chất superbin do Warden phan tích được chính là colchicin (1) [16]
Năm 1952, Subbaratuaur đã cô lập được dẫn xuất của colchicin là gloriosin (N-formil-N-deacetilcolchicin) (2) cé tinh thể hình phiến chữ nhật, không cho mầu với FeCH [12]
Tương tự như cây tôi độc Colchicwm quuznnale L thuộc họ hành tôi
(Lilaceae), trong cây ngọt nghẹo, ngoài colchicin còn có các dẫn xuất của'
colchicin nhu 2-demetilcolchicin (3), 3-demetilcolchicin (4), 2,3-didemetil- colchicin (5), 3-demetil-N-deformil-N-deacetilcolchicin (6), B-lumicolchicin
(7}, y-lumicolchicin (8), coichicosid [3-O-demetilcolchicin-3-O-o-D-gluco- pyranosid (9) và 3-đ-demetilcolchicin-3-O-B-D-glucopyranosid (18)]
Trang 7
P| “tt NHOHO
Meo
~NHAC
Trang 8
-7-Nam 1993, Prabir K Chaudhuri & Raghynath S$ Thakur cô lập được
một dẫn xuất của colchicin là 1,2-didemetilcolchicin (11) từ hạt cây ngọt
(11)
Ngoài ra trong cây còn có các hợp chất khác như luteolin (12),
siigmasterol (13), B-sitosterol (14), B-sitosterol giucosid (15)
Trang 9
2.1.6 Hoat chat colchicin:
2.1.6.1 Lịch sử:
Coichicin (Cạ;HsNO¿) được cô lập đầu tiên vào năm 1820 bdi hai nha
hóa học người Pháp 14 P.S Peletier va J Caventou từ cây tôi độc Colchicưm
qutumnale L thuộc họ hành tôi, nhưng lại nhằm là veratrin C;;H„sNOa Đến
năm 1823, Geiger và Hesse cũng trích được nhưng ở trạng thái chưa tính khiết Mãi tới năm 1884, Huble mới cô lập được dưới dạng tỉnh khiết
Năm 1915, Clever, Green, Tuun đã cô lập được colchicin từ thân rễ cây
ngọt nghẹo gốc Srilanka với hàm lượng 0.3% Colchicin có trong cây tỏi độc với hàm lượng wy 0.2 - 0.8% [12]
2.1.6.2 Quá trình sinh tổng hợp colchicin:
Colchicin có cấu trúc hiếm gặp so với các hợp chất alkaloid có trong
thực vật bậc cao Vòng A nhân benzen và carbon ở vị trí C-5, 6 và 7 xuất
phát từ phenylalanin Nét đặc trưng của cấu trúc khung là sự có mặt của
vòng tropolon (vòng C) Tropolon xuất phát từ hợp chất tyrosin bằng cách
mở vòng benzen, sau đó đóng vòng tạo vòng thơm có 7 carbon [5], [6]
Colchicin được tạo thành từ phân tử phenylalanm và tyrosin, quá trình sinh tổng hợp colchicin theo chuỗi phản ứng sau:
Trang 10Acid cinamic COOK
“Y4
rN 7,
Tyrosin OH
NH,
——————
CTP
HO"
oe
OMe
i
MeG (8) Auturnnalin
R= Ac, Colchicin R= Me, Demecolcin
R =H, Deacetyl colchic
Trang 11
-10-OH.KH.TY NPIEN
THU VIEN
Colchicin tan nhiều trong benzen và cloroform, tan rất ít trong nước
Colchicin ở dạng bột hay tinh thể hình kim màu vàng nhat, bi sam mau khi
phơi ngoài ánh sáng Kết tỉnh trong acetat etil hoặc etanol, nhiệt độ nóng chảy là 156°C [12]
2.1.6.4 Tác dụng được lý:
Từ hơn 200 năm trước, colchicin được người Đức dùng chữa bệnh gout
và làm thuốc thông tiểu Bệnh gout gây ra bởi những khuyết điểm trong sự
trao đổi chất acid uric, nếu hàm lượng acid uric quá mức sẽ tạo thành tinh thể
urat natri, chúng lắng đọng lên các xương khớp Tại đây, các tế bào bạch cầu
tấn công tỉnh thể urat natri và tạo thành những chất hóa học quanh xương
khớp gây ra sự viêm khớp và đau đớn Colchicin có khả năng ức chế hoạt
động của tế bào bạch câu nên nó được dùng để trị bệnh gout cấp tính, giảm
sự đau đớn cho người bệnh [12]
Colchicin cũng được coi là một tác nhân chống ung thư Colchicin ức chế quá trình polymer hóa của các tubulin tạo thành microtubule Microtuble
là các vi ống tạo nên bộ khung cho tế bào vì màng tế bào là lipid rất mềm
Do đó colchicin ngăn cẩn được sự phát triển của tế bào ung thư
Microtuble tham gia vào sự phân chia của tế bào, giúp đẩy hai tế bào con tách ra xa trong quá trình phân chia ở giai đoạn biến kỳ Colchicin ức chế quá trình tạo thành microtubule nên cũng tác dụng ngăn cẩn quá trình phân chia Tác dụng này đang được dùng trong việc cải tạo giống cây trong nông nghiệp và dùng trong chữa bệnh ung thư Tế bào ung thư phân chia
nhiều và nhanh hơn tế bào bình thường, tế bào ung thư nhạy cảm với những
chất độc ngăn cản sự phân bào như colchicin, pacliaxel va alkaloid Vinca
Thỉnh thoảng colchicin được dùng trong thuốc thú y để chữa ung thư cho một
số động vật Tuy nhiên, khi colchicin ngăn cẩn sự phát triển của tế bào ung
Trang 12
-11-thư, đồng thời cũng ảnh hưởng lên tế bào bình thường, do đó cần lưu ý khi sử
dụng colchicin trong quá trình hóa trị [12], [17]
Hiện nay, người ta thấy colchicin gây hạ nhiệt, tăng huyết áp, tầng nhu động một cách thái quá Trên những điểm nối thân kinh cơ, colchicin gây nghẽn biểu hiện bằng tê liệt và nếu kéo đài sẽ gây teo cơ xương [12]
Dùng colchicin có thể có những hiện tượng ngộ độc như nôn mửa, đi
lỏng, đau bụng Liều chết trung bình là 0.03 mg/kg thể trọng Sự bài tiết chất độc của colchicin chậm, do đó những người viêm thận hay thiểu năng thận
khong én ding
2.1.6.5 Tác dụng phụ:
Ngoài các tác dụng cần có của nó, colchicin có thể gây ra những tác
dụng không mong muốn như tiêu chấy, nôn mửa, đau đạ dày, đau đầu, sốt,
mỗi mệt Mặc dù không phái tất cả các tác dụng phụ đó đếu xấy ra nhưng
cần phải hưu ý đến nó
Đấu hiệu và triệu chứng của sự quá liều là cảm thấy nóng rát trong da
day, cé hong, bi tiêu chây, nôn mửa, đau dạ đầy, ngoài ra còn gây chảy mầu,
khó thở, co giật, sốt, sức khỏe yếu Nếu quá liễu có thể gây hại cho máu, tìm,
ruột, thận, gan, phối
Chất độc colchicin giống với chất độc thạch tín Các triệu chứng trên sẽ xây ra 2-5 giờ sau khi liều lượng độc được ăn vào, thậm chí có thể chết do
ngừng hô hấp Không có thuốc giải độc, cách chữa trị duy nhất là phải rửa
sạch dạ dày của bệnh nhân {12]