Những vấn đề lý luận chung I Khái niệm phân loại và bản chất của nguồn vốn đầu tư 1 Khái niệm 1.1 Vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư
Là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Phân loại nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư phát triển và vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng, quốc phòng, an ninh, và hỗ trợ doanh nghiệp trong các lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước Ngoài ra, nguồn vốn này cũng chi cho việc lập và thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, cũng như quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là nguồn vốn ưu đãi cho các tổ chức vay nhằm đầu tư vào các ngành, lĩnh vực và chương trình kinh tế trọng điểm, đặc biệt là ở những vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư Trong bối cảnh đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã trở thành yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước là nguồn tài chính tích lũy được sử dụng để tái đầu tư hoặc đầu tư ngoài ngành nhằm gia tăng lợi nhuận Với chủ trương đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực này ngày càng được khẳng định, dẫn đến sự gia tăng tích lũy và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã
Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
Tập quán tiêu dùng của dân cư.
Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội.
Phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã chủ yếu được sử dụng vào nhiệm vụ tái cơ cấu đầu tư
Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia có nền kinh tế thị trường, cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho các nhà đầu tư Cốt lõi của thị trường vốn là thị trường chứng khoán, nơi tập hợp các nguồn vốn tiết kiệm từ hộ gia đình và thu hút vốn nhàn rỗi từ doanh nghiệp, tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương, tạo nên một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Điều này mang lại lợi thế mà các phương thức huy động khác không thể đạt được.
Nguồn vốn nước ngoài là quá trình chuyển giao tài chính giữa các quốc gia Theo tính chất lưu chuyển, nguồn vốn nước ngoài có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau.
Official Development Finance (ODF) encompasses various funding sources, primarily consisting of Official Development Assistance (ODA) and other forms of aid Notably, ODA represents the dominant share of the ODF resources.
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
Nguồn vốn ODA là nguồn hỗ trợ phát triển do các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài cung cấp, nhằm mục đích giúp đỡ các quốc gia đang phát triển.
ODA là hình thức tài trợ có tính ưu đãi cao nhất so với các nguồn vốn ODF khác, với các điều kiện lãi suất ưu đãi và thời hạn cho vay dài Đặc biệt, ODA luôn bao gồm yếu tố không hoàn lại, hay còn gọi là thành tố hỗ trợ, chiếm ít nhất 25% tổng giá trị.
Mặc dù vốn ưu đãi mang lại nhiều lợi ích, nhưng thường đi kèm với các điều kiện khắt khe như hiệu quả dự án và thủ tục chuyển giao vốn Để tận dụng nguồn tài trợ này một cách hiệu quả, cần xem xét dự án trong bối cảnh tài chính tổng thể, tránh việc viện trợ trở thành gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không chỉ chú trọng vào nội dung dự án mà còn cần có kỹ năng thương thuyết để nhận vốn mà vẫn giữ vững các mục tiêu nguyên tắc.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Vốn vay từ các ngân hàng thương mại quốc tế thường có lãi suất cao và yêu cầu thủ tục khắt khe, với thời gian trả nợ nghiêm ngặt Loại vốn này chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường mang tính chất ngắn hạn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi nhà đầu tư từ một quốc gia sở hữu tài sản tại quốc gia khác và có quyền quản lý tài sản đó Khác với các nguồn vốn nước ngoài khác, FDI không tạo ra nợ cho quốc gia tiếp nhận Nhà đầu tư không nhận lãi suất mà nhận lợi nhuận từ hiệu quả của dự án đầu tư Nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng ở các quốc gia nhận đầu tư.
Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa, sự liên kết giữa các thị trường vốn quốc gia và hệ thống tài chính quốc tế ngày càng tăng, tạo ra sự đa dạng về nguồn vốn cho từng quốc gia và thúc đẩy khối lượng vốn lưu chuyển toàn cầu Đặc biệt, nhiều nước đang phát triển chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ trong dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán.
II mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
Trong quá trình phát triển, Việt Nam không thể chỉ dựa vào nội lực yếu kém mà cần đến ngoại lực, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài Ngoại lực đóng vai trò quan trọng, không chỉ tạo ra động lực cho nền kinh tế mà còn giúp nội lực của đất nước phát huy hiệu quả, đưa Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo và lạc hậu.
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nước ngoài là rất chặt chẽ và có ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sức mạnh lớn cho sự phát triển của mỗi quốc gia Việc hiểu rõ mối quan hệ này là rất quan trọng để tối ưu hóa tác dụng của nó và hạn chế những khuyết điểm có thể xảy ra.
1 Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có tác động qua lại với nhau
1.1 Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định
Để đạt được sự phát triển bền vững và lâu dài, mọi nền kinh tế cần dựa vào nội lực và khả năng sẵn có của chính mình Mặc dù nguồn vốn từ bên ngoài đóng vai trò quan trọng như một "cú kích" để thúc đẩy tăng trưởng, nhưng nếu không có nội lực vững mạnh, mọi tác động từ bên ngoài sẽ trở nên vô nghĩa.
1.1.1 Vốn trong nước giữ vai trò quyết định phát triển kinh tế, và trong cơ cấu nguồn vốn luôn chiếm tỷ lệ lớn
Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
Chúng ta cùng xem xét bảng số liệu
Bảng 1: Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển
Khu vực trong nước Khu vực có VĐTNN
Tỉ lệ VĐT trong nước/ nước ngoài
Số liệu:Tổng cục thống kê
Từ bảng số liệu trên ta nhận thấy, từ năm 2002 đến năm 2010, tỉ lệ
VĐT/GDP của Việt Nam liên tục tăng qua các năm, duy trì mức cao so với các nước Châu Á và thế giới Tỷ trọng vốn trong nước cũng ngày càng được nâng cao, chiếm ưu thế trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển toàn quốc Điều này chủ yếu nhờ vào việc luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để khai thác hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế.
Thực trạng vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam giai đoạn 2002- 2011
Thực trạng về nguồn vốn trong nước
Tỉ lệ vốn đầu tư trong nước hiện chiếm trên 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đang có xu hướng tăng lên.
Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, chiếm khoảng 50% và đang có xu hướng gia tăng Trong giai đoạn 2002-2005, tỷ trọng vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế nhà nước đạt 54,6% so với tổng vốn đầu tư phát triển.
Năm 2010, vốn đầu tư thực hiện từ khu vực nhà nước ước tính chiếm 56.52% tổng vốn đầu tư phát triển, trong khi tổng vốn đầu tư đạt 56.87% Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển và nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước.
1.1 Ngân sách nhà nước (NSNN)
Ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, với đầu tư từ NSNN chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách Năm 1994, chi cho đầu tư từ NSNN đạt khoảng 1 tỷ USD, tương đương 6% GDP Từ 1996 đến 2010, NSNN đã được cơ cấu lại theo hướng tích cực, với cải cách thuế và triển khai luật ngân sách giúp tăng nguồn thu ngân sách Tổng thu ngân sách tăng trung bình hàng năm trên 7%, cao hơn mức tăng GDP Chi cho đầu tư phát triển cũng tăng lên khoảng 25% GDP trong tổng chi NSNN, với tổng nguồn vốn đầu tư từ NSNN chiếm 21.5% tổng vốn đầu tư xã hội, tương đương khoảng 8 tỷ USD Đến năm 2008, tỷ lệ chi NSNN đạt 24.7% GDP, trong đó chi cho đầu tư phát triển là 6.7%, và tỷ lệ này tiếp tục tăng qua các năm, với 8.4% năm 2008, 8.2% năm 2009 và ước đạt 7.7% năm 2010.
Chi phí đầu tư phát triển của NSNN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và giao thông vận tải, với tỷ lệ khoảng 35.3%, trong khi nông nghiệp và nông thôn chiếm 22.5% Các lĩnh vực khác như khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao chiếm khoảng 36.7% Nhờ vào việc tăng cường đầu tư, số lượng công trình đưa vào sử dụng và năng lực của hầu hết các ngành đều gia tăng, với giá trị tài sản cố định đến cuối năm 2008 tăng khoảng 30% so với năm 2003 Đặc biệt, ngân sách đã dành một khoản lớn cho các chương trình mục tiêu quốc gia như xoá đói giảm nghèo và chương trình 135, tạo dựng niềm tin cho đồng bào và dân tộc với Đảng và Nhà nước, cùng với dự án trồng 5 triệu ha rừng.
Vấn đề lớn với vốn đầu tư phát triển từ NSNN là tình trạng phân tán và thiếu tập trung trong thực hiện, dẫn đến sự gia tăng số lượng dự án Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
Năm 2010, các bộ và địa phương đã bố trí 10.600 công trình, tăng 2.500 công trình so với năm 2006, trong đó các công trình do địa phương thực hiện tăng 47% Tuy nhiên, việc đầu tư dàn trải trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp đã dẫn đến nhiều công trình xây dựng dở dang, gây lãng phí nguồn lực Tính đến giữa năm 2010, nợ đọng vốn trong đầu tư xây dựng đã lên tới 11.000 tỷ đồng, với giao thông vận tải và nông nghiệp là những lĩnh vực có khối lượng nợ lớn.
Chất lượng công trình xây dựng hiện nay đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng, khi nhiều công trình mới bàn giao đã nhanh chóng xuống cấp và hư hỏng Nguyên nhân không chỉ đến từ các đơn vị thi công mà còn từ các đơn vị tư vấn thiết kế và các cơ quan thẩm tra thẩm định kinh tế, dẫn đến những tổn thất về chất lượng đáng lo ngại.
Thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết, vì chất lượng công trình ảnh hưởng đến thời gian sử dụng và trình độ cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Do đó, cần thiết phải có các giải pháp thực tiễn nhằm sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách.
1.2 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước(DNNN)
Theo thống kê, năm 2007 có khoảng 5700 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), phần lớn quy mô nhỏ với vốn bình quân dưới 5 tỷ đồng, trong đó 66% DNNN có vốn dưới 5 tỷ và 30% có vốn 1 tỷ Đến năm 2008, số DNNN giảm còn 5355 và năm 2009 là 5364, do chủ trương cơ cấu lại hệ thống DNNN và chuyển đổi hình thức Trước đây, vốn cho DNNN chủ yếu từ ngân sách, nhưng nay thực hiện cổ phần hóa để đa dạng hóa nguồn vốn Hơn 20% DNNN thua lỗ, gây gánh nặng cho ngân sách nhà nước (NSNN), trong giai đoạn 2007-2009, NSNN đã cấp gần 8000 tỷ đồng cho DNNN, bao gồm 1464.4 tỷ đồng để bù lỗ Chính phủ cũng miễn, giảm thuế và cung cấp tín dụng ưu đãi cho DNNN Theo chủ trương mới, đã cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu cho 520 doanh nghiệp với tổng vốn 2000 tỷ đồng, chiếm 1.6% tổng vốn đầu tư của Nhà nước Sau cổ phần hóa, các doanh nghiệp này đều có lãi với doanh thu và nộp NSNN tăng gấp 2 lần và tốc độ tăng trưởng vốn đạt 2.5 lần.
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đóng góp hơn 80% tổng thu ngân sách nhà nước, với vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách và lợi nhuận để lại, bên cạnh việc huy động từ cổ phần hóa Đến cuối năm 2008, tổng vốn DNNN đạt 895,2 nghìn tỉ đồng, chiếm 62,1% tổng vốn doanh nghiệp và tăng 9,5% mỗi năm Mặc dù đóng góp vào GDP tăng từ 30,4% năm 2004 lên 30,6% năm 2010, nhưng DNNN vẫn gặp nhiều vấn đề Chính phủ đã đầu tư mạnh mẽ vào khu vực này để thúc đẩy tăng trưởng, nhưng vẫn có 17,5% doanh nghiệp thua lỗ vào năm 2007 và 14,7% vào năm 2009, với mức lỗ trung bình 4 tỉ đồng mỗi doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp có lãi nhưng không bền vững, chủ yếu nhờ vào sự bảo hộ Ngoài ra, việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước mới thường không dựa trên nghiên cứu thị trường, dẫn đến tình trạng nợ nần, sản phẩm không tiêu thụ được và dư thừa công suất.
1 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Khu vực tư nhân tại Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp đăng ký và hộ gia đình phi chính thức, đóng góp 40% GDP và tạo ra 90% việc làm vào năm 2005 Đây là một lĩnh vực có vốn đầu tư phát triển mạnh mẽ và ngày càng gia tăng Đảng và Nhà nước đã chủ trương huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn từ dân Qua việc ban hành luật doanh nghiệp, sau 4 năm thực hiện, đã thu hút được hơn 10 tỉ USD vào nền kinh tế.
2.1 Tiết kiệm của khu vực dân cư
Nguồn vốn tiềm năng trong dân cư, chủ yếu dưới dạng vàng, ngoại tệ và tiền mặt, chiếm khoảng 80% tổng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng Thực tế cho thấy, nguồn vốn huy động từ tiết kiệm của dân cư đóng góp đáng kể, với số tiền huy động từ các đợt phát hành công trái lên đến hàng ngàn tỉ đồng chỉ trong thời gian ngắn Với khoảng 15 triệu hộ gia đình, khu vực dân cư đã đóng góp khoảng 1/3 GDP, trong giai đoạn 2006 – 2100, tiết kiệm của khu vực này chiếm 15% GDP và có xu hướng ngày càng tăng.
Tỷ lệ tiết kiệm dân cư so với GDP là một chỉ số quan trọng phản ánh khả năng tiết kiệm của người dân trong nền kinh tế Sự gia tăng tỷ lệ này có thể cho thấy sự ổn định tài chính và xu hướng tiêu dùng tích cực Việc theo dõi tỷ lệ tiết kiệm dân cư giúp các nhà hoạch định chính sách đánh giá sức khỏe kinh tế và đưa ra các biện pháp phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Số Liệu:Tổng cục thống kê
Khu vực này đóng góp một nguồn thu ngoại tệ đáng kể từ kiều hối của người xuất khẩu lao động và thân nhân ở nước ngoài, với 585 triệu USD trong 9 tháng đầu năm 2005 và dự kiến đạt khoảng 1,2 tỷ USD cả năm Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư cũng rất quan trọng, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư phát triển, đặc biệt trong bối cảnh xu hướng đầu tư nước ngoài đang giảm sút, đây là nguồn bù đắp thiết yếu cho nền kinh tế.
2.2 Đầu tư của khu vực dân doanh
Thực trạng về vốn nước ngoài
FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong khi ODA là nguồn tài trợ thiết yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển văn hóa, giáo dục, y tế Nếu được sử dụng đúng cách, ODA sẽ trở thành động lực cho sự phát triển bền vững.
Bảng 3: Cam kết giải ngân vốn ODA 2003-2010(t USD )ỷ USD )
(Bộ Kế hoạch và Đầu tư )
Qua 10 lần tổ chức hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam số vốn cam kết đều tăng dần qua các năm Song số vốn được hợp thức hoá bắng ký kết các hiệp định thì lại không tăng tương xứng Như năm 2009 số vốn này đạt 2.574 tỷ USD giảm 26%so với kết quả của năm 2007 Trong đó vốn vay là gần 1.3347 tỷ USD và viện trợ không hoàn lại khoảng 239.4 triệu USD Như vậy kể từ năm
Tính đến năm 2003, tổng số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam đạt 22.43 tỷ USD, chưa bao gồm khoản tài trợ cho cải cách kinh tế Đến hết năm 2009, tổng số vốn hợp thức hóa qua hiệp định đạt khoảng 16.5 tỷ USD, trong khi số vốn giải ngân chỉ đạt khoảng 11.04 tỷ USD, tương đương với tỷ lệ giải ngân 49.2%, cho thấy mức giải ngân còn thấp so với vốn cam kết.
Nhu cầu vốn ODA ở Việt Nam rất lớn, với khoảng 9 tỷ USD cần thực hiện trong giai đoạn 2001-2005, tương đương 1,8 tỷ USD mỗi năm theo "chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo." Tuy nhiên, kết quả giải ngân hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, cho thấy vấn đề quản lý và sử dụng vốn ODA chưa hiệu quả, chưa khai thác tốt tác động tích cực của nguồn vốn này.
2 Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực vào năm 1998, đến ngày 20-12-2002, Việt Nam đã cấp phép cho 2582 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 50.3 tỷ USD và vốn đầu tư thực hiện khoảng 24 tỷ USD.
1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh vói tổng vốn đăng ký 25 tỷ USD.
Bảng 4: Một số chỉ tiêu đóng góp của đầu tư nước ngoài
1 Doanh thu(triệuUSD) 2063 2743 3815 3910 4600 6167 2Xuất khẩu (triệuUSD) 336 788 1790 1982 2547 3300
4 Tốc độ tăng trong công nghiệp (%)
5 Tỉ trọng trong công nghiệp
6 Nộp ngân sách(triệu USD) 195 263 315 317 271 260
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra một khu vực kinh tế mới, được gọi là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước Khu vực này đã hình thành 2,014 doanh nghiệp mới và 1,584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ, thúc đẩy sự tăng trưởng và đa dạng hóa nền kinh tế.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp và dịch vụ, chiếm hơn 61% vốn đăng ký và 67% vốn thực hiện, đồng thời tạo ra 71% số lao động, 94% doanh thu và 91% giá trị xuất khẩu (không bao gồm dầu thô) trong toàn bộ khu vực đầu tư nước ngoài Điều này cho thấy đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng tăng cường tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ.
Theo tổng điều tra gần đây, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp gần 20% tổng vốn đầu tư xã hội, 25.1% giá trị sản xuất công nghiệp và 27.4% kim ngạch xuất khẩu cả nước, tạo việc làm cho 400,000 lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Thu nhập của người lao động trong khu vực này cao hơn so với các khu vực khác Đóng góp của khu vực này cho ngân sách nhà nước đã tăng qua các năm, từ 1.3% GDP năm 2007 lên 1.5% GDP năm 2010 Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội, với mức tăng 24.8% trong giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009, so với 11.7% của doanh nghiệp nhà nước và 19.2% của khu vực ngoài quốc doanh Đầu tư nước ngoài đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Kể từ năm 2007, cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á đã khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm mạnh, tỷ lệ đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm từ 28% năm 2007 xuống còn 18.4% vào năm 2010 và ước đạt 16.8% trong năm 2010 Quy mô các dự án cũng giảm đáng kể, với mức trung bình một dự án đăng ký cấp phép hiện nay chưa đầy 10 triệu USD, so với 30 triệu USD vào năm 2003 Tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài mới và vốn thực hiện cũng suy giảm, với mức giảm 49% vào năm 2005 và 16% vào năm 2006 Mặc dù vốn thực hiện năm 2007 đạt 3.25 tỷ USD, tăng 25% so với năm trước, nhưng năm 2008 lại chứng kiến sự giảm 40%.
2009 giảm 25% Số dự án đã cấp xin giảm tiến độ là 6-7 tỷ nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng hoặc thu hẹp sản xuất
Song vốn đầu tư trực tiếp vẫn còn một số hạn chế:
Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện còn nhiều bất hợp lý, khi mà tỷ lệ đầu tư vào các dự án nuôi trồng và chế biến nông sản, cũng như cơ khí chế tạo, vẫn rất thấp Điều này dẫn đến việc khai thác nguồn lực trong nước chủ yếu hướng về xuất khẩu, trong khi đầu tư lại tập trung vào các địa phương có lợi thế và những ngành có khả năng sinh lời nhanh Hơn nữa, chủ trương đa phương hóa nguồn đầu tư nước ngoài chưa được thực hiện hiệu quả, với 70% vốn đầu tư đến từ Châu Á, trong đó ASEAN chiếm 25%, trong khi nguồn vốn từ Châu Âu và Mỹ vẫn ở mức thấp.
3 Thực trạng về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
Toàn cầu hoá nền kinh tế đang trở thành xu hướng chính trong đời sống quốc tế, với việc mở cửa và hội nhập kinh tế quốc gia và khu vực là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển Từ năm 2003 đến 2008, thu ngân sách từ khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng mạnh, từ 260 triệu USD lên 840 triệu USD, cho thấy sự đóng góp ngày càng lớn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong những năm gần đây, mức đóng góp này liên tục tăng, với tỷ lệ tăng trưởng 20,4% vào năm 2008 và 26,9% vào năm 2009.
Năm 2010, đầu tư nước ngoài tăng 30%, góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội và an ninh quốc phòng Đầu tư này không chỉ tạo ra khoảng 44.000 việc làm trực tiếp mà còn hàng chục vạn việc làm gián tiếp, với thu nhập của người lao động cao hơn 30% so với các khu vực khác Hàng năm, thu nhập của người lao động trong lĩnh vực này đạt từ 600 đến 850 triệu USD.
Đầu tư trong nước có ảnh hưởng lớn đến dòng chảy đầu tư nước ngoài, định hướng cho các lĩnh vực cần thiết Đặc biệt, nếu không có biện pháp điều chỉnh để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cả FDI và ODA sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa sắp tới.
Một số kiến nghị chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn tại Việt Nam
Những nguyên nhân
Thực trạng về nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài cho thấy mối quan hệ giữa chúng có những hạn chế, cản trở quá trình phát triển kinh tế của đất nước Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ một số yếu tố nhất định.
1 Môi trường pháp lý Đầu tiên là khâu cấp giây phép đầu tư, thủ tục hành chính rườm rà, mất thời gian Mặc dù đã có những quy định mới cải tiến song lại dẫn đến “một cửa nhiều khoá ” chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành địa phương Hai nữa là tính ổn định của pháp luật và chính sách chưa cao, thiếu tính rõ ràng, không thể dự đoán trước được Các chính sách liên quan đến FDI thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, làm đảo lộn phương án kinh doanh gây thiệt hại cho họ
Thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh ở Việt Nam được cho là phức tạp và rườm rà, với thời gian xử lý lên đến một tháng rưỡi, lâu hơn 25 lần so với một số quốc gia khác trên thế giới Chẳng hạn, tại Canada, doanh nghiệp chỉ cần ba ngày để hoàn tất thủ tục, trong khi ở Úc chỉ mất hai ngày.
Số lượng doanh nghiệp trên đầu người ở Việt Nam vẫn thấp so với các nước trong khu vực Mục tiêu đến năm 2010 là thành lập 500.000 doanh nghiệp mới, nhưng điều này khó đạt được nếu hệ thống giấy phép vẫn còn phức tạp.
Báo cáo phân tích 37 giấy phép kinh doanh do Ban Pháp chế – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện đã chỉ ra tính chất bất hợp pháp của các văn bản pháp quy liên quan đến đăng ký kinh doanh Từ việc rà soát 37 loại giấy phép, báo cáo nhận định rằng mặc dù tất cả đều được quy định trong các văn bản pháp luật với mức độ giá trị pháp lý khác nhau, nhưng không phải giấy phép nào cũng có căn cứ pháp lý phù hợp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh tại Việt Nam hiện nay gặp nhiều khó khăn, thể hiện qua chi phí kinh doanh cao và khả năng sinh lời thấp Cụ thể, giá điện tại Việt Nam cao gấp hai lần Thượng Hải, cước phí vận chuyển container gấp hai lần Singapore, và cước phí điện thoại cũng cao hơn so với các nước khác Tình trạng sách nhiễu và quan liêu từ cán bộ vẫn còn tồn tại, cùng với việc quản lý kém dẫn đến tình trạng kinh doanh trái phép, trốn thuế và hàng giả Thị trường công nghệ và dịch vụ tài chính chưa phát triển kịp thời, trong khi thị trường vốn và chứng khoán chậm phát triển, hạn chế khả năng vay vốn của doanh nghiệp Cơ sở hạ tầng xã hội còn nhiều hạn chế, với giao thông và bưu điện xuống cấp, trong khi chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Một số kiến nghị chủ yếu
Trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư phát triển để đạt được mục tiêu chiến lược là rất lớn Để đáp ứng nhu cầu này, cần huy động tối đa nguồn vốn trong nước và phát huy nội lực Đồng thời, cần xây dựng và thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm cải thiện tính cạnh tranh của môi trường đầu tư tại Việt Nam, từ đó thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài.
1.Vốn đầu tư trong nước
Chính phủ cần chủ động hợp tác với các bộ, ngành và địa phương để rà soát và điều chỉnh các chính sách tài chính, nhằm nâng cao môi trường đầu tư và kinh doanh.
Điều chỉnh cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước, đồng thời giảm tỷ trọng nguồn thu chịu ảnh hưởng từ thị trường quốc tế, như thuế xuất nhập khẩu.
Chính sách thuế cần được triển khai hiệu quả thông qua việc thực hiện luật quản lý thuế, tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thuế Hơn nữa, cần phối hợp với các lực lượng chức năng để thu hồi dứt điểm các khoản nợ thuế có khả năng thu hồi từ các tổ chức và cá nhân sản xuất kinh doanh.
Cần điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách hợp lý, tăng cường đầu tư cho phát triển hạ tầng, công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội và xoá đói giảm nghèo.
Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát của cộng đồng Bộ Tài chính sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, định mức, tiêu chuẩn và chế độ chi tiêu ngân sách Nhà nước.
Nhà nước có thể tăng nguồn vốn ngân sách bằng cách cho thuê đất đai và công thổ quốc gia cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để xây dựng Đồng thời, cần đẩy mạnh việc bán, khoá, cho thuê và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, việc huy động thu ngân sách cũng có thể thực hiện thông qua việc bán trái phiếu chính phủ hoặc từ thị trường chứng khoán.
- Cải cách phát hành trái phiếu chính phủ theo hướng chuyên nghiệp hơn, gắn với thị trường và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế
Cần tập trung rà soát các dự án và bố trí vốn cho những công trình quan trọng, kiên quyết không phân bổ vốn một cách tràn lan cho các dự án chưa đáp ứng đủ điều kiện, đặc biệt là về quy hoạch Nguồn bù đắp thiếu hụt ngân sách sẽ chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức như đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước, bán lẻ trái phiếu chính phủ qua kho bạc nhà nước, và bảo lãnh phát hành qua thị trường chứng khoán tập trung.
Để thúc đẩy nguồn vốn tín dụng, cần tập trung huy động vốn trung và dài hạn nhằm mở rộng đầu tư, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng thương mại cần đa dạng hóa hình thức hoạt động vốn và chú trọng vào việc thu hồi nợ quá hạn để duy trì khả năng cho vay Cần thiết có cơ chế cho phép các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay ngoại tệ, tập trung vào các dự án sản xuất hàng xuất khẩu Đồng thời, cần có chính sách huy động tối đa nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp và dân cư cho đầu tư phát triển, thông qua cải thiện môi trường đầu tư và giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.
2 Vốn đầu tư nước ngoài
Để thu hút vốn FDI, cần thực hiện cải cách hành chính theo hướng đơn giản và hiệu quả, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định và cạnh tranh Quy trình thủ tục hành chính cần được công khai, với sự hỗ trợ để giải quyết vướng mắc, nhằm cấp giấy phép nhanh chóng và giảm thiểu chi phí cho nhà đầu tư Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách theo hướng ổn định, nới lỏng điều kiện, bảo đảm tính minh bạch, dễ dự đoán và phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Nhà nước cần chú trọng vào việc nâng cao đầu tư cho cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đồng thời hỗ trợ đào tạo và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động Điều này sẽ giúp họ tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện đại, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
Để nâng cao tay nghề cho người lao động, cần tập trung vào việc đào tạo nhằm tăng năng suất lao động so với các nước trong khu vực Trong bối cảnh hiện tại, Nhà nước cần hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề thông qua các ưu đãi như miễn tiền thuê đất trong 5-10 năm, giảm phí trong 5 năm tiếp theo, và miễn thuế nhập khẩu cho máy móc, thiết bị phục vụ đào tạo.
Cần hoàn chỉnh quy hoạch đầu tư quốc gia để xác định danh mục dự án quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Để đạt được điều này, các Bộ, ngành và địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch cho từng ngành, từng địa phương, từ đó hình thành chiến lược thu hút vốn ĐTNN hiệu quả.
Khuyến khích cổ phần hóa doanh nghiệp FDI nhằm huy động vốn từ cộng đồng, qua đó tạo điều kiện cho người Việt Nam tham gia quản lý và điều tiết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Xây dựng một chiến lược hiệu quả để thu hút và sử dụng dòng vốn FDI là rất quan trọng, cần lồng ghép vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Chiến lược này giúp giải quyết các vấn đề quy hoạch tổng thể cho các ngành và vùng thu hút FDI, xác định ưu tiên trong việc thu hút vốn đầu tư, đồng thời tránh tình trạng phân cấp đầu tư không hợp lý và sự manh mún trong xúc tiến đầu tư.