Phương hướng phân phối thu nhập ở Việt Nam...20 3.Phương hướng tăng trưởng kinh tế kết hợp xóa đói giảm nghèo...21 II -Giải pháp để tăng trưởng bề vững kết hợp xóa đói giảm nghèo hiệu qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TÁC GIẢ: ĐỖ MẠNH DŨNG LỚP: QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PSG TS NGUYỄN NGỌC SƠN
TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI: Tăng trưởng kinh tế việt nam trong thời gian qua tác
động đến xóa đói giảm nghèo
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
Chương I: Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo 5
I- Tăng trưởng và phát triển kinh tế 5
1 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển 5
2 Sự lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam 5
II Định nghĩa và phương pháp tiếp cận chuẩn đói nghèo 6
1 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế 6
2 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo 6
3 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia 7
III - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo 7
1 Các phương thức phân phối 7 2.Giới thiệu đường Lorenz và hệ số Gini 8
3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập 9
Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo11
I- Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 11
1 Đầu vào của tăng trưởng 11
2 Quá trình tăng trưởng 11
3 Đầu ra của tăng trưởng 12
II Thực trạng đói nghèo của Việt Nam trong thời gian qua 12
1 Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta đã giảm nhanh, trong đó thành thị giảm nhanh hơn nông thôn 12
2 Số hộ nghèo vẫn còn nhiều và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ ở cận kề chuẩn nghèo còn đông 13
3 Sự phân hóa giàu nghèo giữa các khu vực, giữ các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính 14
4 Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư 15 5.Tỷ lệ hộ đói nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn còn 20% 16
III - Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo 17
Trang 33 Những thách thức cần phải giải quyết 19
Chương III: Phương hướng và giải pháp cho mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo 20
I - Phương hướng cho mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo
20
1.Quan điểm của Đảng về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo 20
2 Phương hướng phân phối thu nhập ở Việt Nam 20 3.Phương hướng tăng trưởng kinh tế kết hợp xóa đói giảm nghèo 21
II -Giải pháp để tăng trưởng bề vững kết hợp xóa đói giảm nghèo hiệu quả ở Việt Nam 24
1.Phát triển cơ sở hạ tầng để tạo cơ hội cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo tiếp cận các dịch vụ công 24
2 Phát triển công nghiệp, đô thị nhằm tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người nghèo 27
KẾT LUẬN 30
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện công cuộc đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh Trongnhững năm qua, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong cải cách và pháttriển kinh tế xã hội, như bình quân thu nhập đầu người tăng lên, cơ sở hạ tầng đượcxây dựng hiện đại hóa, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc… Việc chuyểnhướng từ nền kinh tế theo cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước tạo ra những bước phát triển, những cơ hội mới
để Việt Nam nhanh chóng hội nhập khu vực và thế giới, trở thành một nước côngnghiệp phát triển
Tuy nhiên, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng còn có các mặt hạnchế, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều tới các vùng, cácnhóm dân cư Vì vậy một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắtnhịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống sản xuất và trở thành ngườinghèo Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và khẳng địnhnghèo đói ảnh hưởng tiêu cựu đến ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường,Đảng và nhà nước ta coi xóa đói giảm nghèo là một chủ chương lớn, là nhiệm vụquan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu về xóa đói giảm nghèo thường nhấn mạnh về một hay một số khía cạnhnào đó, như sự cần thiết, cơ sở lý luận, các thành tựu, giải pháp….Trong tiểu luậnmôn học của mình, em xin được đề cập đến đề tài “Tăng trưởng kinh tế việt namtrong thời gian qua tác động đến xóa đói giảm nghèo thế nào”
Trang 5NỘI DUNG
Chương I: Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo
I- Tăng trưởng và phát triển kinh tế
1 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạnnhất định, sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng thêm sản lượngnhanh hay chậm so với thời điểm gốc
1.2 Phát triển
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗiquốc gia Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do cácnhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển kinh tế được kháiquát theo ba tiêu thức: Một là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mứcgia tăng thu nhập bình quân trên mọi đầu người Đây là tiêu thức về lượng, là điềukiện cần để nâng cao điều kiện sống của mọi quốc gia Hai là sự biến đổi theo đúng
xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức biến đổi về chất của nền kinh tế một quốcgia.Ba là sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùngtrong phát triển kinh tế không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch, mà là việc xóa bỏđói nghèo, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ trung bình…
2 Sự lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam
Trong quá trình cải tổ nền kinh tế, Đảng và chính phủ Việt Nam đã thể hiện sựlựa chọn theo hướng phát triển toàn diện Đi đổi với mục tiêu tăng trưởng nhanh,chúng ta đã đưa ra mục tiêu giải quyết vấn đề công bằng xã hội và bảo vệ môi trườngngay từ đầu và trong toàn bộ tiến trình phát triển
Trang 6Tất cả đều nhằm mục tiêu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nângcao đời sống vật chất văn hóa tinh thần cho nhân dân Từng bước xây dựng đưa ViệtNam trở thành một nước công nghiệp phát triển, trên con đường đi lên xây dựng chủnghĩa xã hội.
II Định nghĩa và phương pháp tiếp cận chuẩn đói nghèo
1 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cụcThống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sátmức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998) Đường đóinghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm Đường đóinghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hànglương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm) Đường đói nghèo về lươngthực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũngnhư Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cầnthiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày.Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi
1993 là 58% và 1998 là 37,4%; còn tỷ lệ đói nghèo lương thực tương ứng là 25% và15%
2 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đóinghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, TháiLan tháng 9/1993: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng vàthỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hộithừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địaphương
3 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của Chương trình xóa đói giảm
Trang 7Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính
2001-2005 và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấp thôn,
xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự trợ giúp của Chính phủ từChương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợkhác
Trước những thành tích của công cuộc giảm nghèo cũng như tốc độ tăngtrưởng kinh tế và mức sống, từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèo mới để ápdụng cho thời kỳ 2001-2005, theo đó chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảmnghèo quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng, cụ thểbình quân thu nhập là: 80 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng núinông thôn;100 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn; 150 nghìnđồng/người/ tháng ở khu vực thành thị Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng mộtchuẩn thống nhất để đánh giá tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí Quốc
tế để so sánh
III - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo
1 Các phương thức phân phối
Tăng trưởng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Và thông qua các phương thứcphân phối, kết quả của sự tăng trưởng sẽ đến được với người dân
1.1 Phân phối thu nhập theo chức năng
Phân phối thu nhập theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhậptheo các yếu tố sản xuất khác nhau như lao động (theo trình độ), đất đai (tài sản),máy móc thiết bị (vốn)…
Những khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất được hình thành từ kết quả củahoạt động kinh tế Yếu tố tác động đến các khoản thu nhập theo chức năng là giá cácyếu tố sản xuất ( tiền lương, địa tô, lãi xuất ) Nhưng trong thực tế giá của các yếu tốsản xuất có thể cao hơn (thấp hơn) do cung, cầu quyết định, chính điều đó đã làm thunhập rơi vào tay những người sở hữu nhiều các yếu tố sản xuất tạo ra khoảng cáchgiữa những người có ít và có nhiều
Như vậy phấn phối theo chức năng được xác định chủ yếu dựa vào quyền sởhữu các yếu tố sản xuất và vai trò của từng yếu tố trong sản xuất Đây chính lànguyên nhân dẫn đến mức độ phúc lợi (thu nhập) khác nhau giữa các nhóm dân cư
1.2 Phân phối lại thu nhập
Nếu như tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu không ngừng cải thiện đời sốngnhân dân thì đòi hỏi phải có tác động nhằm giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa các
Trang 8nhóm dân cư do phân phối theo chức năng tạo ra Phân phối lại thu nhập chính làhình thức để khắc phục
Phương thức phân phối lại thu nhập thường được thực hiện qua đánh thuế thunhập, các chương trình trợ cấp và chi tiêu công của Chính phủ nhằm giảm bớt mứcthu nhập của người giàu và nâng cao thu nhập của người nghèo Nhưng đây khôngphải hình thức cơ bản nâng cao thu nhập của đai bộ phận dân cư
2.Giới thiệu đường Lorenz và hệ số Gini
2.1 Đường Lozen
Conrad Lozen là nhà thống kê người Mỹ năm 1905 đã xây dựng biểu đồ
biểu thị mối quan hệ giữ các nhóm dân số và tỷ lệ thu nhập tương ứng của họ
Đường Lozen
Trục hoành biểu thị phần trăm cộng dồn của dân số và được sắp xếp theo thứ
tự thu nhập tăng dần.Trục tung là tỷ lệ trong tổng thu nhập mà mỗi phần trăm trongdân số nhận được Đường kẻ chéo (đường 450) trong hình cho thấy ở bất kì điểm nàotrên đường này đều phản ánh tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng phầntrăm của người có thu nhập Đường chéo là đại diện của sự phân phối thu nhập "hoàntoàn công bằng"
Đường Lozen cho thấy mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỷ lệ phần trămcủa dân số có thu nhập và tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong mộtkhoảng thời gian nhất định chẳng hạn là một năm
Khoảng cách giữa đường chéo và đường Lozen là một dấu hiệu cho biết mức
độ bất bình đẳng Đường Lozen càng xa đường chéo thì mức độ bất bình đẳng cànglớn, điều đó cũng có nghĩa là phần trăm thu nhập của người nghèo nhận được giảmđi
Trang 9Hệ số GINI (G) là thước đo được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thựcnghiệm Dựa vào đường Lozen có thể tính toán hệ số GINI Hệ số GINI chính là tỷ
số giữa diện tích được giới hạn bởi đường cong Lozen và đường chéo 450 với diệntích tam giác nằm bên dưới đường 450
Hệ số GINI(G) = Diện tích (A)/ Diện tích (A+B)
Về lý thuyết hệ số GINI có thể nhận được giá trị từ 0 đến 1 Song thực tế:0<G<1 Theo Ngân hàng thế giới thì giá trị thực tế cho thấy G trong khoảng 0.2 đến0.6 Với các nước có thu nhập thấp, hệ số GINI biến động từ 0.3 đến 0.5 còn cácnước co thu nhập cao từ 0.2 đến 0.4 Tuy hệ số GINI đã lượng hóa được mức độ bấtbình đẳng về phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy rằng hệ số GINIcũng chỉ mới phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối, trong một sốtrường hợp chưa đánh giá được những vấn đề cụ thể
3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập
3.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo
Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế cao và bền vững sẽ dẫn đến giảm nghèo Trênthực tế, chiều tác động của của tăng trưởng kinh tế lên giảm nghèo khá khác nhau:một số nước như Ấn Độ (Những năm 1970), Philippin (những năm 1980 và 1990) đãgiảm được nghèo một cách đáng kể mặc dù chỉ đạt mức độ tăng trưởng khiêm tốnhoặc thậm chí còn có giảm sút trong thu nhập bình quân đầu người Ngược lại một sốnước như Thái Lan (những năm 1980) Malaixia (những năm 1990) và Sri Lanka(những năm 1990) đã thất bại trong giảm nghèo mặc dù đạt được mức tăng trưởngkhá cao trong thu nhập bình quân đầu người Kinh nghiệm của Việt Nam cũng chothấy suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX và đầu những năm 2000 Tăng trưởng kinh tế cao
đi đôi với giảm nghèo nhanh chóng Tuy nhiên, tác đọng giảm nghèo của tăng trưởngkinh tế đã suy giảm trong những năm gần đây: 1% tăng trưởng GDP đưa đến giảm0.77% số người nghèo trong những năm 1993- 1998 nhưng chỉ còn 0.66% giai đọan1998-2002 Điều này cho thấy tác động rất khác nhau của những chính sách thúc đẩytăng trưởng kinh tế cụ thể cho từng giai đoạn
Nghèo đói có thể ngăn cản tăng trưởng kinh tế vì người nghèo có năng suất laođộng thấp do sức khỏe kém và kỹ năng lao động bất cập sẽ làm sói mòn năng lực sản
Trang 10xuất của nền kinh tế Nghèo đói cũng làm suy giảm năng lực tiết kiệm và đầu tư, làmcho tăng trưởng kinh tế bị triệt tiêu dần.Thêm vào đó, những đòi hỏi khắt khe về tàisản thế chấp cũng ngăn cản người nghèo tiếp cận với các khoản vay trên thị trườngtín dụng Hệ quả tất yếu: người nghèo ít có khả năng khai thác những cơ hội tích lũyvốn vật chất và vốn con người Điều này làm giảm tốc độ tăng trưởng của thu nhập,
và hệ quả có thể là nghèo đói gia tăng Ngược lại việc giảm nghèo rất có lợi cho tăngtrưởng kinh tế: Khi mức nghèo tuyệt đối giảm đáng kể thì song song đó, chúng tathường chứng kiến mức tăng trưởng kinh tế cao, bởi vì phần lớn những chính sáchtăng thu nhập của người nghèo một cách hiệu quả như đầu tư vào giáo dục tiểu học
hạ tầng nông thôn, chăm sóc sức khỏe và nâng coa dinh dưỡng cũng là các chínhsách gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Có thể kết lụân rằng tăng trưởngkinh tế là điều kiện cần cho giảm nghèo, chứ chưa là điều kiện đủ
Theo UNDP định nghĩa tăng trưởng có lợi cho người nghèo là tăng trưởngkinh tế đưa đến phân phối lại thu nhập có lợi cho người nghèo Còn theo ADB chorằng tăng trưởng kinh tế có lợi cho người nghèo khi đó là dạng tăng trưởng tận dụnglao động và kèm theo bằng những chính sách và chương trình giảm thiểu những bấtbình đẳng, thúc đẩy tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo, đặc biệt là chophụ nữ và các nhóm xã hội bị cô lập Nói cách khác Tăng trưởng kinh tế có lợi chongười nghèo là tăng trưởng tối đa hóa tác động tích cực của tăng trưởng trong việcgiảm nghèo Một chiến lược tăng trưởng có lợi cho người nghèo không chỉ tập trungvào tăng trưởng kinh tế mà còn tác động đến mô hình phân phối thu nhập để từ đóngười nghèo hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế theo một tỷ lệ lớn hơn người giàu thuhẹp lại khoảng cách giàu nghèo và cuối cùng là xóa nghèo
3.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế
Việc giảm nghèo tuyệt đối về cở chế do 2 bộ phận cấu thành: do tăng trưởngthu nhập trung bình (trong điều kiện phân phối thu nhập không đổi) và do sự giảmsút bất bình đẳng ( trong điều kiện thu nhập chung không đổi)
Các nhà kinh tế phân tách hai tác động kể trên thành tác động do tăng trưởng
và tác động do phân phối lại Bên cạnh đó, ngay cả khi bất bình đẳng không tăngnhưng mức độ bất bình đẳng ban đầu cao cũng hạn chế khả năng tăng trưởng kinh tếgiảm nghèo.Thêm nữa, bất bình đẳng thấp còn có tác dụng thúc đẩy gia tăng tỷ lệgiảm nghèo trong tương lai vì hệ số co dãn của tỷ lệ nghèo đối với thu nhập bìnhquân tỷ lệ nghịch với bất bình đẳng Như vậy có thể thấy song song mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế và nghèo đói, giảm nghèo cần được xem xét trong mối quan
hệ giữa nghèo và bất bình đẳng trong quá trình tăng tưởng
Trang 11Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm
nghèo I- Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1 Đầu vào của tăng trưởng
Tăng trưởng GDP do ba yếu tố đóng góp là vốn, lao động và năng suất cácnhân tố tổng hợp (TFP) Theo Tổng cục Thống kê, trong mấy năm gần đây, tăngtrưởng GDP của nước ta do đóng góp của yếu tố vốn chiếm 52,7%, lao động chiếm19,1% và năng suất các nhân tố tổng hợp chiếm 28,2% Điều đáng lưu ý là đóng gópcủa năng suất các nhân tố tổng hợp tỏ ra vừa thấp hơn những năm 1992-1994, vừathấp hơn tỷ lệ đó của các nước trong khu vực (thường trên dưới 40%) Các chỉ số nàyphản ánh xu hướng phát triển của nền kinh tế nước ta còn nghiêng về chiều rộng hơn
là chiều sâu Ngay trong xu hướng phát triển theo chiều rộng, thực tế lại cũngnghiêng về yếu tố vốn đầu tư, là yếu tố mà nước ta còn thiếu, phải đi vay, vừa phảihoàn vốn, vừa phải trả lãi Nhưng lượng vốn đầu tư lại đang quyết định tốc độ tăngtrưởng tới hơn một nửa Trong khi đó yếu tố lao động được coi là nguồn lực nội sinh,hiện đang có nhiều lợi thế so sánh, như giá rẻ, dồi dào thì lại chỉ đóng vai trò rất nhỏtrong tăng trưởng Đây là một vấn đề rất đáng quan tâm để tận dụng lợi thế so sánhđộng trong phát triển kinh tế và chủ động hội nhập
2 Quá trình tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm thấp hơn tốc độ tăng trưởng của giátrị sản xuất do tốc độ tăng chi phí trung gian cao, làm tỷ lệ của chi phí trung giantăng lên Điều này diễn ra trong một thời gian khá dài ở cả ba khu vực Tính chungtrong thời kỳ 1991 - 2003, tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là6,2%/năm, nhưng tăng trưởng giá trị tăng thêm chỉ đạt 4,1% , chỉ bằng 2/3 tốc độtăng trưởng của giá trị sản xuất Chi phí trung gian của khu vực này tăng cao donhiều nguyên nhân; trong đó, có nguyên nhân khách quan như chi phí do phòngchống và khắc phục hậu quả thiên tai tăng (có năm thiệt hại lên đến gần 10 nghìn tỷđồng); do giá cả thế giới thấp và sụt giảm liên tục Ngoài ra, còn có nguyên nhânchuyển dịch cơ cấu những ngành có tỷ lệ chi phí trung gian cao hơn lại tăng nhanhhơn, nên đã làm cho tỷ lệ chi phí trung gian chung của toàn khu vực nông, lâm, ngưnghiệp tăng lên
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch chưa tốt, đầu tư theo phong trào hoặc tựphát, tình trạng "trồng rồi lại chặt" khi vòng đời kinh tế chưa kết thúc, chưa thu hồi
Trang 12được vốn do không có thị trường tiêu thụ Chi phí đầu vào của hầu hết các khâu từlàm đất, thủy lợi, giống, bảo vệ thực vật, đều còn ở mức cao.
3 Đầu ra của tăng trưởng
Trong cơ chế thị trường, đầu ra - tiêu thụ sản phẩm, mới có ý nghĩa quyết địnhquá trình tái sản xuất xã hội Trong các kênh tiêu thụ, xuất khẩu là một kênh có tầmquan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta: năm 2003 chiếm trên 50% GDP (caothứ 6 trong khu vực, thứ 9 ở châu Á và thứ 17 trên thế giới) Tuy nhiên, trong tổngkim ngạch xuất khẩu tỷ trọng hàng nguyên liệu, hàng thô, hàng sơ chế hoặc hàng giacông còn chiếm tỷ trọng khá cao, do đó khả năng thu ngoại tệ chưa khai thác hết.Trong tổng số 19,1 tỷ USD hàng xuất khẩu trong chín tháng đầu năm 2004, kimngạch của những mặt hàng này chiếm 3/4 tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong khi đó, nhập siêu vài năm gần đây lại gia tăng cả về giá trị kim ngạchnhập khẩu, cả về tỷ lệ nhập siêu: năm 1999 có 200,7 triệu USD (chiếm 1,7% xuấtkhẩu), năm 2001 là 1.189 triệu USD (chiếm 7,9%), năm 2002 là 3.039 triệu (chiếm18,2%), năm 2003 lên 5.050 triệu USD (chiếm 25%), chín tháng đầu năm 2004 là3.389 triệu USD (chiếm 17,8%) Điều đáng lưu ý là nhập siêu tập trung vào khu vựckinh tế trong nước, chứng tỏ chúng ta chưa tận dụng được thời cơ, chậm khắc phụcthách thức do cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo những cam kết và lịch trình hộinhập Thêm vào đó, bên cạnh một số mặt hàng hiện đứng thứ nhất, thứ nhì thế giớihoặc khu vực, thì vẫn còn nhiều mặt hàng chưa có thương hiệu riêng hoặc phải đứngdưới thương hiệu của nước khác, nên chẳng những không quyết định được mức giá
cả, mà còn không bán được với giá cả cùng loại như các nước khác
II Thực trạng đói nghèo của Việt Nam trong thời gian qua
1 Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta đã giảm nhanh, trong đó thành thị giảm nhanh hơn nông thôn
Năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta là 8.3% tương đương với khoảng 1.45triệu hộ ( năm 2001 tỷ lệ nghèo là 17.4% với khoảng 2.8 triệu hộ) Điều này cho thấythực trạng nghèo đói đã được cải thiện nhanh Xu hướng này được phản ánh cụ thểdưới đây:
Trang 13Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta trong thời gian qua
Nguồn: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc(2003), báo cáo phát triển con
người 2002
Nếu như năm 1993 có 58.1% hộ nghèo, thì năm 1998 có 37.4% hộ và đến năm
2002 tỷ lệ này là 28.9%(khoảng 4.73 triệu hộ nghèo) nghĩa là sau 10 năm hơn mộtnửa số hộ nghèo đã được thoát nghèo Tuy nhiên tốc đọ giảm nghèo ở nông thôn vàthành thị không giống nhau Trong đó thành thị giảm đi tới 4 lần từ 25.1% năm 1993xuống còn 6.6% năm 2002, trong khi đó nông thôn chỉ giảm được 1/2 số hộ nghèo,
từ 66.4% xuống còn 35.6% Nếu tính theo chuẩn lương thực thực phẩm thì số hộnghèo ở thành thị còn giảm nhanh hơn, từ 7.9% xuống còn 1.9% nghĩa là giảm đi 4lần trong khi đó ở nông thôn chỉ giảm đi hơn 2 lần từ 29.1% xuống còn 13.6%
2 Số hộ nghèo vẫn còn nhiều và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ ở cận kề chuẩn nghèo còn đông
Theo các nhà hoạch định chính sách nếu nâng chuẩn nghèo lên 180.000 200.000 VND/người /tháng đối với vùng nông thôn và 250.000 VND-260.000 VND/người/ tháng đối với thành thị, thì Việt Nam sẽ có 4.6 triệu hộ nghèo, chiếm 26%tổng số hộ toàn quốc Trong đó hộ nghèo nông thôn miền núi 45.9%, ở vùng nông
Trang 14VND-thôn đồng bằng sẽ là 23.2% và ở khu vực thành thị là 12.2% Khi đó tỷ lệ nghèo ởcác vùng kinh tế sẽ có chênh lệch đáng kể: Tây Bắc là 72.3%; Đông Bắc là 36.1%;Đồng bằng Sông Hồng 19.8%; Bắc Trung Bộ 39.7%; Duyên Hải miền Trung 23.3%;Tây Nguyên 52.2%; Đông Nam Bộ 10.2% và Đồng Bằng Sông Cửu Long20.8%.
Có thể thấy rõ hơn qua chỉ tiêu phản ánh cuộc sống hàng ngày Theo số liệuđiều tra về mức sống dân cư Việt Nam, chia dân cư ra thành 5 nhóm thu nhập (đườngLozen) thì nhóm I - nhóm nghèo nhất có thu nhập trung bình năm 1998 là 62.916VND/người/tháng (755.000 VND/năm) và năm 2002 là 107.670 VND/người/tháng.Trên 62.71 thu nhập của hộ nghèo là từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản, 8%
từ hoạt động phi nông nghiệp, 19.24% từ tiền công, tiền lương và 10.05% là từnguồn thu khác Điều này phản ánh rằng các hộ nghèo sống chủ yếu dựa vào nôngnghiệp và ở nông thôn Cơ cấu chi tiêu cho các nhóm nghèo tập trung cho các nhucầu thiết yếu, như 70% cho nhu cầu ăn, uống hút và chưa đến 30% cho các nhu cầukhác như mặc, y tế, giao thôn, giáo dục văn hóa thể thao Một trong những nhu cầu
cơ bản của con người là nơi ở Năm 2002 có 39.93% người nghèo sống trong cácngôi nhà tạm bợ, không bảo đảm an toàn Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạthàng ngày vẫn còn rất thiếu cho các nhu cầu hiện đại
3 Sự phân hóa giàu nghèo giữa các khu vực, giữ các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính
Sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng được chú ý trong thời kỳ chuyểnđổi kinh tế ở nước ta Trước hết tỷ lệ nghèo phân biệt theo các vùng
Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng
Trang 15Các số liệu cho thấy tỷ lệ hộ nghèo ở cùng Tây Bắc nhiều gấp 7 lần vùngĐông Nam Bộ, còn Tây Nguyên là gần 5 lần và Bắc Trung Bộ là 4 lần… Cùng với
xu hướng giảm hộ nghèo chung của cả nước, các vùng cũng có xu hướng giảm, trong
đó Đông Bắc và Đồng bằng Sông Cửu Long có mức giảm nhanh nhất Các tỉnh có tỷ
lệ nghèo lương thực, thực phẩm cao nhất tập trung ở miền núi phía Bắc là Lai Châu(35.68%), Bắc Kạn (30.74%), Lào Cai (29.56%), Cao Bằng (27.01%) ở Tây Nguyên
có tỉnh Gia Lai( 18.18%), ở Bắc Trung Bộ có tỉnh Hà Tĩnh (22.55%)
Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm thấp nhất là thành phố Hồ ChíMinh (1.26%), Bình Dương (1.68%), Đà Nẵng (1.83%), Hà Nội (2.25%) Nếu sosánh chỉ tiêu này chúng ta thấy sự chệnh lệch này rất lớn, thí dụ tỷ lệ nghèo của LaiChâu lớn gấp hơn 28.3 lần so với Thành Phố Hồ Chí Minh và gấp 15.86 lần so với
Hà Nội
4 Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư
Sự phân hóa giàu nghèo thể hiện rõ khi điều tra dựa trên 5 nhóm thu nhập(đường Lozen) Năm 2002 nhóm giàu nhất có thu nhập 873.000 VND/người/thánggấp 8.1 lần nhóm nghèo nhất (108.000VND) Sự bất bình đẳng đó thể hiện qua:
Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và giàu nhất năm 2002
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004)
Kết quả cho thấy mức độ bất bình đẳng giữa hai nhóm dân cư giàu nhất vànghèo nhất Nhóm dân cư giàu đã có ưu thế trong nhiều lĩnh vực dịch vụ, kể cả việclàm Bởi vì số giờ làm việc trung bình của nhóm giàu nhiều hơn nhóm nghèo đến 1.7lần, không phải những người nghèo làm ít giờ và không muốn làm việc, mà do tìnhtrạng thiếu việc làm, đặc biệt là thời gian nhàn rỗi ở khu vực nông thôn