1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuẩn mực kế toán quốc tế trong vấn đề về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - So sánh với Việt Nam

35 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuẩn mực kế toán quốc tế trong vấn đề về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - So sánh với Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 187,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁNN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ (3)
    • 1. Những vấn đề chung về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (3)
      • 1.1. Vai trò của việc xác định doanh thu (3)
      • 1.2. Phân biệt doanh thu v thu nh p khác à thu nhập khác ập khác (0)
    • 2. Nguyên tắc xác định và điều kiện ghi nhận doanh thu (4)
      • 2.2. Thêi ®iÓm ghi nhËn doanh thu (5)
    • 3. Nguyên tắc hạch toán doanh thu bán hàng (8)
  • ChƯƠNG II. Chế độ kế toán hiện hành về doanh thu bán hàng (9)
    • 1. Chế độ kế toán hiện hành trong vấn đề doanh thu tại Việt Nam (9)
    • 2. Chuẩn mực kế toán quốc tế trong vấn đề về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - So sánh với Việt Nam (16)
    • 3. Một số vấn đề trong chế độ hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp Việt Nam (17)
  • CHƯƠNG III. Đ ÁNH GIÁ VÀ PH NH GI V PH ÁNH GIÁ VÀ PH À PH ƯƠNG HƯỚNG HO N THI ÀN THI ỆN (0)
    • 1. Đánh giá thực trạng (28)
    • 2. Phương hướng hoàn thiện (31)
  • KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁNN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ

Những vấn đề chung về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu hiện nay được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18, doanh thu được định nghĩa là giá trị gộp của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Những lợi ích này phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanh nghiệp, dẫn đến sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu, không bao gồm phần tăng thêm từ đóng góp của cổ đông.

Theo định nghĩa của kế toán Mỹ, tổng doanh thu bao gồm cả doanh thu bằng tiền và doanh thu bán chịu trong kỳ kế toán Khi xảy ra nghiệp vụ bán hàng, doanh thu sẽ tăng lên, dẫn đến sự gia tăng khoản phải thu nếu là bán chịu, hoặc tăng tiền nếu khách hàng thanh toán ngay.

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về doanh thu, nhưng tất cả đều hướng đến một bản chất chung Định nghĩa về doanh thu theo chuẩn mực kế toán được coi là đầy đủ và chính xác nhất.

Theo chuẩn mực kế toán số 14 (VAS14), doanh thu được định nghĩa là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán Doanh thu này phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và có vai trò quan trọng trong việc tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

Các khoản doanh thu phát sinh từ các dịch vụ và giao dịch sau:

(1) Bán hàng: bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc bán hàng hóa mua vào.

(2) Cung cấp dịch vụ: thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán

(3) Tiền lãi, tiền bản quyền cổ tức và lợi nhuận đợc chia

1.2.Phân biệt doanh thu và thu nhập khác

Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ từ bên thứ ba không được coi là doanh thu vì không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Ví dụ, khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng, doanh thu của họ chỉ là tiền hoa hồng nhận được Ngoài ra, các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu cũng làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không được xem là doanh thu.

Thu nhập khác là khoản thu góp phần tăng vốn chủ sở hữu, phát sinh từ các hoạt động ngoài doanh thu chính Nó bao gồm thu nhập từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, tiền phạt khách hàng vi phạm hợp đồng, tiền bảo hiểm được bồi thường, các khoản nợ đã xóa sổ tính vào chi phí trước đó, nợ mất chủ nợ ghi tăng thu nhập, và các khoản thuế giảm hoặc hoàn lại cùng các khoản thu khác.

Nguyên tắc xác định và điều kiện ghi nhận doanh thu

Nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

1 Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.

2 Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

3 Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

4 Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự, giao dịch này được coi là tạo ra doanh thu Doanh thu được xác định dựa trên giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền Nếu không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận, doanh thu sẽ được tính theo giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đã trao đổi, cũng sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền.

2.2 Thêi ®iÓm ghi nhËn doanh thu a Doanh thu bán hàng

1 Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm

(a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;

(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;

(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

2 Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua.

Nếu doanh nghiệp vẫn phải chịu phần lớn rủi ro liên quan đến quyền sở hữu hàng hóa, giao dịch sẽ không được xem là hoạt động bán hàng và doanh thu sẽ không được ghi nhận Rủi ro này có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo rằng tài sản hoạt động bình thường, và điều này không được bao gồm trong các điều khoản bảo hành thông thường.

(b) Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua hàng hóa đó;

Khi hàng hóa được giao nhưng vẫn đang chờ lắp đặt, điều này trở thành một phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp cần hoàn thành.

Khi người mua có quyền huỷ bỏ giao dịch mua hàng theo các điều khoản trong hợp đồng, doanh nghiệp cần xem xét khả năng hàng hóa có thể bị trả lại hay không.

3 Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận Ví dụ doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hóa chỉ để đảm bảo sẽ nhận được đủ các khoản thanh toán.

4 Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không) Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.

5 Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng (như chi phí bảo hành và chi phí khác), thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận là doanh thu mà được ghi nhận là một khoản nợ phải trả tại thời điểm nhận tiền trước của khách hàng Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ được ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thỏa mãn năm (5) điều kiện quy định ở đoạn 10. Đề án môn học Kế toán tổng hợp b Doanh thu cung cấp dịch vụ

1 Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau:

(a) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

(b) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;

(c) Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;

(d) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.

2 Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.

3 Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.

Nguyên tắc hạch toán doanh thu bán hàng

Kế toán doanh thu không chỉ cần tuân thủ các nguyên tắc xác định và thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng, mà còn phải tuân theo những nguyên tắc hạch toán quan trọng khác.

Việc ghi nhận doanh thu theo nguyên tắc dồn tích và nguyên tắc phù hợp là rất quan trọng, nhằm cung cấp thông tin chính xác về doanh thu và chi phí trong mỗi kỳ kinh doanh Doanh thu và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch cần được ghi nhận đồng thời, đảm bảo tính hợp lý và chính xác trong báo cáo tài chính.

Doanh thu, bao gồm cả doanh thu nội bộ, cần được theo dõi riêng theo từng loại như doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận chia Mỗi loại doanh thu cần được chi tiết hóa; ví dụ, doanh thu bán hàng có thể được phân loại thành doanh thu từ sản phẩm và hàng hóa Việc này giúp xác định chính xác kết quả kinh doanh, phục vụ cho quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và lập báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong kỳ kế toán, nếu phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hoặc hàng bán bị trả lại, thì cần hạch toán riêng biệt Các khoản giảm trừ này sẽ được trừ vào doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần, từ đó làm căn cứ xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán.

Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp cần xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả doanh thu thuần trong kỳ sẽ được chuyển vào tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh, trong khi các khoản doanh thu không có số dư sẽ không được tính vào cuối kỳ.

Doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng ngoại tệ cần được quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch bình quân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.

Chế độ kế toán hiện hành về doanh thu bán hàng

Chế độ kế toán hiện hành trong vấn đề doanh thu tại Việt Nam

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2006, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, quy định về chế độ kế toán doanh nghiệp mới, thay thế cho chế độ kế toán doanh nghiệp được ban hành theo quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1 tháng 11 năm 2005.

Các chứng từ sử dụng

Khi tiến hành bán hàng, việc lập hóa đơn là cần thiết để người mua có tài liệu ghi sổ, đồng thời người bán cũng sử dụng hóa đơn này làm căn cứ để ghi nhận doanh thu và quản lý sổ sách kế toán của mình.

Hóa đơn bán hàng thông thường phải thể hiện giá bán đã bao gồm thuế GTGT, các khoản phụ thu và phí ngoài tiền bán (nếu có), cùng với tổng giá thanh toán đã bao gồm thuế GTGT.

Hóa đơn GTGT cần thể hiện giá bán chưa bao gồm thuế GTGT, các khoản phụ thu và phí ngoài tiền bán nếu có, cùng với thuế GTGT và tổng giá thanh toán đã bao gồm thuế GTGT.

- Phiếu thu, phiếu chi để ghi nhận các khoản thu chi bằng tiền

- Giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng

- Các chứng từ khác liên quan (nếu có)

Các tài khoản sử dụng a Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (TK 511) “ ”

Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” sử dụng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.

Tài khoản này có kết cấu và nội dung ghi nh sau:

Số thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất khẩu được tính dựa trên doanh thu thực tế từ việc bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản và dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng, và phải được xác định là tiêu thụ trong kỳ kế toán.

- Số thuế GTGT phải nộp NSNN đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp trực tiếp;

- Khoản chiết khấu thơng mại kết chuyển cuối kỳ;

- Trị giá hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ;

- khoản giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ;

- Kết chuyển doanh thu thuần vào Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”; Đề án môn học Kế toán tổng hợp

- Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản dầu t,và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán

Tài khoản 511 không có số d cuối kỳ, và có 5 tài khoản cấp 2 sau:

Tài khoản 5111 - doanh thu bán hàng hóa, ghi nhận doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng hàng hóa đã được tiêu thụ trong kỳ kế toán của doanh nghiệp.

Tài khoản 5112 ghi nhận doanh thu từ việc bán các thành phẩm, phản ánh doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng sản phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) đã tiêu thụ trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp.

Tài khoản 5113 - doanh thu cung cấp dịch vụ, ghi nhận doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng dịch vụ đã hoàn thành và cung cấp cho khách hàng, được xác định là tiêu thụ trong một kỳ kế toán.

Tài khoản 5114 ghi nhận doanh thu từ các khoản trợ cấp và trợ giá của Nhà nước dành cho doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.

Tài khoản 5117 phản ánh doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư của doanh nghiệp, trong khi tài khoản 512 được sử dụng để kế toán doanh thu nội bộ.

Doanh thu tiêu thụ nội bộ là khoản tiền thu được từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ giữa các đơn vị trong cùng một công ty hoặc tổng công ty.

Kế toán sử dụng tài khoản 512 “Doanh thu nội bộ” để phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp

Tài khoản này có kết cấu và nguyên tắc ghi nh sau:

Trị giá hàng bán bị trả lại và khoản giảm giá hàng bán đã được chấp nhận sẽ được ghi nhận trên khối lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tiêu thụ nội bộ trong báo cáo cuối kỳ kế toán.

- Số thuế tiêu thụ nội bộ phải nộp của số sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ nội bé;

- Số thuế GTGT phải nộp tính theo phơng pháp trực tiếp của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội bộ;

- Kết chuyển doanh thu tiêu thụ nội bộ thuần vào tài khoản 911 “xác định kết quả kinh doanh”

Bên Có: Đề án môn học Kế toán tổng hợp

- Tổng số doanh thu bán hàng nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ kế toán

Tài khoản 512 không có số d cuối kỳ, và có 3 tài khoản cấp 2 sau:

- Tài khoản 5121 - doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu của khối lợng hàng hóa đã đợc xác định là tiêu thụ nội bộ trong kỳ kế toán.

Tài khoản 5122 ghi nhận doanh thu từ việc bán các thành phẩm, phản ánh doanh thu của các sản phẩm và dịch vụ được cung cấp giữa các đơn vị trong cùng một công ty hoặc tổng công ty.

Tài khoản 5123 - doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ cho các đơn vị trong cùng công ty hoặc tổng công ty.

Phơng pháp hạch toán doanh thu bán hàng. a Doanh thu của khối lợng hàng hóa, dịch vụ đã đợc xác định là bán trong kỳ kế toán:

Đối với sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chịu thuế GTGT, doanh thu bán hàng của doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ được ghi nhận theo giá bán chưa bao gồm thuế GTGT.

Nợ TK 111, 112, 131 (tổng giá thanh toán)

Có TK 511 - (giá bán cha co thuế GTGT)

Có TK 3331 - thuế GTGT phải nộp

Chuẩn mực kế toán quốc tế trong vấn đề về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - So sánh với Việt Nam

Theo chuẩn mực kế toán số 14 (VAS14) và IAS18, doanh thu được định nghĩa là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Doanh thu không chỉ bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh doanh mà còn phản ánh sự gia tăng tài sản của doanh nghiệp, ngoài phần đóng góp từ cổ đông.

Theo VAS14 và IAS18, doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đáp ứng đủ 5 điều kiện cụ thể.

(a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;

(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;

(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Một số vấn đề trong chế độ hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp Việt Nam

a Chế độ hạch toán doanh thu hiện nay trong doanh nghiệp thương mại điện tử

Kể từ năm 2005, các điều kiện cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử tại Việt Nam đã được thiết lập, giúp doanh nghiệp đa dạng hóa hoạt động kinh doanh với nhiều đổi mới về hình thức và nội dung Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các chuẩn mực và quy định kế toán hiện hành thì không đủ để xác định thời điểm ghi nhận và giá trị ghi nhận.

Thứ nhất , vấn đề xác định thời điểm ghi nhận doanh thu.

Xác định đúng thời điểm ghi nhận doanh thu là yếu tố quan trọng trong kế toán, giúp đảm bảo thông tin phản ánh chính xác và đầy đủ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong chế độ kế toán doanh thu, doanh thu được ghi nhận khi đáp ứng đủ 5 điều kiện đã nêu Tuy nhiên, trong lĩnh vực kinh doanh hàng công nghệ cao, việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu trở nên phức tạp, đặc biệt khi áp dụng thông lệ bán hàng hóa hoặc dịch vụ trọn gói.

Trọn gói là hình thức doanh nghiệp kết hợp nhiều hoạt động tạo doanh thu liên quan trong một giao dịch, như bán đầu thu kỹ thuật số kèm dịch vụ truyền hình hoặc phần mềm kèm cập nhật Giao dịch này không chỉ gia tăng doanh thu mà còn củng cố mối quan hệ giữa nhà cung cấp và khách hàng Sau khi lắp đặt đầu thu, nhà cung cấp cần đảm bảo phát sóng liên tục Kế toán sẽ ghi nhận toàn bộ doanh thu của gói ngay sau khi bán hàng, hoặc có thể tách giao dịch thành từng hoạt động riêng biệt và ghi nhận doanh thu cho từng hoạt động.

Việc ghi nhận doanh thu ngay sau khi bán hàng không phù hợp với chế độ kế toán, đặc biệt trong trường hợp bán hàng hóa dịch vụ trọn gói, khi một phần dịch vụ hoặc hàng hóa vẫn chưa được thực hiện Do đó, không thể coi đó là doanh thu trong kỳ Nếu kế toán tách biệt từng hoạt động để ghi nhận doanh thu, việc nhận diện từng phần của giao dịch có thể gặp khó khăn.

Trong giao dịch bán đầu thu kỹ thuật số kèm dịch vụ phát sóng, toàn bộ số tiền từ khách hàng thường là giá trị của đầu thu, trong khi dịch vụ chương trình được cung cấp miễn phí Tuy nhiên, khách hàng sẽ không mua đầu thu nếu không có dịch vụ truyền hình đi kèm Tương tự, trong giao dịch phần mềm kèm cập nhật, khách hàng có thể chỉ sẵn sàng trả một mức giá thấp hơn, hoặc thậm chí không giao dịch nếu không được cung cấp cập nhật và bản vá lỗi Mặc dù thỏa thuận có thể được coi là miễn phí, nhưng các hàng hóa và dịch vụ kèm theo thực sự là phần không thể thiếu trong giao dịch, chiếm một tỷ lệ quan trọng trong tổng giá trị, và kế toán không thể tách biệt khi ghi nhận doanh thu.

Thứ hai , là việc xác định giá trị khi ghi nhận doanh thu.

Yếu tố quan trọng thứ hai trong kế toán là xác định giá trị để ghi nhận doanh thu Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh thu được ghi nhận theo giá trị hợp lý, tuy nhiên, trong một số giao dịch trực tuyến, giá trị hợp lý không phải lúc nào cũng rõ ràng, đặc biệt là trong thương mại "hàng đổi hàng".

Thương mại hàng đổi hàng đã tồn tại từ lâu, trong đó người bán cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người mua, và người mua sẽ trả giá trị tương đương Việc xác định giá trị hợp lý trong giao dịch hàng đổi hàng thường khá đơn giản, như ví dụ một công ty xuất nhập khẩu trong nước đổi hải sản lấy thép với công ty nước ngoài Dù là giao dịch đổi hàng, giá trị của hải sản và thép đều được ghi rõ trong hợp đồng Nếu không có thỏa thuận, kế toán vẫn có thể xác định giá trị hợp lý dựa trên giá của hàng hóa tương tự trên thị trường.

Trong môi trường thương mại điện tử, việc xác định giá trị giao dịch trở nên phức tạp, đặc biệt là trong các trường hợp "đổi quảng cáo lấy quảng cáo" Cụ thể, khi công ty A cho phép công ty B đặt quảng cáo trên trang web của mình mà không thu phí, đổi lại công ty B cũng sẽ cho công ty A cơ hội đặt quảng cáo trên nền tảng của họ.

Việc lên trang web của B hoàn toàn miễn phí, giúp các công ty mở rộng khả năng sử dụng internet để thông tin và quảng cáo đến khách hàng Từ góc độ kế toán, giá trị của mỗi quảng cáo trên các mạng web là không đồng nhất, tạo nên sự trao đổi giữa các hàng hóa không tương tự Điều này cho thấy giao dịch này đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu, tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là doanh thu sẽ được ghi nhận với giá trị bao nhiêu?

Quay trở lại với việc trao đổi quảng cáo trên trang web giữa hai công ty

Hợp đồng giữa A và B chỉ quy định thời hạn quảng cáo trên trang web mà không đề cập đến giá trị tiền tệ của quảng cáo Để ghi nhận doanh thu theo chế độ kế toán hiện hành, cần xác định giá cả hợp lý dựa trên giá thị trường của hàng hóa tương đương Tuy nhiên, giá trị quảng cáo trên mỗi trang web khác nhau, và do chưa có chuẩn mực chung, nên giá trị này chỉ có thể so sánh với chính nó Giả sử đây là lần đầu tiên cả hai công ty cho phép bên ngoài đặt quảng cáo, việc xác định giá trị hợp lý cho giao dịch "đổi quảng cáo lấy quảng cáo" trở nên khó khăn Để giải quyết các vấn đề thương mại điện tử hiện nay, chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước Đối với giao dịch bán hàng hóa dịch vụ trọn gói, kế toán cần tách biệt từng phần của gói hàng hóa dịch vụ nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.

- Thành tố đợc xem là riêng biệt nếu thành tố đó có thể đợc đem bán một cách riêng rẽ

- Kế toán có căn cứ xác định giá trị hợp lý của doanh thu đối với từng thành tố.

Nếu thành tố cha được giao cho người mua là thiết yếu đối với một thành tố khác đã phân phối, kế toán sẽ không ghi nhận doanh thu cho đến khi yếu tố thiết yếu này được giao cho khách hàng Trong trường hợp giao dịch đổi quảng cáo lấy quảng cáo trên internet, cần tuân thủ quy định này để đảm bảo tính chính xác trong báo cáo tài chính.

Giá trị hợp lý của quảng cáo trao đổi có thể xác định dựa trên giao dịch bán quảng cáo trước đó với đối tượng tương đương, miễn là giao dịch này diễn ra trong vòng 6 tháng trước Doanh thu từ quảng cáo đổi quảng cáo được ghi nhận tối đa bằng tổng giá trị của giao dịch bán quảng cáo đã sử dụng làm cơ sở tính toán giá trị hợp lý.

Giải pháp hiện tại vẫn chưa hoàn toàn giải quyết các vấn đề liên quan đến việc ghi nhận doanh thu trên internet, dẫn đến nhiều phức tạp trong việc xác định thời điểm và giá trị ghi nhận doanh thu.

Chế độ kế toán cần được hoàn thiện với những hướng dẫn cụ thể và phù hợp hơn để đảm bảo thông tin về doanh thu của doanh nghiệp được phản ánh một cách trung thực, khách quan và đầy đủ Đồng thời, cần thảo luận về việc hạch toán doanh thu nội bộ để nâng cao tính chính xác trong báo cáo tài chính.

Đ ÁNH GIÁ VÀ PH NH GI V PH ÁNH GIÁ VÀ PH À PH ƯƠNG HƯỚNG HO N THI ÀN THI ỆN

Đánh giá thực trạng

Vấn đề thơng mại điện tử hiện nay - chế độ kế toán doanh thu hiện nay cha cã híng dÉn cô thÓ.

Kể từ năm 2005, các điều kiện cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử tại Việt Nam đã được thiết lập, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn với nhiều đổi mới về cả hình thức lẫn nội dung Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào các chuẩn mực và quy định kế toán hiện hành không đủ để xác định thời điểm ghi nhận cũng như giá trị ghi nhận.

Thứ nhất , vấn đề xác định thời điểm ghi nhận doanh thu.

Xác định đúng thời điểm ghi nhận doanh thu là yếu tố then chốt trong kế toán, giúp đảm bảo thông tin phản ánh chính xác và đầy đủ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Doanh thu trong kế toán được ghi nhận khi đáp ứng đủ 5 điều kiện quy định Tuy nhiên, trong lĩnh vực công nghệ cao, việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu trở nên phức tạp do thực tiễn bán hàng hóa và dịch vụ trọn gói.

Trọn gói là việc doanh nghiệp kết hợp nhiều hoạt động tạo ra doanh thu trong một giao dịch, như bán đầu thu kỹ thuật số kèm dịch vụ truyền hình hoặc phần mềm kèm cập nhật Giao dịch này không chỉ gia tăng doanh thu mà còn củng cố mối liên kết giữa nhà cung cấp và khách hàng Sau khi lắp đặt đầu thu, nhà cung cấp cần đảm bảo phát sóng liên tục Kế toán sẽ ghi nhận toàn bộ doanh thu của gói ngay sau khi bán hàng hay tách giao dịch thành các hoạt động riêng biệt để ghi nhận doanh thu cho từng hoạt động?

Việc ghi nhận doanh thu ngay sau khi bán hàng không phù hợp với chế độ kế toán, đặc biệt trong trường hợp bán hàng hóa dịch vụ trọn gói, khi một phần dịch vụ hoặc hàng hóa chưa được thực hiện Do đó, không thể coi đây là doanh thu trong kỳ Nếu kế toán tách riêng từng hoạt động để ghi nhận doanh thu, việc nhận diện từng phần riêng biệt của giao dịch có thể gặp khó khăn.

Trong giao dịch bán đầu thu kỹ thuật số kèm dịch vụ phát sóng, toàn bộ số tiền từ khách hàng được coi là giá trị của đầu thu, trong khi dịch vụ chương trình được miễn phí Tuy nhiên, khách hàng chỉ mua đầu thu khi có dịch vụ truyền hình đi kèm Tương tự, trong giao dịch phần mềm kèm cập nhật, khách hàng có thể trả giá thấp hơn hoặc không thực hiện giao dịch nếu không được cung cấp bản cập nhật và vá lỗi Mặc dù thỏa thuận có thể được xem là miễn phí, nhưng các hàng hóa và dịch vụ đi kèm là phần thiết yếu của giao dịch, đóng góp vào tổng giá trị mà kế toán không thể tách biệt khi ghi nhận doanh thu.

Thứ hai , là việc xác định giá trị khi ghi nhận doanh thu.

Yếu tố quan trọng thứ hai trong kế toán là xác định giá trị để ghi nhận doanh thu Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh thu được ghi nhận theo giá trị hợp lý Tuy nhiên, trong một số giao dịch trực tuyến, giá trị hợp lý không phải lúc nào cũng dễ xác định, đặc biệt là trong thương mại "hàng đổi hàng".

Thương mại hàng đổi hàng đã tồn tại từ lâu, trong đó người bán cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người mua, và người mua phải trả giá trị tương đương Việc xác định giá trị hợp lý trong giao dịch hàng đổi hàng khá đơn giản, như khi một công ty xuất nhập khẩu trong nước đổi hải sản lấy thép từ công ty nước ngoài Mặc dù là giao dịch hàng đổi hàng, giá trị hải sản và thép đều được ghi rõ trong hợp đồng, và nếu không có thỏa thuận, kế toán vẫn có thể xác định giá trị hợp lý dựa trên hàng hóa tương tự trên thị trường.

Trong môi trường thương mại điện tử, việc xác định giá trị giao dịch có thể trở nên phức tạp, đặc biệt là trong trường hợp "đổi quảng cáo lấy quảng cáo" Cụ thể, khi công ty A cho phép công ty B đặt quảng cáo trên trang web của mình mà không thu phí, đổi lại, công ty B cũng sẽ đặt quảng cáo cho công ty A.

Việc lên trang web của B là miễn phí, và từ góc độ kinh doanh, sự trao đổi này giúp các công ty khai thác tối đa khả năng của internet trong việc truyền thông và quảng cáo đến khách hàng Trong lĩnh vực kế toán, giá trị của mỗi quảng cáo trên các mạng web không đồng nhất, tạo ra giao dịch giữa các hàng hóa không tương tự, đủ điều kiện ghi nhận doanh thu Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là doanh thu sẽ được ghi nhận với giá trị bao nhiêu?

Quay trở lại với việc trao đổi quảng cáo trên trang web giữa hai công ty

Hợp đồng giữa A và B chỉ quy định thời gian đặt quảng cáo trên website mà không đề cập đến giá trị tiền tệ của quảng cáo Để ghi nhận doanh thu theo chế độ kế toán hiện hành, cần xác định giá cả hợp lý dựa trên giá thị trường của hàng hóa tương đương Tuy nhiên, do giá trị quảng cáo trên từng trang web khác nhau và chưa có chuẩn mực chung để định giá, giá trị quảng cáo chỉ có thể so sánh với chính nó Giả sử đây là lần đầu tiên hai công ty đồng ý cho bên ngoài đặt quảng cáo, và giao dịch này chỉ là "đổi quảng cáo lấy quảng cáo", nên cả hai không thể xác định giá trị hợp lý của quảng cáo trao đổi.

- Sự không phù hợp giữa chính sách Thuế thu nhập doanh nghiệp với chế độ kế toán hiện hành.

Hiện nay, trong quá trình kiểm tra quyết toán thuế, thường xảy ra tình trạng thu nhập chịu thuế do cơ quan thuế xác định cao hơn lợi nhuận theo báo cáo quyết toán thuế tài chính của doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự lúng túng trong hạch toán và xác định số liệu giữa quyết toán tài chính và quyết toán thuế, do nhiều tổ chức và cá nhân chưa quen với sự khác biệt này và yêu cầu số liệu kế toán và thuế phải thống nhất.

Trong một số trường hợp, theo chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu tính thuế trong năm có thể được ghi nhận, nhưng chưa đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu theo chế độ kế toán Ví dụ, khi đã phát hành hóa đơn bán hàng nhưng chưa đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu theo quy định kế toán.

Trong nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ được trao đổi không được ghi nhận là doanh thu theo chế độ kế toán, nhưng lại được xem là doanh thu để tính thu nhập chịu thuế theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Vào thứ ba, các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo chế độ kế toán không được loại trừ khỏi doanh thu khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ, các khoản chiết khấu được giảm trừ doanh thu theo chế độ kế toán nhưng không có đủ chứng từ hợp pháp để giảm trừ doanh thu tính thuế trong trường hợp thanh toán bằng tiền mặt.

Phương hướng hoàn thiện

Để giải quyết vấn đề chế độ kế toán doanh thu trong thương mại điện tử, chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước Đối với giao dịch bán hàng hóa và dịch vụ trọn gói, kế toán cần tách biệt từng phần của gói hàng hóa và dịch vụ nếu các điều kiện nhất định được thỏa mãn.

- Thành tố đợc xem là riêng biệt nếu thành tố đó có thể đợc đem bán một cách riêng rẽ

- Kế toán có căn cứ xác định giá trị hợp lý của doanh thu đối với từng thành tố.

Nếu yếu tố cha được giao cho người mua là cần thiết cho một yếu tố khác đã phân phối, kế toán sẽ không ghi nhận doanh thu cho đến khi yếu tố này được giao cho khách hàng Điều này cũng áp dụng cho giao dịch đổi quảng cáo lấy quảng cáo trên internet.

Giá trị hợp lý của quảng cáo trao đổi có thể xác định dựa trên giao dịch bán quảng cáo trước đó với một đối tượng tương đương, nhưng phải trong khoảng thời gian không quá 6 tháng Doanh thu từ quảng cáo đổi chỉ được ghi nhận tối đa bằng tổng giá trị của giao dịch bán quảng cáo đã sử dụng làm cơ sở tính toán giá trị hợp lý.

Giải pháp hiện tại vẫn chưa hoàn toàn khắc phục những vấn đề đã nêu, dẫn đến nhiều phức tạp trong việc ghi nhận doanh thu trên internet, cả về thời điểm và giá trị ghi nhận.

Chế độ kế toán cần được cập nhật với những hướng dẫn cụ thể và phù hợp hơn, nhằm đảm bảo rằng thông tin doanh thu của các doanh nghiệp được phản ánh một cách trung thực, khách quan và đầy đủ.

Để giảm chênh lệch giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và doanh thu chịu thuế, cần phải đảm bảo tất cả các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn hợp pháp Bộ Tài chính đã triển khai nhiều chính sách nhằm khuyến khích việc sử dụng hóa đơn, như thanh toán không dùng tiền mặt, bán hóa đơn lẻ và khuyến khích hóa đơn tự in Việc sử dụng hóa đơn không chỉ giúp xác định chính xác thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp, giám sát chi phí và giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ.

Để cải thiện chế độ kế toán doanh thu hiện hành, cần bổ sung các quy định nhằm đảm bảo tính đầy đủ, rõ ràng và hợp lý Việc hoàn thiện các chính sách này sẽ giúp các doanh nghiệp phản ánh thông tin về doanh thu một cách chính xác và hiệu quả hơn.

Ngày đăng: 06/09/2023, 15:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w