1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề quản lý kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề quản lý kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản lý kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý kinh doanh – một hoạt động nghề nghiệp II.Thực trạng nghề quản lý kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng.. Vì giới hạn của những đề tài, tiểu luận chỉ dựa trên trường phái

Trang 1

NGHỀ QUẢN LÝ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

Nội dung:

I Quản lý kinh doanh – một hoạt động nghề nghiệp

II.Thực trạng nghề quản lý kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng

III Một số suy nghĩ và nâng cao tính hiệu quả trong nghề quản lý kinh doanh ngoại tệ ngân hàng

Trang 2

Phần I: Quản lý kinh doanh – một hoạt động nghề nghiệp

Cùng với sự phát triển liên tục của xã hội loài nghười, khoa học quản lý cũng phát triển không ngừng Cho tới nay người ta đã công nhận có 5 trường phái về khoa học quản lý với những học thuyết khác nhau Vì giới hạn của những đề tài, tiểu luận chỉ dựa trên trường phái hiện đại để luận bàn về một chủ đề là “ tính nghề nghiệp trong quản lý kinh doanh tiền tệ - ngân hàng của Việt Nam”

1 Quản lý kinh doanh <QLKD> - một hoạt động nghề nghiệp.

Quản lý và QLKD là hai phạm trù khác nhau, tuy chúng có cùng một quy trình và có trung mục đích

- Quản lý là một khái niệm chung nhất để chỉ sự tác động có chủ ý của chủ thể quản lý tới đối tượng bị quản lý một cách liên tục , có tổ chức , có tính liên kết các thành viên trong tổ chức để hàh động nhằm tới mục tiêu và hiệu quả tốt nhất

- Quản lý kinh doanh là một khái niệm cụ thể hơn để chỉ sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý là người lao động trong doanh nghiệp để

họ sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nhân lực và cơ hội vào hoạt động kinh doanhsao cho đạt hiệu quả tối ưu và đúng pháp luật

Như vậy , rõ ràng QLKD nhằm tới đối tượng quản lý là người lao động trong doanh nghiệp và mục tiêu QLKD không có gì khác hơn là hiệu quả kinh doanh Nhưng vấn đề đặt ra trong QLKD là: làm cách nào để chủ thể quản lý

có thể hướng được người lao động vào các mục tiêu cần đạt, khi họ là những con người với năng lực khác nhau, trình độ khác nhau và thâm chí cả mục đích hành nghề khác nhau ? Rõ ràng, chủ thể QLKD phải có tính chuyên nghiệp , từ hoạt động hướng đi tới phương pháp điều hành , cơ chế quản lý … thì mới hi vọng tập hợp được đối tượng quản lý cùng đi theo một chí hướng

- Quản lý kinh doanh là một nghề:

Trang 3

Nếu chỉ có ý chí không thôi thì chủ thể quản lý kinh doanh không có hi vọng biến mục tiêu thành hiện thực Vậy họ cần phải có cái gì nữa? Cái mà chủ thể quản lý phải cần và đủ có, đó là:

Ý chí làm giàu cho mọi người

Nhân cách, phẩm chất trước trọng trách được giao

Năng lục điều hành và chuyên môn

Phương pháp tập hợp quần chúng

Để có được phẩm chất “ nghề nghiệp” trên đây, nhà QLKD không phải

là bậc thánh nhân mà họ ( các chủ thể quản lý) phải có học vấn, có kinh nghiệm tích lũy được trong cuộc sống, thậm chí phải trả giá để tự khẳng định mình là người có tay nghề cao

Trong nền kinh tế thị trường hội nhập , theo trường phái hiện đại, nghề QLKD không chỉ cần có hiểu biết và điều hành được các đối tượng quản lý

mà còn phải vươn tầm tới cộng đồng quốc tế để tự khẳng định được nghề quản lý của mình trước muôn ngàn vàn thử thách

2 Nghề quản lý kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là việc sản xuất , lưu thông hàng hóa – dịch vụ theo quan hệ cung - cầu Nhà sản xuất có thể tạo ra nhiều sản phẩm nhưng sản phẩm có thể mãi mãi là hàng tồn kho nếu như cái mà người tiêu dùng cần mà sản phẩm không đáp ứng được về mặt hàng, chủng loại, giá cả, chất lượng Thậm chí cung cũng không gặp caaufneeus như không có việc Marketing (giới thiệu sản phẩm )

Chủ thể quản lý kinh doanh không thể ngồi chờ thị trường mà phải có những tư chất của riêng mình để làm cho cung – cầu gặp nhau Vậy những tư chất đó là gì? Chính là:

- Năng lực nghiên cứu thị trường ( trong nước và quốc tế) , tìm ra được nhu cầu

- Tổ chức đầu tư , sản xuất cái mà thị trường cần

Trang 4

- Tính toán chi phí, giá cả sao cho tính cạnh tranh và có lãi

- Tiếp thị sản phẩm tới khỏng trống của “thị trường”

- Duy trì được thị trường khách hàng , mở rộng thị trường khách hàng, tìm ra khách hàng tiềm năng

- ứng phó kịp thời với những biến động của thị trường về thị hiếu, sự thay đổi, giá cả, thậm chí cả tình trạng rủi ro cao như suy thoái…

Có được những tư cách trên đây , nhà QLKD phải là người chuyên nghiệp , năng động và phải có nghệ thuật chèo lái con thuyền doanh nghiệp

Có thể mô tả nghề QLKD trong nền kinh tế thị trường bởi một quy trình vận hành khép kín như sau:

ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝ

SẢN PHẨM HÀNG HÓA – DỊCH VỤ

(5) (3)

CHỦ THỂ QUẢN LÝ

THỊ TRƯỜNG (1)

(4)

Trang 5

Mô hình vận hành của nghề QLKD trong doanh nghiệp với nền kinh tế thị trường

(1) Nghiên cứu thị trường

(2) Định hướng chính sách, tổ chức sản xuất các giải pháp vận hành hệ thống doanh nghiệp

(3) Sản xuất sản phẩm – dịch vụ

(4) Tiêu thụ sản phẩm – dịch vụ

(5) Tạo doanhh thu, lợi nhuận

Trang 6

Phần II: Thực trạng nghề quản lý kinh doanh

trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng

II.1 Đặc trưng QLKD trong lĩnh vực tiền tệ - dịch vụ ngân hàng

1 Nghề kinh doanh tiền tệ - dịch vụ ngân hàng

Cũng như các doanh nghiệp khác, các tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch

vụ ngân hàng ( gọi chung là các tổ chức tín dụng – TCTD ) cũng là các tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận

Tuy nhiên, các TCTD kinh doanh trên lĩnh vực có tính đặc thù, đó là:

- Sản phẩm là tiền tệ mà dịch vụ chính là đi vay để cho vay

- Kinh doanh có điều kiện ( phải đủ vốn pháp định , phải đủ điều kiện để được cấp giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động )

- Chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nuwocsmaf trực tiếp là Ngân hàng trung ương ( NHNN)

- Rủi ro nhất trong lĩnh vực kinh doanh

- Có quan hệ quốc tế rộng rãi

Có thể nói nghề kinh doanh tiền tệ - dịch vụ NH là một nghề kinh doanh đặc biệt, mục tiêu lợi nhuận gắn chặt với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đồng thời cũng chịu những rủi ro từ các mục tiêu kinh tế vĩ mô này Chính vì vậy, các hoạt động ngân hàng không chỉ bị chi phối bởi luật doanh nghiệp mà phải tuân thủ theo luật chuyên ngành ( luật các TCTD), pháp luật quốc tế và pháp luật khác trong nước

Để đáp ững được nghề ngân hàng, con người và tổ chức ngân hàng phải đáp ứng được tất cả những tiêu chuẩn của nghề nghiệp Đối với các cấp bậc quản lý (chủ thể quản lý) thì tiêu chuẩn nghề nghiệp đòi hỏi phải đạt chuẩn cao hơn hẳn cấp là đối tượng quản lý ( nhân viên Ngân hàng)

Trang 7

2 Đặc trưng cơ bản của nghề QLKD trong lĩnh vực tiền tệ - dịch vụ Ngân hàng

Từ đặc trưng của nghề kinh doanh tiền tệ, nghề QLKD lĩnh vực này cũng có những khác biệt lớn so với nghề QLKDthuộc lĩnh vực khác

Những khác biệt cỏ bản của nghề QLKD NH là:

- Khác biệt thứ nhất: Quản lý theo hệ thống:

Tại Việt Nam , cũng như các nước khác, hệ thống Ngân hàng bao gồm hai cấp ( hai hệ thống độc lập ) đó là: Hệ thống NHNN ( hay NHTW) và hệ thống TCTD ( hệ thống kinh doanh tiền tệ - dịch vụ ngân hàng)

Hệ thống NHNN:

Đây là hệ thống duy nhất với 3 chức năng là: NH của chính phủ, NH phát hành tiền và NH của các tổ chức kinh doanh tiền tệ Hệ thống này thay mặt nhà nước quản lý toàn bộ hệ thống kinh doanh tiền tệ với mục tiêu vĩ mô

là kiểm soát lạm phát, khơi tạo nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế - xã hội Còn đối với các TCTD thì hệ thống NHNN vừa phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này kinh doanh có hiệu quả, vừa kiểm soát tính tuân thủ pháp luật , phục vụ cho chính sách vĩ mô

Mỗi chính sách về tiền tệ - ngân hàng do NHNN đưa ra đều lập tức tác động tới các TCTD và qua đó ảnh hưởng tới các chính sách kinh tế vĩ mô

Hệ thống NHNN vừa phải quản lý nội bộ hệ thống của mình là các chi nhhánh trực thuộc nằm trên địa bàn hành chính mỗi tỉnh , thành phố , vừa phải quản lý hệ thống thứ 2 – hệ thống các TCTD

Hệ thống các TCTD:

Gọi là hệ thống các TCTD nhưng đây là một tập hợp của nhiều hệ thống

có cùng chức năng kinh doanh nhưng được tổ chức theo doanh nghiệp với tên gọi khác nhau, đó là:

+ Các NHTM ( của Việt Nam hoặc của nước ngoài tại Việt Nam)

+ Các NH liên doanh

+ Các công ty tài chính

Trang 8

+ Các công ty cho thuê tài chính

+ Các quỹ tín dụng nhân dân

+ Các tổ chức tài chính vĩ mô

+ các NH chính sách

Trong đó , mỗi loại hình TCTD lại gồm có các tên gọi độc lập tổ chức thành một hệ thống riêng với hàng trăm , hàng nghìn chi nhánh trực thuộc Ví

dụ chỉ một Ngân hàng thương mại là NH nông nghiệp và phát triển nông thôn

đã là một hệ thống bao gồm Hội sở và 2.000 chi nhánh truwch thuộc Mỗi doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ là một hệ thống độc lập và liên kết với nhau bằng một thị trường

Hệ thống các TCTD tự tổ chức quản lý nội bộ và phải chịu sự quản lý của hệ thống NHNN

- Khác biệt thứ hai: Quản lý có tính chuyên nghiệp cao

Khác hẳn với việc tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp khác, QLKD trong lĩnh vực tiền tệ - Ngân hàng có tính chuyên nghiệp cao trong mỗi hệ thống

Với nội bộ hệ thống :

NHTW quản lý các chi nhánh của mình thẳng tới các tỉnh, thành phố, không phụ thuộc vào chính quyền địa phương Công cụ quản lý của NHNN với nội bộ hệ thống là các quy định có tính pháp lý của nhà nước, thông qua các chi nhánh của mình tới hệ thống TCTD Ngược lại, bộ máy thanh tra – giám sát của NHNN nằm tại từng địa phương sử dụng công cụ kiểm tra , thanh tra các TCTD để báo cáo về NHTW

Với việc quản lý các TCTD:

Chủ thể quản lý này đòi hỏi tính nghề nghiệp phải cao mới có thể QLKD được đối với các TCTD Đặc trưng nghề nghiệp của chủ thể quản lý này bắt buộc phải là: nắm chặt về pháp luật NH và pháp luật có liên quan – am hiểu sâu sắc các hoạt động của ngân hàng – nắm vững tính đặc thù của từng địa

Trang 9

phương và công tâm, minh bạch Mất đi một trong những tố chất trên đây , chủ thể quản lý không thể gọi là có nghề quản lý ngân hàng

Đối với hệ thống các TCTD

Các TCTD tự quản lý các hoạt động kinh doanh của mình vì mục tiêu lợi nhuận Tính chuyên nghiệp trong QLKD cuuar hệ thống này là ở chỗ

+ Nắm vững pháp luật về kinh doanh

+ Có kiến thức đa ngành, đa lĩnh vực Không có phẩm chất này , việc bỏ tiền ra kinh doanh sẽ chứa đựng nhiều rủi ro

+ Chuyên sâu về nghề Ngân hàng để có thể tư vấn cho khách hàng của mình lựa chọn cơ hội dùng tiền cho kinh doanh

+ Không tham lam, lạm dụng

- Khác biệt thứ ba: Tính nhạy cảm trong nghề nghiệp

Hàng hóa của nghề Ngân hàng là hàng hóa đặc biệt – đồng tiền Trước những biến động của kinh tế , xã hội , donhf vốn rất dễ chuyển động chứ không như hành hóa thông thường khác Chẳng hạn khi có dấu hiệu lạm phát cao, dòng tiền dễ bị rút ra khỏi ngân hàng để đi và lĩnh vực đầu tư, đầu cơ khác Khi giá vàng, giá bất động sản tăng lên, khách hàng dễ dùng vốn vay

để đầu tư phong trào ( tâm lý đám đông ) Nếu tay nghề kinh doanh của cán

bộ Ngân hàng không vững sẽ dễ hàng “tháo van” cho dòng vốn đổ vào lỗ trống để rồi gánh chịu rủi ro

Vì vậy, nghề Ngân hàng, trước hết đối với nhà quản lý kinh doanh Ngân hàng phải có năng lực đo được những rủi ro để phòng tránh , cho dù rủi ro chưa hề hiện hình

II.2 Thực trạng nghề QLKD lĩnh vực tiền tệ - Ngân hàng hiện nay.

Hiện tại nước ta có 1 hệ thống NHNN và các hệ thống TCTD với hàng nghìn đơn vị kinh doanh tiền tệ - dịch vụ NH mạng lưới rộng khắp cu\r nó Số lao động làm việc trong ngành này khoảng 200.000 người, phần lớn trong số

đó thuộc hệ thống TCTD trưc tiếp kinh doanh tiền tệ Số lao động tay nghề cao( từ DDH trở lên ) chiếm khoảng 70% Có thể nói nghề kinh doanh tiền

Trang 10

tệ có những thành tựu trước hết là nhờ sự đóng góp đáng kể của các nhàn QLKD của cả 2 hệ thống

1 Đóng góp của các nhà QLKD NH:

Có thể tóm tắt sự đóng góp của các nhà QLKD NH thông qua các đóng góp của hệ thống NH cho đất nước như sau:

- Đã xây dựng được khung pháp lý, rất cơ bản cho hoạt động kinh doanh tiền tệ và luôn luôn điều chỉnh, sửa đổi nó cho phù hợp với sự vận động đi lên của nền kinh tế và xã hội

- Hàng năm đóng góp cho nền kinh tế một lượng tiền cho vay tương với 130- 140 tỷ USD dư nợ Nhờ có phần huy động này cho nền kinh tế mà GDP hàng năm tăng trưởng được vài phần trăm Đây là kênh huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế

- Cung cấp các tiện ích dịch vụ cho đời sống xã hội như hệ thống thanh toán, phương tiện thanh toán, cho vay tiêu dùng…

- Là đầu mối thu hút Kiều hối mỗi năm nhiều tỷ USD phục vụ đời sống

và kinh doanh của thân nhân trong nước

- Tạo cầu về lao động ( việc làm) cho lĩnh vực đào tạo trình độ cao trong

xã hội

Các nhà NH nhờ tâm trí và tài năng của họ cũng đóng góp cho khoa học quản lý nhiều bài học đáng giá

Tuy vậy, mọi sự không phải chỉ có mặt phải, mà còn có những mặt trái của nó, đó là những tồn tại trong sự đi lên của đời sống kinh tế - xã hội, lĩnh vực quản lý kinh doanh của NH cũng vây

2 Một số tồn tại trong QLKD thuộc lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng.

Mặc dù xã hội thừa nhận những đóng góp lớn của công tác QLKD trong

hệ thống NH như trên song cũng phải thẳng thắng thừ nhận còn 1 số tồn tại :

- Thứ nhất, trong lĩnh vực quản lý vĩ mô, chính xách của NH – công cụ

sử dụng trong quản lý – còn bất cập Biểu hiện rõ nhất của sự bất cập là chính

Trang 11

sách quản lý tín dụng – lãi suất – vàng bạc còn chạy theo thời cuộc, chưa lường trước được tình hình nên nhiều khi phải ‘ chanh chấp”, chẳng hạn:

Thả nổi tăng trưởng tín dụng trong thời gian dài rồi bỗng nhiên thu hẹp rất nhanh, làm cho các TCTD trở tay không kịp

Lãi suất tăng theo cơ chế tị trường nhưng công cụ hành chính vẫn duy trì và luôn thay đổi, tạo ra rủi ro rất lớn

Định hướng cho vay bất động sản, đầu tư chứng khoán không rã ràng trong thời gian dài, để cho dòng tiền đổ vào đây quá lớn, nay trở thành nợ xấu

Các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty Nhà nước nằm trong tay Nhà nước và NHNN cũng là chính phủ đã không định hướng rõ ràng cho hoạt động của họ Tới nay sau nhiều năm hoạt động chính các doanh nghiệp này vừa là người đi vay, nợ nần đồng nhất, vừa là người cho vay, đầu tư dàn trải ra ngoài ngành Nay Nhà nước bắt tay vào “ tái cơ cấu” các tập đoàn, Tổng công ty thì tổn thất đã quá lớn, ai chịu thiệt thòi? Liệu việc thoái vốn của các doanh nghiệp này có khả thi? Lỗ hay lãi?

- Thứ hai, trong lĩnh vực quản lý kinh doanh trực tiếp, các nhà quản lý đã

để xảy ra rủi ro lớn Cứ cho rằng nợ xấu khỏng 1% dư nợ thì cúng đã là hàng trăm nghìn tỷ, nếu lấy dự phòng để bù đắp thì NH lỗ, nếu cứ để con số cho đẹp thì tiềm ẩn rủi ro, đất đai, tài sản thế chấp, cầm cố cứ nằm đấy, không sinh lời cho ai Rủi ro này lại do các rủi ro khác sinh ra đó là:

Rủi ro vĩ mô từ sự thay đổi chính sách

Rủi ro tác nghiệp: chính sách, thể chế không được thực thi, hoặc không lường trước được để phòng tránh

Rủi ro đạo đức : tham nhũng, cố ý làm trái , lạm dụng, lừa đảo, vay ké,

ăn chia, đầu tư chéo thâu tóm lẫn nhau…

Chung quy lại, kể cả nhà quản lý vĩ mô ( chủ thể NHNN), cả nhà quản lý trực tiếp (vừa là chủ thể của các TCTD , vừa là đối tượng chịu suwjquanr lý của NHNN) còn khiếm khuyết nhất định trong QLKD cần khắc phục

Trang 12

Phần III Một số suy nghĩ về giải pháp nâng cao tính hiệu quả

trong nghề quản lý kinh doanh tiền tệ - ngân hàng

Trên cơ sở lý thuyết hiện đại về khoa học quản lý, về đặc trưng tính nghề nghiệp trong QLKD , vận dụng vào ngành ngân hàng Việt Nam, xin được đưa ravaif suy nghĩ với hi vọng tự góp ý cho mình về tính nghề nghiệp trong QLKD với hi vọng làm sao cho nghề QLKD lĩnh vực này có hiệu quả hơn

1 Giải pháp tự nâng cao năng lực QLKD từ những lý thuyết thu hoạch được

Ai cũng hiểu : có học mới nên người Học rồi mới thây mỗi bài học là sự chắt lọc tinh hoa của nhân loại , không bao giờ cũ mà chỉ có sự kế tục để tiếp tục phát triển không ngừng

Quả là QLKD vừa là một nghệ thuật , nếu ứng xử không khéo khách hàng sẽ bỏ đi, ta mất cơ hội kinh doanh QLKD cũng là một nghề , tại sao dự

án này có thể cho vay, dự án khác lại từ chối? phải chăng là ta có kiến thức đa năng mới nhìn nhận ra tính không khả thi để từ chối?

Lý thuyết đúng với thời đại này nhưng lại chưa phù hợp với thời đại khác, đất nước khác , điều đó cũng phài nhìn thấy , đó là sự phát triển Nâng cao năng lực QLKD có thể tiếp thu từ người khác, thời đại khác nhưng phải sáng tạo vân dụng vào hoàn cảnh của mình Bài học về chống lạm phát đã có nhiều, nhưng ngày nay suy thoái luôn diễn ra, đi liền với thiểu phát thì lại phải tính tới giải pháp đặc thù , còn khó hơn nhiều

2 Giải pháp nâng cao năng lực dự đoán để việc QLKD ngân hàng không bị đông trước diễn biễn của thời cuộc

Nếu ở cương vị là nhà quản lý của NHNN thi dự đoán được xu hướng phát triển dài hạn ( ít nhất là trung hạn ) sẽ giãm được tình trạng ban hành chính sách theo kiểu “ phanh gấp” , sẽ giảm được rủi ro chính sách cho các TCTD

Ngày đăng: 06/09/2023, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w