1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH NHẰM HÀI HÒA GIỮA BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

39 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Thực trạng Quản lý Tài nguyên Đất ngập nước ở Việt Nam và Chính sách nhằm Hài hòa giữa Bảo tồn Tài nguyên Đất ngập nước và Phát triển Sinh kế Bền vững ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Chinh, Đinh Thị Thục Viên, Nguyễn Văn Thiết, Phan Thị Huyền
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Môi trường
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 301 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I TỔNG QUAN (4)
    • 1.1. Tổng quan về đất ngập nước (4)
    • 1.2. Tổng quan về quản lý đất ngập nước (8)
      • 1.2.1. Khái niệm quản lý đất ngập nước (8)
      • 1.2.2. Nội dung quản lý đất ngập nước (8)
  • PHẦN II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM (13)
    • 2.1. Thể chế quản lý đất ngập nước ở các cấp (13)
      • 2.1.1. Quản lý đất ngập nước ở cấp trung ương (13)
      • 2.1.2. Quản lý đất ngập nước cấp tỉnh (14)
      • 2.1.3. Hoạt động và xu hướng bảo tồn, sử dụng đất ngập nước (14)
    • 2.2. Chính sách, công cụ quản lý đất ngập nước (17)
      • 2.2.1. Công cụ luật pháp, chính sách (17)
      • 2.2.2. Công cụ kinh tế (18)
      • 2.2.3. Công cụ giáo dục, truyền thông (18)
    • 2.3. Các phương thức, phương pháp quản lý đất ngập nước (19)
    • 2.4. Thành tựu, thách thức liên quan đến quản lý đất ngập nước (21)
      • 2.4.1. Những thành tựu đạt được (21)
      • 2.4.2. Các tồn tại, thách thức trong quản lý đất ngập nước (22)
    • III. CHÍNH SÁCH NHẰM HÀI HÒA GIỮA BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM (25)
      • 3.1. Khái quát các hình thức hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững ở Việt Nam (0)
        • 3.1.1. Tăng cường nguồn lực sinh kế (0)
        • 3.1.2. Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện sinh kế hiện tại (0)
        • 3.1.3. Phát triển sinh kế mới thay thế hoặc bổ trợ sinh kế hiện tại (26)
        • 3.1.4. Tạo dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách (0)
        • 3.2.1. Tăng cường nguồn lực sinh kế (0)
        • 3.2.2. Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện sinh kế hiện tại (0)
        • 3.2.3. Phát triển sinh kế mới thay thế hoặc bổ trợ sinh kế hiện tại (29)
        • 3.3.4. Tạo dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách (0)
      • 3.3. Đánh giá chính sách hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên đất ngập nước và phát triển (0)
        • 3.3.1. Thành tựu (33)
        • 3.3.2. Hạn chế (34)
    • IV. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KHÔN NGOAN ĐẤT NGẬP NƯỚC (35)
      • 4.1. Nhóm giải pháp quản lý đất ngập nước (35)
        • 4.1.1. Các giải pháp về con người (35)
        • 4.1.2. Các giải pháp về luật pháp (35)
      • 4.2. Sử dụng khôn ngoan tài nguyên đất ngập nước (36)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (39)

Nội dung

TỔNG QUAN

Tổng quan về đất ngập nước

Đất ngập nước là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau, với khoảng 50 định nghĩa hiện có Theo công ước Ramsar năm 1971, đất ngập nước được định nghĩa một cách cụ thể, phản ánh sự đa dạng trong quan điểm về loại hình sinh thái này.

Theo công ước Ramsar, vùng đất ngập nước được định nghĩa là các khu vực như đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên hoặc tạm thời, với nước đứng hoặc chảy, bao gồm nước ngọt, lợ hay mặn, cũng như các vùng nước biển có độ sâu không quá 6m ở mức triều thấp.

Công ước (Điều 2.1) định nghĩa các vùng đất ngập nước, bao gồm không chỉ các khu vực ven sông và ven biển mà còn cả các đảo và thuỷ vực biển có độ sâu hơn 6m khi triều thấp, tất cả đều nằm trong phạm vi các vùng đất ngập nước.

Theo chương trình quốc gia điều tra đất ngập nước của Mỹ, đất ngập nước có vị trí cạn và hệ sinh thái thủy vực, nơi mực nước ngầm thường gần sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông Để được công nhận là đất ngập nước, khu vực này phải đáp ứng ba thuộc tính chính theo nghiên cứu của Cowardin và cộng sự vào năm 1979.

• Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.

• Nền đất hầu như không bị khô.

Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bị bão hòa nước, thường xuyên ngập nước ở mức cạn trong một số thời điểm của mùa sinh trưởng hàng năm.

Theo các nhà khoa học Canada, đất ngập nước được định nghĩa là đất bão hòa nước trong thời gian dài, giúp hỗ trợ các quá trình thủy sinh Đây là những khu vực khó tiêu hóa nước, nơi có sự hiện diện của thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học phù hợp với môi trường ẩm ướt.

Theo các nhà khoa học New Zealand, đất ngập nước là vùng đất ẩm ướt, có thể ngập nước vào những thời điểm nhất định hoặc thường xuyên Các khu vực này bao gồm vùng ngập cạn và vùng chuyển tiếp giữa đất liền Nguồn nước trong đất ngập nước có thể là nước ngọt, nước mặn hoặc nước lợ Đất ngập nước có thể tồn tại ở trạng thái tự nhiên và thường được đặc trưng bởi sự hiện diện của các loài thực vật và động vật thích nghi với điều kiện sống ẩm ướt.

Theo các nhà khoa học Australia, đất ngập nước là các vùng đầm lầy và bãi lầy than bùn, có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên bị ngập nước theo mùa hoặc theo chu kỳ Những khu vực này bao gồm nước tỉnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, cùng với các bãi lầy và rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp.

Đất ngập nước, theo định nghĩa chính thức của các kỹ sư quân đội Mỹ, là những vùng đất thường xuyên bị ngập hoặc bão hòa nước bề mặt và nước ngầm, với thời gian ngập đủ để hỗ trợ sự phát triển của thảm thực vật thích nghi Các loại đất ngập nước bao gồm đầm lầy, đầm phá và đầm lầy cây bụi, cùng những vùng đất tương tự.

Đất ngập nước được coi là đới chuyển tiếp sinh thái, là vùng chuyển tiếp giữa môi trường trên cạn và dưới nước, nơi mà sự ngập nước của đất tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ thực vật đặc trưng (theo Coward và cộng sự, 1979; Enny, 1985).

Hiện nay, định nghĩa theo công ước Ramsar là định nghĩa được nhiều người sử dụng.

Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003, đất ngập nước được định nghĩa là vùng đất thường xuyên hoặc tạm thời bị ngập nước, bao gồm nước chảy, nước tù, nước ngọt, nước phèn, nước mặn và nước lợ Đất ngập nước được phân loại thành hai loại chính: đất ngập nước ven biển và đất ngập nước nội địa.

Phân loại đất ngập nước

Phân loại đất ngập nước theo công ước Ramsar: gồm 22 loại:

 Biển và eo biển cạn (sâu dưới 6m khi thủy triều thấp)

 Các cửa sông, châu thổ

 Các đảo nhỏ ngoài khơi

 Bãi biển (bãi cát, sạn)

 Bãi bùn, bãi cát vùng gian triều

 Đầm lầy rừng ngập mặn, rừng ngập mặn

 Những đầm phá nước mặn hay nước lợ ven biển

 Các dòng chảy chậm (ở hạ lưu)

 Các dòng chảy nhanh (ở thượng lưu)

 Các hồ tạo nên do dòng sông chết và đầm lầy ven sông

 Hồ nước ngọt và đầm lầy ven hồ

 Hồ nước mặn, bãi sình lầy

 Các hồ chứa nước, đập

 Đồng cỏ, trảng cỏ và trảng cây bụi ngập nước theo mùa

 Đất có khả năng canh tác, đất được tưới nước

 Rừng đầm lầy, rừng ngập nước từng thời kỳ

Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003, đất ngập nước ở Việt Nam được phân thành hai loại chính: đất ngập nước ven biển và đất ngập nước nội địa Đất ngập nước ven biển là vùng ngập nước mặn và nước lợ, nằm ven biển và ven đảo, với độ sâu không quá 6 mét khi thủy triều thấp.

 Vùng nuôi trồng thuỷ sản;

 Bãi bùn, lầy ngập triều;

 Đồng bằng ven biển, ven sông có ảnh hưởng của thuỷ triều;

 Quần thể san hô. b Đất ngập nước nội địa :Đất ngập nước nội địa là vùng ngập nước ngọt, nước phèn gồm:

 Vùng đất lúa nước, cây ngập nước khác;

 Sông, suối, kênh rạch, mương, mặt nước chuyên dùng, thác nước;

Các hệ sinh thái đất ngập nước:

Các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển:

- Các bãi lầy mặn ngập triều

- Đất ngập nước có rừng ngập mặn

- Các vùng đầm lầy ngập triều nước ngọt

Các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa:

- Các vùng đầm lầy (hay sình lầy, bãi lầy) ngập nước ngọt

- Các loại đất ngập nước ven sông suối

- Rừng ngập nước ngọt nội địa và các vùng đất ngập nước ngọt nội địa chủ yếu ở Việt Nam.

Tổng quan về quản lý đất ngập nước

Đất ngập nước (ĐNN) đóng vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái và đời sống con người, nhưng hiện nay đang bị suy giảm nghiêm trọng Việc quản lý và bảo vệ ĐNN trở thành vấn đề cấp bách cần được thực hiện kịp thời để đảm bảo sự bền vững của nguồn tài nguyên quý giá này.

1.2.1 Khái niệm quản lý đất ngập nước

Theo lý thuyết hệ thống, quản lý được định nghĩa là quá trình tác động có mục đích của người quản lý lên một hệ thống, nhằm chuyển đổi nó từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mong muốn Quá trình này bao gồm việc phá vỡ hệ thống cũ để xây dựng hệ thống mới và điều khiển sự vận hành của nó.

- Khái niệm quản lý đất đai

Quản lý đất đai (Land administration - địa chính): Theo định nghĩa của LHQ:

Là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất.

- Khái niệm quản lý đất ngập nước

Từ hai khái niệm trên, ta có thể định nghĩa về quản lý đất ngập nước như sau:

Quản lý đất ngập nước là quá trình có mục tiêu nhằm tác động đến các vùng đất ngập nước, tập trung vào việc lưu giữ và cập nhật thông tin về sở hữu, giá trị và chức năng của chúng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và sinh thái Qua đó, việc quản lý này giúp đưa ra các quyết định liên quan đến đất ngập nước, từ đó nâng cao giá trị của các vùng đất này.

1.2.2 Nội dung quản lý đất ngập nước

Năm 2003, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học (ĐNN), bao gồm 6 Chương và 27 điều Nghị định này quy định rõ các nội dung liên quan đến quản lý Nhà nước về ĐNN, nhằm đảm bảo sự bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh học.

 Điều tra, nghiên cứu về các vùng ĐNN.

 Xây dựng cơ chế chính sách, luật pháp về bảo tồn và phát triển bền vững các

 Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng các vùng ĐNN cho các mục đích bảo tồn và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

 Quản lý các vùng ĐNN đã được khoanh vùng bảo vệ.

Quản lý hoạt động khai thác nguồn lợi và tiềm năng của các vùng ĐNN trong nông nghiệp, thủy sản, du lịch, giao thông, thủy lợi, thủy điện và các lĩnh vực liên quan là cần thiết để bảo tồn và phát triển bền vững.

 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN.

Khuyến khích cộng đồng, đặc biệt là cư dân vùng ĐNN, tham gia tích cực vào việc bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học và môi trường tại các khu vực này.

 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN.

- Vai trò tạo sinh kế của tài nguyên đất ngập nước ở Việt Nam ảnh hưởng đến hệ sinh thái

Một phần năm dân số Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên đất ngập nước, do đó, việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên này là thiết yếu cho an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp, công nghiệp Quản lý hệ sinh thái đất ngập nước cần có một tiếp cận đúng đắn Bản đồ đói nghèo cho thấy các vùng miền núi chịu ảnh hưởng nặng nề, trong khi mật độ người nghèo cao nhất lại tập trung ở các vùng ven biển Mất an toàn lương thực là dấu hiệu rõ ràng của sự nghèo đói tại các khu vực này Sự gia tăng số lượng người nghèo và độ nhạy cảm của họ với đói nghèo ở các vùng đồng lũ và đất ngập nước ven biển là một thách thức lớn đối với các cơ quan chịu trách nhiệm xóa đói giảm nghèo.

- Phát triển nuôi trồng thủy sản

Từ góc độ kinh tế, diện tích nuôi trồng thủy sản và chất lượng nước là yếu tố then chốt trong hệ sinh thái đất ngập nước, với các cộng đồng địa phương coi đây là chiến lược phát triển kinh tế xã hội Các địa phương đang tích cực mở rộng diện tích ao đầm và tăng cường thâm canh, đặc biệt là trong các trang trại nuôi tôm Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở vùng đệm và xung quanh khu bảo vệ, đang gây ra những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái đất ngập nước Các mối đe dọa chính bao gồm: giảm diện tích đất ngập nước do cải tạo thành ao nuôi, mất rừng ngập mặn ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, ô nhiễm từ chất thải nuôi trồng làm suy giảm chất lượng nước, và tăng trầm tích do giảm tốc độ dòng chảy.

- Khai thác thủy sản tự nhiên

Tài nguyên thủy sản đóng vai trò quan trọng trong kinh tế của các cộng đồng địa phương xung quanh vùng đất ngập nước, bao gồm cả khu bảo vệ và vùng "mở" Các loài thủy sản như cá, tôm, cua và ngao vạng không chỉ được khai thác để tiêu thụ mà còn để nuôi trồng và xuất khẩu Nhu cầu thị trường về hải sản ngày càng tăng, dẫn đến việc tăng cường hoạt động đánh bắt, đặc biệt ở các cộng đồng ngư dân truyền thống Tuy nhiên, tình trạng đánh bắt thủy sản quá mức đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, với việc đánh bắt bất hợp pháp và sử dụng các phương pháp hủy diệt như điện và lưới mắt nhỏ diễn ra phổ biến Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn tình trạng này, nhưng các cơ quan chức năng như phòng quản lý nguồn lợi thủy sản và chính quyền xã vẫn thiếu năng lực và kỹ năng để giải quyết hiệu quả vấn đề.

Đánh bắt thủy sản bất hợp pháp và hủy diệt tại các khu bảo vệ như Vườn Quốc gia Xuân Thủy đang gia tăng do tình trạng đói nghèo của cộng đồng sử dụng tài nguyên, dẫn đến suy giảm tài nguyên thủy sản ở vùng đất ngập nước Sự gia tăng số lượng ngư dân cùng với sản lượng cá giảm sút đã khiến người dân tìm kiếm cơ hội trong nuôi trồng thủy sản, gây thêm áp lực lên hệ sinh thái Để đối phó với tình trạng này, các cơ quan quản lý tại đầm phá Tam Giang và Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia nhằm hỗ trợ hệ thống đồng quản lý hoạt động thủy sản.

Phát triển du lịch ở các vùng đất ngập nước, như Khu Bảo tồn Sinh quyển Cần Giờ và Vườn Quốc gia Xuân Thủy, có tiềm năng cao trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương Tuy nhiên, thách thức về quy hoạch và năng lực địa phương còn yếu đang cản trở sự phát triển bền vững Du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo cơ hội việc làm cho người dân xung quanh Mặc dù có những lợi ích này, Cần Giờ đang phải đối mặt với các tác động tiêu cực từ lượng du khách quá đông, dẫn đến ô nhiễm và xung đột Quản lý hoạt động du lịch trở nên phức tạp do sự xuất hiện của nhiều nhà cung cấp dịch vụ, gây khó khăn trong việc tích hợp quản lý đất ngập nước.

Công ty Thương mại và Du lịch huyện Cần Giờ cùng nhiều doanh nghiệp tư nhân đang phát triển các dịch vụ du lịch đa dạng, bao gồm nhà hàng, nhà khách, và bãi đỗ xe cho xe máy, xe buýt và phà Hơn 100 hộ gia đình tại đây cung cấp các mặt hàng như hải sản, đồ lưu niệm, quán giải khát và dịch vụ cho thuê ghế tắm biển Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Cần Giờ, cùng với các lâm trường và cơ quan địa phương, đang tiến hành quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM

Thể chế quản lý đất ngập nước ở các cấp

2.1.1 Quản lý đất ngập nước ở cấp trung ương

Đến năm 2003, Việt Nam chưa có cơ quan trung ương nào chịu trách nhiệm quản lý ĐNN một cách toàn diện Mỗi bộ ngành thực hiện quản lý ĐNN theo chức năng được Chính phủ phân công, tập trung vào các lĩnh vực cụ thể của từng ngành.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có trách nhiệm quản lý các vùng đất ngập nước liên quan đến canh tác lúa nước, các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trong hệ thống rừng đặc dụng, cũng như các công trình thủy lợi và hồ chứa.

 Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về ĐNN trong phạm vi diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và vùng ven bờ biển.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý lưu vực sông và là cơ quan chủ chốt quốc gia trong việc điều phối các hoạt động liên quan đến Công ước Ramsar.

Ngoài các ngành chính, ĐNN còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như giao thông thủy, du lịch và thủy điện Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ban hành ngày 23 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành và địa phương nhằm bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN.

Bộ Tài nguyên và Môi trường

 Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về bải tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN (Điều 5, khoản 2).

Lập kế hoạch tổng thể cho việc điều tra cơ bản và nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường các vùng ĐNN trên toàn quốc, chủ trì cuộc điều tra và nghiên cứu nhằm lập quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Đồng thời, trình Thủ Tướng Chính phủ thành lập các khu bảo tồn ĐNN và các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia, liên quan đến nhiều ngành và nằm trên địa bàn của nhiều tỉnh.

Xây dựng và ban hành các chính sách cùng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khu bảo tồn đa dạng sinh học (ĐNN) là trách nhiệm quan trọng Cơ quan chức năng cần thực hiện thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các chính sách pháp luật về bảo tồn ĐNN Đồng thời, cơ quan đầu mối quốc gia cũng có vai trò chỉ đạo thực hiện Công ước Ramsar để bảo vệ môi trường hiệu quả.

Bộ nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Bộ Thủy sản

Tổ chức điều tra và nghiên cứu nhằm lập quy hoạch bảo tồn và khai thác bền vững các vùng ĐNN có tính chất chuyên ngành, đóng vai trò quan trọng ở cấp quốc gia và quốc tế (Điều 15).

2.1.2 Quản lý đất ngập nước cấp tỉnh

Việt Nam có 64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, với Ủy ban nhân dân các tỉnh là cơ quan hành chính cao nhất Dưới Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan cấp sở được tổ chức theo hệ thống ngành dọc từ cấp Trung ương Do đó, tình hình quản lý ĐNN ở cấp tỉnh tương tự như cấp Trung ương, trong đó mỗi sở, ngành chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực của mình, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến ĐNN theo quy định của pháp luật và sự phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh Cụ thể, Nghị định 109/2003/NĐ-CP đã đưa ra các quy định liên quan đến vấn đề này.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức và quản lý các khu bảo tồn động vật, thực vật không thuộc sự quản lý của các Bộ, đảm bảo sự bảo vệ và phát triển bền vững của các khu vực này trong địa bàn tỉnh, thành phố của mình.

Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm điều tra, nghiên cứu và lập quy hoạch nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các vùng ĐNN quan trọng tại địa phương.

Hiện nay, nhận thức về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học (ĐNN) tại các cơ quan cấp tỉnh còn hạn chế Do đó, việc tăng cường tuyên truyền và giáo dục cho người dân địa phương về ĐNN là rất cần thiết.

2.1.3 Hoạt động và xu hướng bảo tồn, sử dụng đất ngập nước a, Về vấn đề bảo tồn Ưu tiên bảo tồn được đề cập là bảo tồn những khu ĐNN tự nhiên có giá trị cao về ĐDSH và những hệ sinh thái đặc thù Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống các khu bảo tồn là hệ thống các rừng đặc dụng.

B ảng 1 : Các vùng đất ngập nước là các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam

Vườn quốc gia Khu bảo tồn thiên nhiên

Toàn bộ là các vùng đất ngập nước

Một phần là đất ngập nước

1 Bình Châu – Phước Bửu

Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường 2005

Năm 2001, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất 68 vùng đất ngập nước (ĐNN) có giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) và môi trường tại Việt Nam, bao gồm các hồ chứa nước, đầm phá, cửa sông, sân chim và khu rừng ngập nước Trong số đó, 17 khu đã được Thủ tướng Chính phủ xác lập, với VQG Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên và Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên là khu Ramsar thứ hai vào tháng 8 năm 2005 Việt Nam đã nỗ lực phục hồi một số vùng ĐNN bị suy thoái, như tái trồng rừng ngập mặn ở Tiền Hải, Giao Thủy và Cà Mau Từ năm 1989 đến nay, diện tích các khu vực bảo tồn như VQG Xuân Thủy, VQG U Minh Thượng, VQG Phú Quốc và các khu bảo tồn thiên nhiên khác đã tăng lên, cho thấy sự quyết tâm của Chính phủ trong việc bảo tồn ĐNN tự nhiên, duy trì giá trị ĐDSH và cảnh quan thiên nhiên giữa bối cảnh dân số và khai thác đất ngày càng gia tăng.

Theo thống kê, hơn 50% diện tích đất nông nghiệp được sử dụng cho gieo trồng, chủ yếu là lúa, với chu kỳ sử dụng đất cao (2-3 vụ/năm) Khoảng 25% diện tích dành cho nuôi trồng thủy sản, trong khi 10% là sông suối và 10% là hồ chứa nước nhân tạo Diện tích trồng lúa nước hiện đạt 4,1 triệu ha, và từ 1989 đến 2004, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 45 triệu tấn gạo, mang lại hơn 10 tỷ USD Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2002 đã vượt 2 tỷ USD Nguồn thu từ du lịch tại các vùng như Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Phú Quốc, và ĐBSCL ngày càng tăng Hầu hết diện tích đất nông nghiệp trồng lúa và nuôi trồng thủy sản được các hộ gia đình quản lý dựa trên kinh nghiệm và tập quán địa phương, trong khi phần còn lại do nhà nước quản lý thông qua các dự án và kế hoạch được phê duyệt.

Hiện nay, chưa có quy chế quản lý ĐNN phù hợp với đặc thù của các loại hình ĐNN, khiến các VQG và Khu Bảo tồn phải tuân theo Quy chế Quản lý rừng đặc dụng Tại các khu này, khái niệm “sử dụng khôn khéo” ĐNN chưa được áp dụng, vì mục tiêu chính vẫn là bảo tồn Một vấn đề quan trọng là quản lý từng khu chưa được đặt trong bối cảnh chế độ thủy văn của một vùng lớn, trong khi yếu tố thủy văn ảnh hưởng đến đặc trưng đất, thực vật và động vật của khu ĐNN.

Chính sách, công cụ quản lý đất ngập nước

2.2.1 Công cụ luật pháp, chính sách

Trong hơn 15 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý đầu tư nước ngoài (ĐNN).

Pháp luật về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên (BTTN) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Tuy nhiên, chỉ có hơn 10 văn bản quy phạm pháp luật có quy định trực tiếp về đa dạng sinh học (ĐNN) Các văn bản còn lại chủ yếu quy định gián tiếp về việc bảo tồn và sử dụng hợp lý ĐNN thông qua việc bảo vệ các thành phần trong hệ sinh thái, như tài nguyên nước và động thực vật hoang dã.

Trong thời gian gần đây, Nhà nước đã triển khai kế hoạch hành động nhằm bảo tồn và phát triển Đề án Nguồn nhân lực (ĐNN), bao gồm nhiều văn bản quan trọng.

 Chiến lược, quy hoạch sử dụng và bảo vệ hợp lý tài nguyên nước Việt Nam;

 Chiến lược quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm 2010 (2003);

 Nghị định 109/2003/NĐ-CP, ngày 23 tháng 9 năm 2003 và Thông tư 18/2004/TT-BTNMT ngày 23 tháng 8 năm 2004;

Quyết định 04/2004/QĐ-BTNMT, ban hành ngày 5 tháng 4 năm 2004, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, phê duyệt Kế hoạch Hành động nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng Đặc biệt Nghiêm ngặt (ĐNN) trong giai đoạn 2004-2010 Kế hoạch này tập trung vào việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các khu vực này.

 Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) Kế hoạch hành động về ĐDSH của Việt Nam đến 2015 định hướng 2020”.

Và các dự thảo, kế hoạch khác.

Một số công ước có liên quan đến đất ngập nước

 Công ước Ramsar về Đất ngập nước

 Công ước Đa dạng sinh học (CBD)

 Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITIES)

 Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)

 Hiệp định hợp tác và phát triển bền vững lưu cực sông Mê Kông (Hiệp định Mêkông)

Hầu hết các vùng đất ngập nước đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước, với những khu bảo tồn nghiêm ngặt áp dụng cơ chế phạt và thu phí cho việc sử dụng dịch vụ hệ sinh thái Điều này áp dụng cho các công ty du lịch cũng như ngư dân nuôi trồng thủy hải sản trong các khu vực đất ngập nước.

Công cụ kinh tế trong quản lý đất ngập nước tại Việt Nam chưa được thể hiện rõ ràng và đa dạng như các tài nguyên khác Các quy định về thuế phí thường áp dụng chung với tài nguyên đất, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp như thuế đối với vùng trồng lúa Bên cạnh đó, những công cụ kinh tế khác như nhãn sinh thái, kỹ quỹ môi trường và cam kết bảo vệ môi trường vẫn chưa được triển khai hiệu quả tại các vùng đất ngập nước.

2.2.3 Công cụ giáo dục, truyền thông

Kể từ năm 1989, ĐNN Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều nhà khoa học và các tổ chức trong và ngoài nước, tập trung vào các lĩnh vực như điều kiện tự nhiên, đặc trưng sinh thái, đa dạng sinh học, chức năng và giá trị của ĐNN Nghiên cứu cũng bao gồm tài nguyên và môi trường, đo vẽ bản đồ ĐNN, cũng như các phương pháp quản lý, bảo tồn, sử dụng và kiểm kê ĐNN.

Số lượng các bộ, cơ quan và tổ chức nghiên cứu, cùng với các đề tài và dự án kiểm kê ĐNN đang gia tăng, nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế Nguyên nhân chính là do các kết quả nghiên cứu được lưu trữ tại nhiều cơ quan và cá nhân khác nhau, dẫn đến việc chưa được khai thác và sử dụng triệt để.

Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học (ĐNN) do thiếu quy hoạch tổng thể và kế hoạch quản lý tổng hợp Sự tham gia đồng bộ của các ngành còn hạn chế, cùng với việc thiếu cơ sở dữ liệu thống nhất về ĐNN Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và kiểm kê cũng chưa đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc sử dụng, bảo tồn và phát triển ĐNN một cách hiệu quả.

- Về tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về ĐNN

Trong những năm qua, nước ta đã thực hiện một số hoạt động nhằm tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về ĐNN như sau:

Tuyên truyền về đa dạng sinh học (ĐNN) trên các phương tiện thông tin đại chúng là rất quan trọng để nâng cao nhận thức về vai trò của ĐNN trong quản lý và chính sách bảo tồn tài nguyên Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, và khuyến ngư cũng được thực hiện thông qua việc phát hành tài liệu khoa học kỹ thuật nhằm hỗ trợ việc sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN ở cả cấp trung ương và địa phương.

Hằng năm, Cục Bảo vệ Môi trường tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày ĐNN thông qua việc xuất bản áp phích, tờ rơi, và mở các chiến dịch truyền thông Ngoài ra, các bài viết về ĐNN cũng được đăng trên tạp chí Bảo vệ môi trường và các ấn phẩm khác Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền và giáo dục về ĐNN vẫn còn yếu kém.

Nhiều khóa tập huấn và hội thảo về quản lý và bảo tồn ĐNN đã được tổ chức, tập trung vào các chủ đề như đánh giá kinh tế ĐNN, quản lý ĐNN dựa vào cộng đồng và quản lý tổng hợp đối bờ.

Mặc dù một số môn học liên quan đến ĐNN đã được đưa vào giảng dạy tại các trường đại học như Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Cần Thơ, nhưng hiện chưa có trường nào ở Việt Nam đào tạo chính thức bậc đại học, thạc sĩ hay tiến sĩ về ĐNN Hầu hết các chuyên gia trong lĩnh vực này đều được đào tạo từ nước ngoài hoặc qua các dự án quốc tế Do đó, việc phát triển chương trình đào tạo chính thống về ĐNN là cần thiết để nâng cao nguồn nhân lực cho công tác quản lý ĐNN tại Việt Nam.

Các phương thức, phương pháp quản lý đất ngập nước

Hiện nay, quản lý ĐNN ở Việt Nam vẫn mang tính chuyên ngành và thiếu một hệ thống công cụ kỹ thuật tổng hợp Một số giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất cho các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản và y tế Ngành nông nghiệp đã ban hành quy trình kỹ thuật cho sản xuất cây trồng và vật nuôi, trong khi ngành lâm nghiệp có quy trình quản lý rừng, bao gồm cả rừng đặc dụng Thủ tướng Chính phủ đã quy định quản lý rừng đặc dụng và rừng sản xuất tự nhiên Ngành thủy lợi đã phát triển công trình kỹ thuật để quản lý nước và kiểm soát lũ, hỗ trợ cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Ngành thủy sản cũng đã ban hành quy trình quản lý nguồn lợi và nuôi trồng thủy sản Đối với ngành y tế, các quy trình về vệ sinh công cộng liên quan đến nước sạch nông thôn đã được thực hiện Ngoài ra, một số cơ quan khoa học và quản lý đã áp dụng các phương pháp và công cụ kỹ thuật mới trong quản lý tài nguyên ĐNN Các phương pháp này đang được áp dụng ở nhiều mức độ khác nhau.

Community-based natural resources management (CBNRM) is effectively implemented in areas such as Xuân Thủy, Tiền Hải, Rạn Trào, and Thị Nại This approach emphasizes the importance of local communities in the stewardship of natural resources, fostering sustainable practices Additionally, co-management of natural resources enhances collaboration between local stakeholders and governmental bodies, ensuring that resource management is both equitable and effective By integrating local knowledge and governance, these strategies aim to promote environmental conservation while supporting community livelihoods.

Resources); Phá Tam Giang- Cầu Hai, Phong Điền, Dakrong;

Dự án bảo tồn và phát triển tổng hợp (Intergrated Conversation and

Development Projects): Cát Tiên, U Minh;

Quản lý liên ngành trong các khu bảo tồn ĐNN là một phương pháp quan trọng, trong đó nhiều thành phần và tổ chức tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và triển khai các dự án bảo tồn Sự hợp tác này giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động bảo vệ môi trường.

Quản lý dựa trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái(Ecoystem-based management): đã được áp dụng ở Cát Tiên, Tam Giang- Cầu Hai; Châu Trúc, Thị Nại.

Quản lý dựa trên cơ sở hệ sinh thái là phương pháp tổng hợp nhất trong quản lý đa dạng sinh học, nhằm tìm kiếm sự hài hòa giữa lợi ích từ tài nguyên thiên nhiên và quá trình của hệ sinh thái để đảm bảo tính bền vững Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nguồn tài chính lớn và kiến thức chuyên môn sâu, điều này khiến cho các nước đang phát triển như Việt Nam gặp khó khăn trong việc triển khai nếu không có sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài.

 Dưới đây là các bước quy hoạch quản lý dựa trên hệ sinh thái

1 Miêu tả những thành phần cơ bản của hệ sinh thái;

2 Phân tích chức năng, mối liên kết và ranh giới của hệ sinh thái;

3 Phân tích những cơ hôi và thách thức, nguyên nhân và hậu quả;

4 Xác định mục đích quản lý hệ sinh thái;

5 Miêu tả những biện pháp quản lý sẽ được tiến hành để đề cập đến cơ hội và thách thức;

6 Những kết quả dự kiến của các hoạt động quản lý then chốt;

7 Miêu tả những biện pháp quan trắc, bao gồm vật chỉ thị nguyên tắc đo đạc và phương pháp phân tích;

9 Sự sắp đặt về thể chế và quá trình hoạch định chính sách;

10 Báo cáo và truyền thông;

11 Tài chính và phân bổ tài chính.

Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, lượng giá kinh tế, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám, cùng với công nghệ thông tin và mô hình hóa, đang ngày càng được áp dụng trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐNN) Hiện nay, những phương pháp mới này đã được thí điểm tại nhiều địa điểm như vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định, khu vực rừng ngập mặn Tiền Hải, Thái Bình, và Phù Long, Hải Phòng, cho thấy kết quả khả quan, đặc biệt là trong việc áp dụng cách tiếp cận đồng quản lý rừng ngập mặn Để duy trì và phát triển các phương pháp này, cần sự nỗ lực từ tất cả các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương, nơi có nguồn lợi ĐNN cần được quản lý.

Thành tựu, thách thức liên quan đến quản lý đất ngập nước

2.4.1 Những thành tựu đạt được

Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách hiệu quả để nâng cao công tác bảo tồn, sử dụng và quản lý bền vững đa dạng sinh học.

Hệ thống văn bản quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của quản lý ĐNN ở Trung ương đã được ban hành và ngày càng hoàn thiện Luật tổ chức Chính phủ (2001) và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP đã mở rộng chức năng quản lý tài nguyên đất, nước và cải thiện cơ sở pháp lý cho hệ thống quản lý Nhà nước về ĐNN Nghị định số 109/2003/NĐ-CP đã thể chế hóa quản lý nhà nước về ĐNN thông qua việc phân công trách nhiệm cho các Bộ và Tỉnh.

Ngày càng nhiều cơ quan và tổ chức tham gia vào quản lý và bảo tồn ĐNN Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, đặc biệt là Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã thực hiện tốt công tác điều phối các vấn đề liên quan đến ĐNN, bao gồm việc phối hợp giữa các bộ như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các khu Bảo tồn Thiên nhiên Động vật và Thực vật Việc hoàn thiện cơ cấu quản lý tài nguyên và môi trường, cùng với việc xây dựng chính sách bảo tồn thiên nhiên, là yếu tố then chốt để đảm bảo sự tham gia hiệu quả và thực hiện tốt các cam kết quốc tế liên quan đến bảo tồn thiên nhiên.

Các thể chế quản lý nhà nước cấp địa phương được tổ chức theo nguyên tắc "song trùng trực thuộc", giúp nâng cao hiệu quả quản lý ĐNN tại nhiều địa phương Nguồn đầu tư của chính phủ và hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN ngày càng gia tăng, dẫn đến sự gia tăng số lượng dự án trong nước và quốc tế liên quan đến ĐNN với hiệu quả tích cực Mặc dù một số dự án vẫn gặp khó khăn trong quản lý và hiệu quả, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt hệ thống các khu rừng đặc dụng quốc gia và các khu bảo tồn biển, góp phần bảo tồn chức năng, giá trị và đa dạng sinh học của ĐNN.

2.4.2 Các tồn tại, thách thức trong quản lý đất ngập nước a Về hệ thống luật pháp

Việt Nam hiện chưa có luật riêng về đa dạng sinh học (ĐNN), dẫn đến việc thiếu các quy định pháp luật về quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN Hệ thống quản lý nhà nước còn thiếu sự thống nhất và rõ ràng, cùng với đó là sự thiếu phối hợp giữa các ban ngành và địa phương trong các hoạt động liên quan đến ĐNN Các chế tài để thi hành cũng chưa đầy đủ Hiện tại, chỉ có Nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ là văn bản pháp lý cao nhất liên quan đến trách nhiệm quản lý ĐNN, trong khi nhiều quy định khác chủ yếu do Bộ và các địa phương ban hành.

Các văn bản pháp luật do Ủy ban Nhân dân địa phương ban hành chủ yếu tập trung vào biện pháp hành chính và thiếu các chế tài để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc khai thác và bảo tồn động, thực vật quý hiếm Điều này dẫn đến việc các quy định chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cho việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

Hệ thống chính sách và pháp luật quản lý ĐNN hiện nay thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện, với các quy định pháp lý liên quan bị phân tán và không đảm bảo tính khoa học Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thực thi và hiệu quả quản lý kém Các văn bản pháp luật chưa bao quát toàn diện các vấn đề cần thiết cho quản lý và bảo tồn ĐNN, chỉ tập trung vào phân hạng và phân cấp quản lý mà chưa chú trọng đến các khía cạnh kinh tế và biện pháp bảo vệ Mức phạt hiện tại quá thấp và chưa phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, làm giảm hiệu quả xử lý vi phạm và tính răn đe đối với các hành vi vi phạm Chế tài áp dụng cho các hành vi vi phạm quy định về bảo tồn ĐDSH còn nhiều điểm bất hợp lý, cần được xem xét và điều chỉnh để nâng cao hiệu quả quản lý.

Việt Nam đã xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và chính sách để thực hiện nhiệm vụ quốc tế theo Công ước Ramsar và các hiệp ước liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước (ĐNN) Tuy nhiên, các văn bản này chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Công ước Ramsar về việc sử dụng khôn khéo ĐNN Hiệu quả thực thi các nhiệm vụ quốc tế trong các hiệp ước được đánh giá qua việc xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý và bảo tồn các vùng ĐNN.

Việc áp dụng Luật Bảo vệ và phát triển Rừng cùng các quy định bảo tồn hệ thống Rừng đặc dụng vào quy hoạch và quản lý ĐNN đã tạo ra một số bất cập Bên cạnh đó, Luật thủy sản chưa có vị trí phù hợp và khả thi trong khu vực lõi của các khu bảo tồn, trong khi việc sử dụng hợp lý ĐNN theo khuyến khích của Công ước Ramsar vẫn chưa được thể chế hóa.

Một trong những thách thức lớn nhất đối với quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐNN) là sự gia tăng dân số khoảng 1,32% mỗi năm, cùng với mật độ dân số cao ở nhiều khu vực ĐNN, như 276 người/km² ở các huyện ven biển Tỷ lệ đô thị hóa nhanh chóng, đạt khoảng 33% vào năm 2010, cũng diễn ra mà không có sự kiểm soát hợp lý, gây áp lực lên tài nguyên thiên nhiên.

Nhiều nhà quản lý và người hưởng lợi vẫn chưa nắm rõ chức năng và giá trị của ĐNN đối với kinh tế, xã hội và sinh thái Sự thiếu hiểu biết này dẫn đến việc quản lý và bảo tồn ĐNN chưa thực sự hiệu quả, ảnh hưởng đến quyết định sử dụng tài nguyên một cách thực tiễn và khả thi.

Quản lý di sản văn hóa phi vật thể (ĐNN) ở Việt Nam hiện tại vẫn đang gặp phải nhiều vấn đề như tính đơn ngành, sự chồng chéo và thiếu phối hợp giữa các cơ quan Điều này dẫn đến việc chức năng quản lý ĐNN chưa được phân định một cách rõ ràng, gây khó khăn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa.

Các chính sách quản lý đất ngập nước (ĐNN) thường thiếu tính nhất quán và hệ thống, dẫn đến những tác động tiêu cực như suy thoái, mất mát đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường Một ví dụ điển hình là việc chuyển đổi sử dụng ĐNN tại Đầm Đôi đã diễn ra 5 lần từ năm 1985, gây ra sự mất mát đáng kể tài nguyên thiên nhiên.

Thiếu quy hoạch tổng thể và các quy hoạch cụ thể trong quản lý tài nguyên nước (ĐNN) đã dẫn đến xung đột môi trường và suy thoái tài nguyên Các quy hoạch quản lý lãnh thổ, phát triển kinh tế, giao thông, hồ chứa, thủy lợi, thủy điện và du lịch không phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội của từng vùng, gây trở ngại cho việc quản lý hiệu quả ĐNN.

CHÍNH SÁCH NHẰM HÀI HÒA GIỮA BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

3.1 Khái quát các hình thức hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững ở Việt Nam 3.1.1 Tăng cường nguồn lực sinh kế

Hỗ trợ sinh kế đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người dân cải thiện cuộc sống và tiếp cận hiệu quả hơn với năm nguồn lực sinh kế, bao gồm: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực xã hội và nguồn lực con người.

Nhiều người dân phụ thuộc vào tài nguyên sẵn có cho sinh kế, và cải thiện nguồn lực này có thể nâng cao điều kiện sống cũng như tạo ra giải pháp sinh kế tích cực Đất ngập nước, chiếm khoảng 6% bề mặt trái đất, có thể được phát triển du lịch như một giải pháp tiềm năng để đảm bảo sinh kế cho cộng đồng.

Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông như đường xá và bến tàu giúp tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, mở ra cơ hội trao đổi thương mại với các cộng đồng khác Điều này cũng góp phần giảm chi phí vận chuyển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ có thể thu lợi.

Cải thiện cung cấp điện, nâng cao giáo dục và đào tạo, cũng như tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng, có thể mở ra cơ hội phát triển sinh kế cho người dân.

3.1.2 Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện sinh kế hiện tại

Gia tăng giá trị - tạo thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm và dịch vụ hiện có ,

- Chế biến các sản phẩm từ thủy sản.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

- Nâng cao chất lượng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

- Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất (chế biến thủy sản, du lịch, đồ thủ công mỹ nghệ,v.v) giúp nâng cao năng suất lao động.

3.1.3 Phát triển sinh kế mới thay thế hoặc bổ trợ sinh kế hiện tại Đối với hệ sinh thái đất ngập nước thì chủ yếu tạo ra các sinh kế để tạo thu nhập thay thế cho các hoạt động phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên như trước đây.

Tại vườn quốc gia Xuân Thủy, dự án phục hồi rừng ngập mặn do Hội chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ đã trồng hơn 1500 ha rừng ngập mặn Sự kết hợp giữa diện tích rừng ngập mặn tự nhiên và rừng được trồng đã góp phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển bền vững tài nguyên môi trường, kinh tế và xã hội của khu vực.

3.1.4 Tạo dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách

Hoạt động hỗ trợ sinh kế tại Việt Nam được quản lý bởi các cơ quan và tổ chức, kết hợp với chính sách và quy định nhằm phát triển sinh kế bền vững Ngoài sự quản lý của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hỗ trợ các sinh kế bền vững.

3.2 Thực trạng chính sách hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên đất ngập nước và phát triển sinh kế bền vững ở Việt Nam hiện nay

3.2.1 Tăng cường nguồn lực sinh kế Đề án “Chuyển đổi sinh kế xã Cẩm Thạch (Thành phố Hội An) và Duy Vinh (Duy Xuyên)” Nơi đây sở hữu nhiều loài thủy sản như tôm, cua, ghẹ, v.v và các động vật thân mềm do có diện tích rừng dừa nước phong phú với tính ĐDSH cao Nhằm hạn chế tác động của BĐKH, cân bằng sinh thái và cải thiện đời sống cho các hộ dân, mô hình cộng đồng quản lý nghề cá và nuôi trồng thủy sản cũng như du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng đã được triển khai ở 2 địa phương này và bước đầu thu được kết quả khả quan.

Từ năm 1997, các tổ cộng đồng quản lý khai thác thủy sản tại thôn Hà Mỹ (Duy Vinh, Duy Xuyên) và thôn 1, thôn 2 (Cẩm Thanh, Hội An) đã nâng cao ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái cho người dân ven sông Người dân đã tự nguyện chuyển đổi từ các phương pháp khai thác thủy sản như trũ điện sang các nghề mới hiệu quả hơn về kinh tế Qua việc điều tra nguồn lợi trứng cá, tôm con và xác định mùa vụ sinh sản, cộng đồng đã thiết lập nhiều khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đưa ra quy định về khai thác, nhận được sự ủng hộ từ người dân.

Các tổ cộng đồng quản lý khai thác thủy sản nội địa và sự tham gia chủ động của các hộ dân vùng đất ngập nước vào nuôi trồng thủy sản đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể Ông Lê Thắng, thành viên tổ nuôi tôm cộng đồng thôn Hóc Rộ, cho biết: “Sau khi nhận được sự hỗ trợ từ Sở NN&PTNT và TP.Hội An, gia đình tôi đã mạnh dạn tham gia nuôi thủy sản, thu nhập từ nuôi tôm thẻ chân trắng đã tăng lên rõ rệt.” Năm 2011, ông Trần Cầu (thôn Hà Mỹ) nhận hỗ trợ 100% con giống và 50% chi phí thức ăn, đã nuôi 200 gà và sau 3 tháng thả nuôi, ông đã đạt được thành công.

Cầu bán được gần 20 triệu đồng, lãi hơn 10 triệu đồng Để cải thiện sinh kế cho người dân, hơn 65ha rừng dừa nước Bảy Mẫu thuộc xã Cẩm Thanh đã được quy hoạch bảo vệ và phát triển du lịch Hiện nay, tour du lịch sinh thái với các hoạt động như tham quan rừng dừa, đánh bắt cá bằng ghe thuyền và thúng chai, cùng trải nghiệm ẩm thực tại nhà ngư dân đã được hình thành Tương tự, khu du lịch sinh thái Trà Nhiêu (Duy Vinh) cũng đã được đầu tư xây dựng từ tháng 10.2008, mang lại thu nhập cho người dân thông qua các tuyến tham quan làng chài, làng chiếu cói và du lịch quanh rừng dừa nước.

3.2.2.Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện sinh kế hiện tại Đề án “Khai thác sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn ngao giống tự nhiên trên vùng đất ngập nước ở cửa sông Hồng” được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thẩm định, UBND tỉnh Nam Định phê duyệt (Căn cứ Quyết định126/QĐ-TTg về việc “thí điểm chia sẻ lợi ích trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng” tại VQG Xuân Thủy (Nam Định) và VQG Bạch Mã (Quảng Nam và Thừa Thiên – Huế)

Tài nguyên đất ngập nước tại Xuân Thủy sở hữu nhiều lợi thế cho việc thực hiện cơ chế thí điểm, nhờ vào hệ sinh thái đất ngập nước ở khu vực cửa sông ven biển, vốn là hệ sinh thái mở, giàu tiềm năng và có khả năng tự phục hồi cao.

Từ tháng 5 đến tháng 7, vùng ngập nước tại cửa sông Hồng thuộc Vườn Quốc gia Xuân Thủy xuất hiện nguồn ngao giống tự nhiên quy mô lớn, mang lại lợi ích hàng tỷ đồng cho người dân địa phương thông qua việc khai thác để cung cấp cho các khu nuôi trồng Vào thời điểm cao điểm, hàng nghìn người và hàng trăm phương tiện tham gia khai thác, với năm 2005 ghi nhận 35 - 45 tấn ngao được khai thác, thu về 5 - 6 tỷ đồng Tuy nhiên, phương thức khai thác bừa bãi như cào, vét và lưới đã dẫn đến việc cạn kiệt nguồn ngao giống tự nhiên và đe dọa an toàn sinh thái của Vườn Quốc gia, gây nguy cơ cho nơi cư trú của các loài chim quý hiếm.

Mục tiêu chính là kết hợp bảo tồn và phát triển, đồng thời thực hiện khuyến cáo của Công ước Ramsar và tiêu chí của Khu dự trữ sinh quyển thế giới, nhằm tạo ra một môi trường lành mạnh với sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.

CÁC NHÓM GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KHÔN NGOAN ĐẤT NGẬP NƯỚC

4.1 Nhóm giải pháp quản lý đất ngập nước

4.1.1 Các giải pháp về con người

Kiểm soát chặt chẽ sự gia tăng dân số và phân bố mật độ dân số hợp lý tại các vùng ĐNN là cần thiết để duy trì và phát triển bền vững các khu vực này.

Đa số người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của ĐNN, vì vậy cần tăng cường tuyên truyền để mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của ĐNN Việc đưa ĐNN vào chương trình giáo dục sẽ giúp học sinh và sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực này.

Để đảm bảo sự phát triển hài hòa với tiềm năng vốn có, cần tăng cường nguồn vốn và nhân lực cho ĐNN Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về quản lý và phát triển bền vững ĐNN.

 Cần đào tạo và nâng cao chất lượng của cán bộ quản lý ĐNN.

4.1.2.Các giải pháp về luật pháp

 Cần phải củng cố và sáng tạo ra các phương pháp quản lý để tránh việc đơn ngành, chồng chéo, thiếu tập trung không có trọng tâm.

 Cần có hệ thống quản lý, pháp luật chuyên sâu về ĐNN để đảm bảo tính hệ thống và nhất quán.

 Cần kết hợp chặt chẽ giữa các ngành để có các quy hoạch tổng thể thống nhất, tránh việc chồng chéo và giẫm chân lên nhau.

Cần thực hiện các cuộc điều tra và kiểm định chất lượng, trữ lượng ĐNN thường xuyên hơn để nhà quản lý có thể nắm bắt tình hình và đưa ra các chính sách quản lý hiệu quả.

Việt Nam cần xây dựng một bộ luật riêng về ĐNN nhằm thiết lập các quy định pháp lý rõ ràng cho việc quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên này Điều này bao gồm việc phát triển các quy định cụ thể về hệ thống quản lý nhà nước để đảm bảo sự phát triển bền vững và khôn khéo của ĐNN.

Cần thiết phải thống nhất cơ chế phối hợp giữa các cán bộ ban ngành và địa phương trong các hoạt động liên quan đến ĐNN, cùng với việc thiết lập các chế tài để đảm bảo thi hành hiệu quả.

Các quy định pháp lý hiện tại còn yếu, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý Do đó, cần thiết phải ban hành các văn bản luật có tính pháp lý cao hơn để tăng cường hiệu quả quản lý.

Các văn bản pháp lý do Ủy ban Nhân dân địa phương ban hành chủ yếu tập trung vào biện pháp hành chính, thiếu các chế tài khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc khai thác và bảo tồn động, thực vật quý hiếm Điều này dẫn đến việc các quy định pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó, cần thiết phải xây dựng các văn bản hướng dẫn rõ ràng để người dân nhận thức được lợi ích từ việc bảo tồn động, thực vật, thay vì chỉ dựa vào biện pháp hành chính, vì biện pháp này chỉ nên được coi là giải pháp cuối cùng.

Cần cải thiện hiệu quả thực thi các chính sách để tránh tình trạng thông tin không đồng nhất Hiện nay, có sự khác biệt giữa chính sách mà chính phủ ban hành và thông tin mà người dân tiếp nhận.

 Cần kết hợp hài hòa giữa các nhóm lợi ích.

4.2 Sử dụng khôn ngoan tài nguyên đất ngập nước a Các vịnh nông và các eo biển có độ sâu 6 m khi triều thấp

- Quy hoạch vùng được phép tổ chức du lịch lặn, vùng được neo đậu tàu thuyền để không ảnh hưởng tới vùng sống của san hô và cỏ biển

Việc khai thác vùng san hô chết làm vật liệu xây dựng cần được xem xét cẩn thận để đảm bảo không ảnh hưởng đến tính ổn định của đường bờ biển.

- Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác sa khoáng ven bờ Vùng phân bố của san hô thì không cho phép khai thác sa khoáng

- Ngăn ngừa ô nhiễm biển do các chất thải từ đất liền. b Các vùng cửa sông bãi triều, các vùng triều lầy cửa sông, đặc biệt là cửa sông

CL, là nơi có năng xuất sinh học rất cao mà tại đó hàng triệu người sống phụ thuộc vào chất lượng tài nguyên trong vùng.

Cần nhanh chóng quản lý để giữ ổn định HST cửa sông.

 Đình chỉ việc lấn đê biển để sản xuất nông nghiệp.

 Đình chỉ các hình thức khai thác làm thu hẹp diện tích và phân bố ĐNN của bãi triều-triều lầy ven biển.

 Tạo thông thoáng cho dòng chảy ở các bãi triều là tạo thuận lợi cho quá trình bồi tích.

 Giảm cường độ khai thác thủy sản ở vùng cửa sông.

 Từng bước cải tạo các bãi lầy ngập nước triều để phát triển nông nghiệp

 Ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước để bảo vệ các sinh vật thủy sinh. c Xung quanh những đảo nhỏ

 Cần ngăn cấm việc khai thác san hô làm đồ lưu niệm, quản lý chặt chẽ du lịch trên đảo và ven biển quanh đảo

 Cần có bản đồ phân bố của các rạn san hô dể nhân dân địa phương biết va cùng tham gia bảo vệ

Cấm khai thác sa khoáng và xây dựng công trình nạo vét luồng lạch để bảo vệ các rạn san hô Những khu vực bờ biển có đá và bãi sỏi cần được bảo tồn để duy trì hệ sinh thái biển.

 Nơi khai thác sa khoángphải đảm bảo hoàn nguyên môi trường

 Phát triển rộng rừng phòng hộ trên cát

 Bảo vệ các bãi để của động vật biển trên bãi cát ướt e Vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn

 Duy trì các điều kiện thuận lợi cho RNM có thể tái sinh tự nhiên, nhất là ở những vùng bãi triều lầy mới và đang bồi

Dần dần loại bỏ hình thức nuôi tôm quảng canh trên các đầm nuôi tôm có diện tích lớn, đồng thời áp dụng rộng rãi kỹ thuật nuôi tôm quảng canh cải tiến trên diện tích hợp lý từ 1 đến 3 ha.

 Khôi phục lại HST ĐNN đang bị suy thoái nghiêm trọng f Ao nuôi tôm cá

 Không phá RNM hiện có để nuôi tôm cá

 Không chuyển đổi các ruộng lúa vàng ven biển dã được ngọt hóa thành nuôi tôm cá g Hồ tự nhiên

Cần bảo tồn hiện trạng tự nhiên, không nên can thiệp hay cải tạo môi trường sống mà không có nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng Việc bảo vệ sông suối là rất quan trọng để duy trì hệ sinh thái.

 Đánh giá, nắm chắc vai trò của ĐNN trong quản lý nguồn nước

 Bảo vệ và nắm chắc vai trò củacác vùng ĐNN trong quản lý nguồn nước

 Bảo vệ và khôi phục hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở tất cả các sông, suối,dải rừng dọc heo các kênh rạch

 Hạn ché hải trực tiếp các chất thải sinh hoạt của các cộng đồng dân cư

 Kiểm soát việc sử dụng quá mức các hóa chất nông nghiệp trên đồng ruộng

 Các chất thải vàkhôi phục hệ thóng rừng phòng hộ đầu nguồn ở tất cả các sông, suối, dải rừng dọc theo các kênh rạch

 Hạn chế việc thải trực tiếp các chất thải sinh hoạt của các cộng đồng dân cư

 Kiểm soát việc sử dụng việc sự dụng quá mức các hóa chất nông nghiệp trên đồng ruọng

Các chất thải công nghiệp phát sinh từ các làng nghề và doanh nghiệp cần phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi được xả vào hệ thống.

 Hạn chế tốc độ tàu thuyền ở nhũng kênh rạch hẹp hoặc ven bờ đang bị xói mòn để chống bồi lắng cản trở dòng chảy

Các phương tiện đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trên sông, suối, kênh, rạch phải tuân thủ quy định không gây cản trở dòng chảy và ảnh hưởng đến giao thông đường thủy.

Ngày đăng: 06/09/2023, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Nghị định số 109/2003/ NĐ – CP ngày 23/9/2003 ( http://tailieu.vn/tag/nghi-dinh-so-109-2003-nd-cp.html) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 109/2003/ NĐ – CP
Năm: 2003
6. Chia sẻ lợi ích với cộng đồng để bảo vệ rừng đặc dụng tốt hơn, 2012, http://www.thiennhien.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia sẻ lợi ích với cộng đồng để bảo vệ rừng đặc dụng tốt hơn
Năm: 2012
7. Quản lý tổng hợp vùng bờ: Hỗ trợ đắc lực phát triển đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy, http://tainguyenmoitruong.com.vn, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp vùng bờ: Hỗ trợ đắc lực phát triển đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy
Năm: 2012
8. Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan hiện trạng đất ngập nướcViệt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar
Tác giả: Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Năm: 2005
3. Giáo trình Khoa học quản lý- Tập 2- NXB KHKT-2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Các vùng đất ngập nước là các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH NHẰM HÀI HÒA GIỮA BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Bảng 1 Các vùng đất ngập nước là các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w