1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình thu hút và sử dụng vốn oda ở việt nam

47 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình thu hút và sử dụng vốn oda ở việt nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Đề cương tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 366,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN (6)
    • 1.1. Những vấn đề cơ bản về FDI (6)
      • 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (6)
      • 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (6)
      • 1.1.3. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài (7)
    • 1.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (8)
      • 1.2.1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng (8)
      • 1.2.2. Chuyển giao công nghệ (9)
      • 1.2.3. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (9)
      • 1.2.4. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (10)
    • 1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam (11)
      • 1.3.1. Vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế (11)
        • 1.3.1.1. Góp phần tăng nguồn vốn, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát triển KTXH (12)
        • 1.3.1.2. FDI với nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô (12)
        • 1.3.1.3. Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho nước chủ nhà và góp phần tạo động lực cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các (13)
        • 1.3.1.4. Tác động tới xuất khẩu và cán cân thanh toán (13)
        • 1.3.1.5. Tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập (14)
      • 1.3.2. Vai trò của FDI với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (15)
        • 1.3.2.1. Huy động vốn để thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên (15)
      • 1.3.3. Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn (16)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM (17)
    • 2.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài (17)
      • 2.1.1. Cấp phép đầu tư (17)
      • 2.1.2. Tình hình vốn đầu tư (20)
      • 2.1.3. Cơ cấu vốn FDI (21)
        • 2.1.3.1. Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài theo ngành (21)
        • 2.1.3.2. Đầu tư nước ngoài phân theo địa phương (25)
        • 2.1.3.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo đối tác đầu tư (28)
      • 2.3.3. Đầu tư nước ngoài phân theo hình thức đầu tư (29)
    • 2.2. Đánh giá thực trạng FDI tại Việt Nam (30)
      • 2.2.1. Thành công (30)
      • 2.2.2. Hạn chế (32)
      • 2.2.3. Nguyên nhân (33)
  • CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN FDI TẠI VIỆT NAM (38)
    • 3.1. Quan điểm và định hướng thu hút FDI (38)
      • 3.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam (38)
      • 3.1.2. Định hướng và mục tiêu thu hút FDI tại Việt Nam (38)
        • 3.1.2.1. Định hướng (38)
        • 3.1.2.2. Mục tiêu (39)
    • 3.2. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng FDI vào Việt Nam (41)
  • KẾT LUẬN (45)

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

Những vấn đề cơ bản về FDI

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư không chỉ sở hữu vốn mà còn trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng nguồn vốn đó.

FDI, hay Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài, là hình thức đầu tư của các công ty nhằm thiết lập cơ sở hoặc chi nhánh tại nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài sẽ đóng góp một khoản vốn lớn để sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, đồng thời tham gia trực tiếp vào quản lý và điều hành dự án đầu tư.

FDI chủ yếu đến từ nguồn vốn tư nhân và các công ty, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài.

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật doanh nghiệp của mỗi nước.

Quyền quản lý và điều hành đối tượng đầu tư phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư Nếu nhà đầu tư góp 100% vốn, thì họ sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm quản lý và điều hành đối tượng đầu tư đó.

Lợi nhuận từ đầu tư chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả kinh doanh và được phân chia dựa trên tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.

FDI được hình thành thông qua việc thiết lập doanh nghiệp mới, thực hiện mua lại toàn bộ hoặc một phần của doanh nghiệp hiện có, hoặc mua cổ phiếu để tiến hành thôn tính và sáp nhập các công ty.

1.1.3 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có nhiều tiêu chí để phân loại FDI, bao gồm cơ cấu ngành kinh tế và vùng địa lý Tuy nhiên, phân loại theo hình thức đầu tư là phổ biến nhất, với các loại hình đầu tư đa dạng.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual-Business-Cooperation) là văn bản pháp lý giữa hai hoặc nhiều bên, quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh mà không cần thành lập pháp nhân Tại Việt Nam, hình thức hợp tác này chỉ chiếm hơn 3% tổng số dự án và khoảng 9% tổng vốn đầu tư, với 181 dự án hiệu lực và 4,5 tỷ USD vốn đầu tư tính đến tháng 5 năm 2005.

Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture enterprise) là hình thức hợp tác giữa hai hoặc nhiều bên, trong đó các bên cùng góp vốn, kinh doanh, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Loại hình doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn và có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư Tại Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh chiếm hơn 23% tổng số dự án và khoảng 44% tổng vốn đầu tư, với 1.269 dự án có hiệu lực và tổng vốn đầu tư đạt 19,7 tỷ USD tính đến tháng 5 năm 2005.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả tổ chức và cá nhân, thành lập tại quốc gia tiếp nhận đầu tư Những doanh nghiệp này hoàn toàn tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình.

Tùy vào điều kiện từng nước, các hình thức đầu tư trên được áp dụng ở mức độ khác nhau.

Để thu hút các nhà đầu tư, chính phủ các nước đã thiết lập các khu vực ưu đãi như khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và đặc khu kinh tế Ngoài ra, họ còn áp dụng các hình thức hợp đồng như xây dựng-kinh doanh chuyển giao (B.O.T) và xây dựng chuyển giao (B.T).

Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1.Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng

Vốn đầu tư phát triển kinh tế bao gồm vốn trong nước và vốn nước ngoài, đặc biệt quan trọng đối với các nước lạc hậu có trình độ sản xuất thấp và nguồn vốn nội địa hạn chế Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo, các nước này cần đầu tư vào sản xuất, tạo ra tăng trưởng kinh tế cao và ổn định Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều nước sở hữu khối lượng vốn lớn và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài, các nước đang phát triển có cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế Tại nhiều quốc gia đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư, với một số quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn này, đặc biệt ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế.

Xu hướng tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài đang trở thành một phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu, nhằm nâng cao hợp tác và liên kết kinh tế giữa các quốc gia Sự gia tăng này xuất phát từ lợi ích của các quốc gia, khi tham gia vào thị trường lao động quốc tế, giúp các nước phát huy thế mạnh và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mình.

Khi đầu tư vào một quốc gia, nhà đầu tư không chỉ chuyển giao vốn tài chính mà còn cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu, cũng như vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật, tri thức khoa học và bí quyết quản lý Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra nhanh chóng và thuận lợi cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, các nước đang phát triển gặp khó khăn trong việc tự nghiên cứu và nâng cao trình độ công nghệ để bắt kịp các nước phát triển Giải pháp hiệu quả nhất cho họ là tận dụng thành tựu công nghệ từ các quốc gia tiên tiến thông qua chuyển giao công nghệ Mặc dù việc tiếp nhận công nghệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đây vẫn là lợi ích cơ bản mà các nước này đạt được khi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

1.2.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Các nước đang phát triển có thể đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bằng cách tận dụng vốn và kỹ thuật từ nước ngoài, giúp thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, việc khai thác và phát huy tác dụng của các yếu tố bên ngoài sẽ tạo ra sự phát triển kinh tế mạnh mẽ Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chứng minh là một yếu tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng tại các nước này, cung cấp nền tảng vững chắc để khai thác tiềm năng phát triển kinh tế.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp tại các nước đang phát triển.

1.2.4 Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh sự phát triển nội tại mà còn phù hợp với xu hướng quốc tế hóa mạnh mẽ Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong kinh tế đối ngoại, giúp các quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế Để hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia cần điều chỉnh cơ cấu kinh tế nội địa cho phù hợp Sự chuyển dịch này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn được thúc đẩy bởi chính nguồn đầu tư này.

+ Thông qua quá trình đầu tư nước ngoài làm xuất hiện nhiều ngành và lĩnh vực mới ở nước nhận đầu tư.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ tại nhiều lĩnh vực kinh tế, từ đó nâng cao năng suất lao động trong các ngành này.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, nhưng cũng dẫn đến sự mai một hoặc xóa sổ của nhiều ngành khác khi không đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước qua thuế và tiền cho thuê đất, mà còn cải thiện cán cân thanh toán quốc tế nhờ vào việc tăng cường xuất khẩu sản phẩm Hầu hết các dự án đầu tư này tập trung vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu, đồng thời mở rộng thị trường trong và ngoài nước nhờ vào các phương án bao tiêu sản phẩm hiệu quả.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và thu hút lực lượng lao động đáng kể tại các quốc gia tiếp nhận Điều này góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được khai thác hiệu quả FDI được xem là chìa khóa quan trọng giúp giải quyết vấn đề này, vì nó cung cấp vốn và công nghệ cần thiết để phát huy tiềm năng kinh tế, bao gồm cả tiềm năng lao động.

Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

1.3.1 Vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của ViệtNam Các dự án đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi dần đời sống sản xuất,kinh doanh của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác đầu tư nước ngoài cũng khả quan trong năm 2003 và đượcCục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá là “… Có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh tế khác” Cụ thể, năm 2003, doanh thu của khu vực này đạt 16 tỉ USD, tăng hơn 30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xuất khẩu đạt 6,3 tỉ USD, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Nhờ những kết quả trên nên khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14,3% GDP cả nước Trên 4.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm ổn định cho khoảng

Khoảng 700 ngàn lao động trong nước, cùng với nhiều lao động gián tiếp tại các vùng nguyên liệu trên toàn quốc, đã được tạo ra nhờ vào các dự án đầu tư nước ngoài Những dự án này không chỉ khai thác tiềm năng một cách hiệu quả mà còn làm thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương và vùng lãnh thổ Điều này tạo ra cơ hội để thúc đẩy sự hợp tác và liên kết kinh tế trong các tỉnh, thành phố Vai trò của FDI trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam được thể hiện qua những khía cạnh quan trọng này.

1.3.1.1 Góp phần tăng nguồn vốn, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát triển KTXH

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là khi mức tích lũy nội bộ còn thấp Điều này giúp thúc đẩy đầu tư và đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh khoa học và kỹ thuật toàn cầu đang tiến bộ nhanh chóng.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam, tăng cường tiềm lực để khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước như dầu khí và điện Nó cũng giúp hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải và bưu chính viễn thông, đồng thời hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao Sự đầu tư này không chỉ thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn tạo ra việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương.

1.3.1.2 FDI với nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô

FDI đã trở thành một nguồn thu ngân sách quan trọng cho nhà nước, với tỷ lệ đóng góp ngày càng tăng qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 1996-2000, thu từ khu vực FDI chiếm khoảng 6-7% tổng nguồn thu ngân sách quốc gia, và nếu tính cả ngành dầu khí, con số này gần đạt 20%, tương đương với khoảng 1,45 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với 5 năm trước đó, với trung bình 290 triệu USD mỗi năm Đến giai đoạn 2001-2005, mức thu từ FDI đã tăng lên 1 tỷ USD mỗi năm.

Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung

1.3.1.3 Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho nước chủ nhà và góp phần tạo động lực cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

Sự tham gia của doanh nghiệp FDI không chỉ giúp phá vỡ cơ cấu thị trường độc quyền mà còn nâng cao tính cạnh tranh trong thị trường Tuy nhiên, sự cạnh tranh này cũng mang đến những tác động tích cực và tiêu cực cho nền kinh tế.

Doanh nghiệp FDI, với ưu thế về vốn, công nghệ và kỹ năng tổ chức sản xuất, đã tạo ra áp lực lớn buộc các doanh nghiệp trong nước phải cải cách quản lý, nâng cao công nghệ và áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả để cải thiện năng lực cạnh tranh.

Thông qua FDI, các công ty nước ngoài không chỉ cung cấp vốn mà còn chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước họ hoặc nước khác sang Việt Nam Chuyển giao công nghệ là một trong bốn kênh tạo ra “tác động tràn” cho doanh nghiệp, giúp Việt Nam tiếp nhận những kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing và nâng cao trình độ lao động qua đào tạo và rèn luyện trong nhiều lĩnh vực.

1.3.1.4 Tác động tới xuất khẩu và cán cân thanh toán

FDI thúc đẩy thương mại và tạo điều kiện cho xuất khẩu, giúp tiếp cận nhanh chóng thị trường toàn cầu Xuất khẩu không chỉ là giải pháp cho tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Hoạt động FDI giảm thiểu thâm hụt cán cân thanh toán qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu tư Nhờ FDI, xuất nhập khẩu của các nền kinh tế chủ nhà trở nên năng động hơn, bắt đầu từ xuất khẩu nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng, sau đó mở rộng sang các ngành công nghiệp lao động như dệt may và chế biến, cuối cùng là sản phẩm có hàm lượng tư bản cao như điện, điện tử và cơ khí.

1.3.1.5 Tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế

Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ phát triển nhanh chóng Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đây là con đường hiệu quả để thu hẹp khoảng cách với các nước khác và tối ưu hóa lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế Đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại của quốc gia.

1.3.2 Vai trò của FDI với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc nền kinh tế, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa của các quốc gia tiếp nhận.

1.3.2.1 Huy động vốn để thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên

Cơ cấu vốn FDI tại Việt Nam đang dần thay đổi để phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong những năm đầu, FDI chủ yếu tập trung vào thăm dò và khai thác dầu khí (32,2%) cùng với du lịch và căn hộ cho thuê (20,6%) Gần đây, đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là công nghiệp, đã gia tăng đáng kể, chiếm tới 2/3 tổng vốn đầu tư Hơn 60% dự án hiện nay là nhằm khai thác và nâng cấp các cơ sở kinh tế có sẵn Cơ cấu ngành nghề đang được điều chỉnh hợp lý hơn, chú trọng vào sản xuất hàng xuất khẩu, xây dựng hạ tầng, chế biến nông, lâm, thủy sản, và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đồng thời ứng dụng công nghệ cao và kỹ thuật hiện đại.

Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đang chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch vụ, thể hiện rõ nét sự thu hút FDI trong những tháng đầu năm nay, đặc biệt trong bối cảnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

1.3.2.2 Hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các lĩnh vực kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mang lại công nghệ hiện đại cho các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, hóa chất và điện tử, góp phần phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước Các ngành sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu trong nước như dệt may và sản xuất giày dép cũng đã tiếp cận công nghệ tiên tiến Nguồn vốn từ ĐTNN và các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh trong thị trường nội địa, buộc doanh nghiệp trong nước phải cải thiện chất lượng sản phẩm và áp dụng các phương pháp kinh doanh hiện đại.

1.3.3 Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn.

THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít chỉ có 214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD, ĐTNN chưa tác động mạnh đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước.

Từ năm 1991 đến 1995, đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) đã ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ với 1.409 dự án và tổng vốn đăng ký mới đạt 18,3 tỷ USD, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Thời kỳ 1991-1996 được coi là “bùng nổ” ĐTNN tại Việt Nam với 1.781 dự án được cấp phép và tổng vốn đăng ký đạt 28,3 tỷ USD Giai đoạn này đánh dấu sự hấp dẫn của môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam nhờ chi phí thấp và nguồn lao động giá rẻ ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, tác động tích cực đến các thành phần kinh tế khác và góp phần vào các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước Năm 1995, Việt Nam thu hút 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần so với năm 1991, và năm 1996 đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với năm trước.

Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước:năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998, chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông) Năm 2000 đã có thêm 391 dự án được cấp mới với tổng số vốn đăng ký cấp mới đạt 2,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 1999.

Trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) cấp mới và tăng vốn đạt 20,8 tỷ USD, vượt 73% so với mục tiêu của Nghị quyết 09/2001/NQ-CP Vốn thực hiện cũng đạt 14,3 tỷ USD, tăng 30% so với mục tiêu đề ra Trong suốt 5 năm này, vốn ĐTNN cấp mới liên tục tăng, với tỷ trọng tăng trung bình 59,5% mỗi năm.

Trong 5 năm qua, Việt Nam đã cấp phép cho tổng cộng 3.630 dự án, chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ Đặc biệt, trong hai năm 2006-2007, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã gia tăng đáng kể, với nhiều dự án quy mô lớn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp như sản xuất thép, điện tử và sản phẩm công nghệ cao, cũng như trong các dịch vụ như cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin và du lịch.

Năm 2006, Việt Nam đã thu hút hơn 10,2 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tăng 5,7% so với năm trước, đánh dấu mức cao nhất kể từ khi luật Đầu tư nước ngoài được ban hành vào năm 1987 Trong tổng số vốn đầu tư này, gần 8 tỷ USD đến từ các dự án đăng ký mới.

Trong năm 2007, đã có 1.544 dự án mới được cấp phép với tổng vốn đăng ký đạt 18,7 tỷ USD Năm 2008, số lượng dự án tăng vốn cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với 311 dự án đăng ký tăng vốn, tổng vốn tăng thêm đạt 3,74 tỷ USD Tổng cộng có 800 dự án mới và hơn 2,2 tỷ USD vốn tăng thêm từ 440 dự án mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tính đến cuối năm 2008, Việt Nam đã cấp phép cho hơn 10.671 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 158,217 tỷ USD Trong 4 tháng đầu năm 2009, đã có thêm 145 dự án mới được cấp phép, với tổng vốn đăng ký đạt 2,483.24 tỷ USD.

Năm 2009, tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 21,48 tỷ USD, bao gồm cả vốn cấp mới và vốn bổ sung cho các dự án.

839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD và 215 dự án tăng vốn với tổng vốn là 5,13 tỷ USD

Tính đến ngày 15/12/2011, Việt Nam có 13.667 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 198 tỷ USD, trong đó ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 54% Singapore đứng đầu danh sách nhà đầu tư nước ngoài với 24 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu về thu hút FDI với 32,67 tỷ USD, tiếp đến là Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương Vốn thực hiện của khu vực FDI trong năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD, tương đương với năm 2010, chiếm 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Xuất khẩu của khu vực FDI, bao gồm cả dầu thô, đạt 54,5 tỷ USD, chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tăng 39,3% so với năm 2010, vượt qua mức tăng trưởng của khu vực kinh tế trong nước Giá trị xuất khẩu khu vực FDI (không tính dầu thô) ước đạt 47,2 tỷ USD, góp phần giảm áp lực cho cán cân thương mại Nhập khẩu của khu vực FDI đạt 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010.

Năm 2011, thu nội địa từ khu vực FDI đạt khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2010 Doanh thu từ dầu thô vượt dự toán gần 44%, ước đạt 4,8 tỷ USD Khu vực FDI đã đóng góp đáng kể vào việc tăng thu ngân sách, giúp giảm bội chi ngân sách nhà nước.

Tính đến ngày 20 tháng 4 năm 2012, cả nước đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 169 dự án mới với tổng vốn đăng ký đạt 3,09 tỷ USD, tương đương 72,6% so với cùng kỳ năm 2011 Ngoài ra, có 73 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm là 1,16 tỷ USD, đạt 59,6% so với cùng kỳ năm trước Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm trong 4 tháng đầu năm 2012 đạt 4,26 tỷ USD, tương ứng 68,5% so với cùng kỳ năm 2011.

2.1.2 Tình hình vốn đầu tư

Kể từ năm 2001, nhiều dự án đầu tư không chỉ thu hút nguồn vốn mới mà còn mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh và gia tăng vốn đầu tư, nhờ vào hoạt động hiệu quả của chúng.

Đánh giá thực trạng FDI tại Việt Nam

Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng Trong bối cảnh tích lũy vốn không đủ, ĐTNN đã trở thành nguồn hỗ trợ thiết yếu cho đầu tư phát triển Từ năm 2001 đến 2005, ĐTNN đóng góp 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và con số này đã tăng lên 24,8% trong giai đoạn 2006 – 2011.

Đầu tiên, đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã đóng góp quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp Từ năm 1988 đến 2011, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm mạnh từ 80% xuống chỉ còn 22%, trong khi công nghiệp và dịch vụ tăng lên 78% Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực có vốn ĐTNN luôn cao hơn so với toàn quốc, với các số liệu cụ thể như năm 1996 đạt 21,7% so với 14,2%, năm 2000 là 21,8% so với 17,5%, năm 2005 là 21,2% so với 17,1%, và năm 2010 là 17,2% so với 14,7%.

Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã đóng góp quan trọng vào thu ngân sách và các cân đối vĩ mô, với tổng thu ngân sách từ doanh nghiệp ĐTNN trong giai đoạn 2006 - 2010 đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng trung bình trên 20% mỗi năm Riêng trong năm 2011, khu vực ĐTNN (không tính thu từ dầu thô) đã nộp ngân sách 3,5 tỷ USD.

Thứ tư, ĐTNN đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất nhập khẩu của

Khu vực đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đang ngày càng đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia Cụ thể, tỷ lệ xuất khẩu từ khu vực ĐTNN, bao gồm cả dầu thô, đã tăng từ 27% vào năm 1995 lên 59% vào năm 2011.

Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam ĐTNN không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao cơ sở vật chất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm và nâng cao năng suất lao động, đồng thời góp phần đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp và một số lượng lớn lao động gián tiếp khác.

Đầu tư nước ngoài đã giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu và mở rộng quan hệ quốc tế, đồng thời nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) không chỉ mang lại các yếu tố có thể đo lường mà còn có những tác động không thể lượng hóa, như việc tạo ra phương thức đầu tư mới, thúc đẩy các nguồn lực đầu tư trong nước và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước Qua đó, công nghệ và năng lực quản lý được chuyển giao, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa trong bối cảnh toàn cầu hóa ĐTNN cũng mở rộng quy mô thị trường, phát triển nhiều ngành dịch vụ và sản phẩm mới, đồng thời giúp giới thiệu sản phẩm Việt Nam ra thị trường quốc tế, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy thương mại, góp phần ổn định cán cân thương mại quốc gia.

Thực tiễn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam gần đây đã chỉ ra nhiều tồn tại và hạn chế trong môi trường đầu tư Sự gia tăng đột biến của vốn FDI đã làm nổi bật những vấn đề chưa được khắc phục, khiến tình hình đầu tư trở nên căng thẳng hơn Đồng thời, một số vấn đề mới cũng đang xuất hiện, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và hạn chế khả năng thu hút cũng như sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế.

Khả năng hấp thụ vốn đầu tư tại Việt Nam còn hạn chế, dẫn đến việc chưa khai thác hiệu quả nguồn vốn trong bối cảnh nhu cầu cao Chất lượng vốn chưa đạt yêu cầu, trong khi việc thu hút dự án công nghệ cao và chuyển giao công nghệ diễn ra chậm Nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường Sử dụng tài nguyên đất đai và khoáng sản chưa hiệu quả, và mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu Tình trạng tranh chấp lao động và đình công tại một số khu vực cũng ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư.

Những tồn tại và hạn chế trong khu vực FDI xuất phát từ yếu kém nội tại của nền kinh tế và những vấn đề trong việc hoạch định, thực thi chính sách và pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài Các nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu hiệu quả trong quản lý và quy định đầu tư.

Hệ thống, pháp luật chính sách liên quan đến đầu tư chưa đồng bộ và thiếu nhất quán.

Trong 25 năm qua, hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng không ngừng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển Tuy nhiên, trên thực tế, các văn bản pháp luật hiện hành về hoạt động ĐTNN chưa thực sự đồng bộ, rõ ràng, các văn bản pháp luật còn chồng chéo, tạo ra các cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng ở các cấp.

Chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn.

Mặc dù các chính sách ưu đãi đầu tư của chúng ta thường xuyên được rà soát và điều chỉnh, nhưng vẫn còn dàn trải và chưa tập trung vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn cần thu hút đầu tư Chẳng hạn, chính sách ưu đãi cho đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ chưa đủ hấp dẫn so với các ngành khác Hơn nữa, sự phân bổ chính sách ưu đãi giữa các địa bàn cũng chưa nổi bật, dẫn đến tình trạng dàn trải mà không có tính đột phá, trong khi 63 tỉnh/thành phố đều có những khu vực kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Cơ sở hạ tầng hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế, dẫn đến việc dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) không phát huy hiệu quả tối ưu.

Hệ thống cơ sở hạ tầng tại Việt Nam đã nhận được nhiều đầu tư trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn yếu kém và chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà đầu tư Điều này đặc biệt rõ rệt ở các lĩnh vực như cấp điện, nước, giao thông, cảng biển và hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp.

Hạn chế về nguồn nhân lực.

CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN FDI TẠI VIỆT NAM

Ngày đăng: 06/09/2023, 15:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đầu t trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2007 (tính tới ngày 22/9/2007 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực) - Tình hình thu hút và sử dụng vốn oda ở việt nam
Bảng 2.1 Đầu t trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2007 (tính tới ngày 22/9/2007 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực) (Trang 21)
Bảng 2.2: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO ĐỊA - Tình hình thu hút và sử dụng vốn oda ở việt nam
Bảng 2.2 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO ĐỊA (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w