MỤC LỤC Đề án môn học kiểm toán MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 3 1 1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHỌN MẪU KIỂM TOÁN 3 1 1 1 Các khái niệm cơ bản về chọ[.]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 3
1.1.KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHỌN MẪU KIỂM TOÁN 3
1.1.1.Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán 3
1.1.2.Ý nghĩa và vai trò của chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán Tài chính 4
1.1.2.1.Ý nghĩa của chọn mẫu kiểm toán 4
1.1.2.2.Vai trò của chọn mẫu kiểm toán 4
1.1.3.Các hình thức chọn mẫu 5
Mẫu thống kê 5
1.1.4.Rủi ro của việc thực hiện kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán 6
1.2.CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN 8
1.2.1.Chọn mẫu xác suất 8
1.2.1.1.Chọn mẫu ngẫu nhiên 8
1.2.1.2.Chọn mẫu hệ thống 10
1.2.2.Chọn mẫu phi xác suất 10
1.3.KỸ THUẬT CHỌN MẪU KIỂM TOÁN ĐỂ THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN 11
1.3.1.Khái quát chung về quy trình chọn mẫu 11
1.3.2.Kỹ thuật phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán 12
1.3.3.Quy trình chọn mẫu 13
1.3.3.1.Lập kế hoạch chọn mẫu 13
1.3.3.2.Chọn mẫu kiểm toán theo chương trình chọn mẫu thuộc tính 14
1.3.3.3 Chọn mẫu kiểm toán theo chương trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ 20
1.3.3.4 Kết thúc chọn mẫu 21
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TIẾN HÀNH KỸ THUẬT CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM - VACO 22
2.1.VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM – VACO 22 2.2.CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM – VACO 23 2.2.1.Vài nét khái quát về kiểm tra chi tiết trong kiểm toán Tài chính tại công
ty kiểm toán Việt Nam – VACO 23 2.2.2.Kỹ thuật chọn mẫu theo cách tiếp cận của AS/2 26 2.2.3.Các phương pháp chọn mẫu theo phân loại của Công ty kiểm toán Việt Nam – VACO 27 2.2.3.1.Chọn mẫu đại diện (Representative sampling) 27 2.2.3.2.Chọn mẫu toàn bộ (Test all items) 29
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN
KỸ THUẬT CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM – VACO 31
3.1.NHẬN XÉT CHUNG VỀ CHỌN MẪU KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM – VACO 31 3.1.1.Ưu điểm 31 3.1.2.Nhược điểm 31 3.2.CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM – VACO 33
KẾT LUẬN 35 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Mối quan hệ giữa mức đánh giá dự kiến về rủi ro kiểm soát với tỷ
lệ sai phạm cho phép 16Bảng 1.2 : Mối quan hệ giữa các nhân tố tới kích cỡ mẫu 17Bảng 1.3: Xác định hệ số tin cậy 18
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán Tài chính nói riêng hay kiểm toán nói chung chính là quá trìnhcác Kiểm toán viên (KTV) thực hiện các công việc khác nhau để tìm kiếmbằng chứng kiểm toán (BCKT) giúp cho họ đưa ra các ý kiến về đối tượngđược kiểm toán Trong kiểm toán tài chính, KTV phải thu thập đầy đủ BCKTthích hợp phục vụ cho kết luận về tính trung thực và khách quan của thông tinđược trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC) Do đó, KTV phải đối mặt vớinhiều thử thách khác nhau để thu thập các BCKT một cách hiệu quả nhất cóthể Tuy nhiên, bản thân KTV bị giới hạn bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng đếnviệc thu thập BCKT Một trong những yếu tố ấy là chi phí cho kiểm toán,KTV thường không thể có đủ chi phí cho kiểm tra toàn bộ các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh Vì vậy cần phải thực hiện chọn mẫu trong kiểm toán để khắcphục được vấn đề này Có thể nói trong mọi cuộc kiểm toán ngày nay đều sửdụng kỹ thuật chọn mẫu và đó là một trong các kỹ thuật cơ bản nhất giúp chocác KTV thu thập được BCKT một cách nhanh nhất, chính xác nhất, đảm bảotiết kiệm được chi phí và thời gian cho việc thu thập BCKT từ đó giải quyếtđược vấn đề đặt ra cho các công ty kiểm toán trong xu hướng quy mô ngàycàng gia tăng của các doanh nghiệp ngày nay đó là nâng cao chất lượng cũngnhư hiệu quả của các cuộc kiểm toán
Xuất phát từ tầm quan trọng của kỹ thuật chọn mẫu để thu thập BCKT,cùng với quá trình tìm hiểu tài liệu và đặc biệt là được sự hướng dẫn tận tìnhcủa ThS.Trần Mạnh Dũng, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Tìm hiểu chọnmẫu và ứng dụng chọn mẫu trong kiểm toán Tài chính” để làm đề án môn họckiểm toán cho mình Đề án được viết với kết cấu 3 chương :
Trang 5Chương I : Lý luận cơ bản về chọn mẫu trong kiểm toán Tài chính.
Chương II : Thực trạng về việc áp dụng chọn mẫu trong kiểm toán Tài chính
tại công ty kiểm toán Việt Nam – VACO
Chương III : Nhận xét và các giải pháp đề xuất hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu
kiểm toán trong kiểm toán Tài chính tại công ty Kiểm toán Việt Nam –VACO
Trang 6CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỌN MẪU TRONG
KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 1.1.KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHỌN MẪU KIỂM TOÁN
1.1.1.Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chọn mẫu kiểm toán (CMKT).Theo khái niệm của tác giả Nguyễn Quang Quynh và Nguyễn Thị PhươngHoa (2008) trong cuốn “Lý thuyết Kiểm toán” : “CMKT là quá trình chọnmột nhóm các phần tử hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp lớn các phần
tử hoặc đơn vị (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộngcho đặc trưng toàn bộ tổng thể”
Theo tác giả Vương Đình Huệ (2008) trong cuốn “Giáo trình kiểm toán” :
“Lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu) là áp dụng các thủ tục kiểm toán dựatrên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hoặc mộtloại nghiệp vụ sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn Lấy mẫu sẽgiúp KTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán (BCKT) về các đặctrưng của các phần tử được chọn nhằm hình thành hoặc củng cố kết luận vềtổng thể”
Còn theo khái niệm của tác giả Grant Gay và Roger Simnett trong cuốn
“Kiểm toán và các dịch vụ bảo đảm ở Australia” : CMKT là áp dụng thủ tụckiểm toán trên nhỏ hơn 100% số đơn vị tổng thể để thu thập BCKT về các đặctrưng riêng biệt của tổng thể Bằng việc thực hiện các thử nghiệm trên cácphần tử được chọn KTV có thể đưa ra kết luận về các số dư hoặc các nghiệp
vụ cấu thành tổng thể
Nhìn chung các cách định nghĩa có thể khác nhau song về bản chất đềuthống nhất ở chỗ cho rằng : CMKT là kỹ thuật chọn ra một mẫu từ các đơn vị
Trang 7chính (BCTC) sau đó áp dụng các thủ tục kiểm toán trên mẫu đã chọn rồi sửdụng kết quả thu được để suy rộng và kết luận cho toàn bộ tổng thể.
1.1.2.Ý nghĩa và vai trò của chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán Tài chính
1.1.2.1.Ý nghĩa của chọn mẫu kiểm toán
Một cuộc kiểm toán Báo cáo Tài chính được tiến hành qua rất nhiều giaiđoạn và sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau Có thể nói, mọi cuộc kiểm toánđều sử dụng kỹ thuật chọn mẫu và đó là một trong các kỹ thuật cơ bản nhất.Trong quy trình kiểm toán, kỹ thuật chọn mẫu được áp dụng khi KTV tiếnhành các thử nghiệm kiểm toán bao gồm thử nghiệm kiểm soát (TNKS) vàthử nghiệm cơ bản (TNCB) Đối với TNKS, KTV chọn mẫu và kiểm tra đểđánh giá mức rủi ro kiểm soát của Doanh nghiệp Với thử nghiệm này, việcchọn mẫu thiên về chọn mẫu thuộc tính để xác định tỉ lệ các phần tử có đặcđiểm đi lệch hướng của tổng thể, cụ thể là các nghiệp vụ bị lệch lạc so với cácchính sách kiểm soát quy định trong doanh nghiệp Sau đó, KTV so sánh tỉ lệnày với tỉ lệ chệch hướng cho phép của tổng thể để xem xét có chấp nhậnmức rủi ro kiểm soát đã đánh giá ban đầu hay không Còn đối với TNCB,KTV tiến hành chọn mẫu để kiểm tra và kết luận là có tồn tại sai sót trọng yếuhay không Với thử nghiệm này, việc chọn mẫu lại được tiến hành trên cơ sởtiền tệ để xác định sai phạm ước tình bằng tiền
CMKT là một trong những kỹ thuật nhằm thu thập bằng chứng để đưa rakết luận về Báo cáo Tài chính vì vậy cũng cần đảm bảo yêu cầu đối vớiBCKT là thu thập được đầy đủ bằng chứng và các bằng chứng phải có hiệulực Vì vậy, việc thực hiện kỹ thuật này sao cho hiệu quả nhất cũng phụ thuộcnhiều vào phán đoán nghề nghiệp của KTV
1.1.2.2.Vai trò của chọn mẫu kiểm toán
Trang 8Để đưa ra ý kiến trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính, KTV phải thuthập đầy đủ BCKT có hiệu lực cho kết luận của mình Trong khi đó quy môcủa đối tượng kiểm toán ngày càng lớn Số lượng nghiệp vụ có iên quan đến
số dư hay số phát sinh trên Báo báo tài chính lên tới hàng chục nghìn thậm chíhàng trăm nghìn và con số này sẽ ngày càng tăng hơn nữa khi quy mô cácdoanh nghiệp tăng lên Xét trên phương diện kinh tế, nếu kiểm toán toàn diệnthì sẽ không hiệu quả vì mất nhiều công sức, chi phí và thời gian Vì thế, đểđạt được mục tiêu trong phạm vi cho phép của cuộc kiểm toán, sử dụng kỹthuật chọn mẫu sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho cuộc kiểm toán
Hơn nữa, việc thực hiện kiểm tra trên tất cả các khoản mục chưa chắc đãđem lại kết quả chắc chắn, chính xác tuyệt đối vì Báo cáo tài chính cũng chưachắc phản ánh chính xác toàn bộ hoạt động của đơn vị Trong khi đó nhữngngười quan tâm đến Báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng không có nhucầu phải có được con số chính xác tuyệt đối mà họ chỉ quan tâm đến thựctrạng tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó, bằng chứng mà KTV thu đượckhông phải là duy nhất mà nó còn được bổ sung từ các nguồn khác trong quátrình kiểm toán Báo cáo tài chính
Vì vậy, xét trên nhiều khía cạnh thì áp dụng kỹ thuật chọn mẫu tỏ ra hiệuquả vì với số lượng thích hợp, với tính đại diện cao của mẫu chọn, KTV hoàntoàn có thể bảo đảm chất lượng của cuộc kiểm toán với chi phí thấp hơn rấtnhiều so với kiểm toán toàn bộ Có thể nói, kỹ thuật kiểm toán có vai trò ngàycàng quan trọng và nó ngày càng dành được nhiều sự quan tâm đặc biệt làtrong kiểm toán hiện đại
1.1.3.Các hình thức chọn mẫu
Mẫu thống kê
Mẫu thống kê là mẫu chọn được do việc áp dụng các phương pháp toán
Trang 9rủi ro cũng như phạm vi cần thiết để hạn chế rủi ro một cách hệ thống.Vì vậy,chọn mẫu thống kê cho phép KTV tính toán các khả năng rủi ro và xác địnhkích cỡ mẫu phù hợp để hạn chế rủi ro ở mức cho phép.
Mẫu thống kê có hai đặc điểm cơ bản là:
Thứ nhất, Các phần tử trong mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên.
Thứ hai, Mẫu thống kê là kết quả của việc sử dụng lý thuyết xác suất thống
kê trong đó bao gồm cả đánh giá kết quả mẫu và định lượng được rủi ro.Mẫu thống kê được sử dụng trong trường hợp số lượng đơn vị trong tổngthể lớn và trong kiểm toán hiện đại thường được bổ trợ bởi các phần mềmchọn mẫu có chứa các phép toán thống kê
Mẫu phi thống kê
Ngược lại với mẫu thống kê, mẫu phi thống kê là kết quả của quá trìnhchọn mẫu trong đó hoàn toàn không sử dụng phương pháp toán học nào mà
áp dụng xét đoán của KTV Vì vậy, khi chọn mẫu phi thống kê, KTV khôngđịnh lượng được rủi ro của việc chọn mẫu và việc đánh giá là dựa trên phánđoán của KTV
Tất nhiên, việc quyết định chọn mẫu thống kê hay phi thống kê cũng đượcdựa trên xét đoán của KTV Tùy từng trường hợp cụ thể, KTV áp dụng chọnmẫu phù hợp theo phán đoán nghề nghiệp của mình
1.1.4.Rủi ro của việc thực hiện kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán
Khi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu, do chỉ tiến hành kiểm tra trên các nghiệp
vụ được chọn để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể nên có khả năng KTV
đưa ra ý kiến không chính xác Có hai loại rủi ro thường gặp là rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu
Rủi ro chọn mẫu
Trang 10Rủi ro chọn mẫu là khả năng kết luận của KTV dựa trên kiểm tra mẫu sailệch so với kết luận mà KTV đạt được nếu kiểm tra trên toàn bộ tổng thể khi
áp dụng cùng một thủ tục
Rủi ro chọn mẫu xảy ra do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm soát thấp hơn so với thực tế (đối
với TNKS) hoặc cho rằng không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có(đối với TNCB) Việc đánh giá này ảnh hưởng đến tính hiện hữu do vậy sẽdẫn đến KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không chính xác
Thứ hai, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm soát cao hơn so với thực tế (đối với
TNKS) hoặc cho rằng có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là không có (đốivới TNCB) do vậy KTV phải thu thập thêm bằng chứng để chứng minh kếtluận ban đầu là không đúng Công việc này làm tăng khối lượng công việccủa KTV và dẫn đến giảm hiệu quả của cuộc kiểm toán
Để khắc phục và giảm thiểu rủi ro này thì KTV có thể tăng kích cỡ mẫuchọn
Rủi ro không chọn mẫu
Rủi ro không chọn mẫu là khả năng KTV đi đến kết luận sai lầm về tổng thể kiểm tra vì các nguyên nhân không liên quan đến cỡ mẫu
Nguyên nhân gặp phải rủi ro này có thể quy về ba nhóm nguyên nhân chủyếu sau :
- Do đánh giá không đúng về rủi ro tiềm tàng: KTV đánh giá sai lầm về
rủi ro tiềm tàng nên cho rằng ít có sai phạm trọng yếu tồn tại trong Báo báotài chính Vì vậy có xu hướng giảm quy mô kiểm toán
- Do đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát: Đây là nguyên nhân có
liên quan đến việc kiểm toán viên quá tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội
bộ (KSNB) trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai
Trang 11phạm Khi đó KTV có xu hướng giảm quy mô mẫu kiểm toán nên có khảnăng bỏ sót các sai phạm.
- Do lựa chọn thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc
kiểm toán không hợp lý Nguyên nhân này liên quan đến việc KTV áp dụngthủ tục trên mẫu được chọn không phù hợp hoặc do việc tiến hành các thủ tụcnày không thỏa đáng nên không phát hiện hết được các sai phạm
Để khắc phục và giảm thiểu rủi ro này trong quá trình kiểm toán phảithực hiện tốt việc lập kế hoạch cũng như giám sát quá trình thực hiện các thửnghiệm một cách chặt chẽ
1.2.CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN
1.2.1.Chọn mẫu xác suất
Phương pháp chọn mẫu xác suất là phương pháp trong đó các phần tửđược lựa chọn một cách ngẫu nhiên vào mẫu và phương pháp này sử dụng lýthuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm cả việc định lượngrủi ro lấy mẫu
Phương pháp này có đặc trưng là tính khách quan vì mọi phần tử có cơ hộinhư nhau để được chọn vào mẫu Tuy nhiên kết quả chọn mẫu sẽ là một mẫukhông thiên lệch chứ chưa chắc đã mang tính đại diện vì vậy có rủi ro là mẫuđược chọn không chứa đựng đặc trưng của tổng thể Tuy nhiên rủi ro này cóthể được đo bằng công thức thống kê và căn cứ vào đó KTV có thể có biệnpháp làm giảm rủi ro này đến mức cho phép
Phương pháp chọn mẫu xác suất có thể được sử dụng cho cả chọn mẫuthống kê và chọn mẫu phi thống kê Tuy nhiên, chọn mẫu phi thống kê ítdùng phương pháp chọn mẫu xác suất vì trong trường hợp này kiểm toán viên
sử dụng xét đoán nghề nghiệp sẽ hiệu quả hơn
Các kỹ thuật sử dụng khi chọn mẫu xác suất bao gồm chọn mẫu ngẫunhiên và chọn mẫu hệ thống
Trang 121.2.1.1.Chọn mẫu ngẫu nhiên
Chọn mẫu dựa trên Bảng số ngẫu nhiên.
Chọn mẫu dựa trên Bảng số ngẫu nhiên là một trong những phương phápđơn giản và thông dụng nhất dùng để chọn mẫu ngẫu nhiên Bảng ngẫu nhiên
là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếp dưới dạng cột
và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi ô là một con số ngẫu nhiên gồm 5 chữ số.Quy trình sử dụng Bảng số ngẫu nhiên qua 4 bước:
Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất
tức là thực hiện đánh số cho các phần tử trong tổng thể Trong trường hợp cácphần tử trong tổng thể đã được đánh số trước một cách phù hợp thì KTV sẽ sửdụng ngay kết quả đánh số này Ngược lại, nếu phần tử trong tổng thể chưađược đánh số trước hoặc đã đánh số nhưng không phù hợp, KTV cần xâydựng một hệ thống đánh số cho tổng thể
Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với tổng thể Sau
khi đã tiến hành đánh số cho đối tượng chọn mẫu, KTV thiết lập mối quan hệcủa các chữ số mã hóa đó với các con số trong Bảng số ngẫu nhiên Có 3 khảnăng xảy ra là con số mã hóa có số chữ số lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn 5 Tùytừng trường hợp, KTV quy định mối quan hệ cho phù hợp
Bước 3: Lập hành trình sử dụng Bảng là lập đường đi của các chữ số mà
KTV sẽ sử dụng trong một bảng KTV có thể lựa chọn theo hướng từ trênxuống dưới hoặc từ dưới lên trên nếu theo cột và từ phải qua trái hoặc từ tráiqua phải nếu theo hàng Cách lựa chọn tùy thuộc vào KTV nhưng phải đượcxác định từ trước và nhất quán trong suốt quá trình chọn mẫu
Bước 4: Chọn điểm xuất phát Sau khi đã có hướng đi, KTV xác định
điểm xuất phát và điểm xuất phát này là hoàn toàn ngẫu nhiên, không theoquy luật nào cả
Trang 13Trong quá trình chọn mẫu có thể KTV sẽ gặp phải mẫu đã gặp và đãđược đưa vào mẫu rồi khi đó sẽ có 2 cách xử lí : Một là bỏ qua mẫu, khôngchấp nhận mẫu lặp lại và thay bằng mẫu khác Hai là chấp nhận mẫu lặp lại.
Trang 14Chọn mẫu theo chương trình máy tính.
Chọn mẫu theo chương trình máy tính là phương pháp trong đó chươngtrình chọn mẫu ngẫu nhiên đã được thiết kế sẵn trong máy tính KTV chỉ cầnthực hiện đánh số cho tổng thể chọn mẫu rồi xây dựng mối liên hệ với các con
số ngẫu nhiên trong chương trình máy tính sau đó chương trình sẽ tự chạy vàcho kết quả các đơn vị được chọn vào mẫu
1.2.1.2.Chọn mẫu hệ thống
Chọn mẫu hệ thống là phương pháp chọn sao cho chọn được các phần tử
có khoảng cách đều nhau Phương pháp này xác định các mẫu một cách máymóc trên cơ sở khoảng cách mẫu (k) Khoảng cách này bằng Tổng kích cớmẫu chia cho số phần tử cần chọn Sau khi tính khoảng cách mẫu, việc chọnmẫu được bắt đầu từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn Cứ sau mỗikhoảng bằng khoảng cách mẫu sẽ có một phần tử được chọn Phương phápnày đơn giản tuy nhiên có hạn chế là mẫu được chọn không đại diện màthường có tính thiên lệch Để khắc phục, KTV có thể sử dụng nhiều điểm xuấtphát khác nhau
1.2.2.Chọn mẫu phi xác suất
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là phương pháp trong đó không sửdụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu hay đánh giá rủi rolấy mẫu Với phương pháp này, các phần tử không có cơ hội như nhau để cómặt trong mẫu và phương pháp này chỉ áp dụng trong chọn mẫu phi thống kê
và không dùng được trong chọn mẫu thống kê Bằng khả năng nghề nghiệp vàphán đoán thì trong những trường hợp cụ thể áp dụng chọn mẫu phi thống kê
có thể mang lại hiệu quả hơn
Các kỹ thuật sử dụng khi chọn mẫu phi xác suất bao gồm chọn mẫu theo
lô (khối), chọn mẫu bất kỳ, chọn mẫu xét đoán
Trang 15Chọn mẫu theo lô (khối): Việc chọn mẫu theo lô được áp dụng trong
trường hợp KTV đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và sốlượng khối là không quá lớn Chẳng hạn KTV chọn ra tất cả các nghiệp vụ chitrong quý IV để kiểm tra rồi suy rộng kết quả cho cả năm Phương pháp nàyphù hợp trong điều kiện tình hình doanh nghiệp trong năm ổn định, không cóbiến động lớn
Chọn mẫu bất kì: Chọn mẫu bất kì là phương pháp chọn mẫu hoàn toàn
vô tư và tất cả các phần tử không kể bản chất, quy mô, thời điểm đều có cơhội được chọn Để tiến hành phương pháp này, KTV phải hoàn toàn kháchquan và đặc biệt không để thói quen của mình làm ảnh hưởng đến tính kháchquan đó
Chọn mẫu xét đoán: Chọn mẫu xét đoán được sử dụng rất nhiều và chủ
yếu là trong trường hợp KTV cảm thấy có yếu tố bất thường trong đối tượngkiểm toán
1.3.KỸ THUẬT CHỌN MẪU KIỂM TOÁN ĐỂ THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN
1.3.1.Khái quát chung về quy trình chọn mẫu
Chọn mẫu trong kiểm toán áp dụng cho cả thử nghiệm kiểm soát và thửnghiệm cơ bản Việc thực hiện chọn mẫu được thực hiện theo hai loại chương
trình là chương trình chọn mẫu thuộc tính và chương trình chọn mẫu theo đơn
vị tiền tệ.
Chương trình chọn mẫu thuộc tính thường được sử dụng trong thử nghiệmkiểm soát, dùng để ước tính tỉ lệ các phần tử trong tổng thể có một thuộc tínhnhất định Thuộc tính mà KTV thường quan tâm ở đây là những sai phạm liênquan tới việc không tuân thủ các quy định kiểm soát Do đó thông qua quátrình ước tính, KTV có thể xác định tỷ lệ sai phạm tối đa và so sánh với tỷ lệ
Trang 16sai phạm cho phép để quyết định có chấp nhận đánh giá ban đầu về rủi rokiểm soát hay không.
Chương trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ thường được sử dụng trong thửnghiệm cơ bản, dùng để xem xét khả năng có tồn tại sai sót trọng yếu trongđối tượng khảo sát hay không Chương trình này khá đơn giản về mặt thống
kê và nó đem lại một kết quả dưới dạng tiền
Trong chọn mẫu kiểm toán, dù tiến hành chọn mẫu theo chương trình nàothì cũng phải thực hiện theo một quy trình nhất định
1.3.2.Kỹ thuật phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán
Trong một tổng thể lớn bao gồm nhiều phần tử, giữa các phần tử bao giờcũng có những đặc trưng riêng Tổng thể càng lớn, biên độ biến động về đặctrưng giữa các phần tử càng lớn Vì vậy, khi chọn mẫu KTV sử dụng kỹ thuậtphân tổ để giảm bớt biên độ biến động này nhằm giúp cho quá trình chọn mẫuđược chính xác hơn
Kỹ thuật phân tổ là kỹ thuật phân chia tổng thể lớn thành các tổng thể con
có đặc trưng gần giống nhau Vì vậy các tổng thể con có tính ổn định hơn sovới tổng thể lớn và khi áp dụng chọn mẫu kiểm toán có thể áo dụng trên cáctổng thể con để giảm bớt kích cỡ mẫu đồng thời giảm rủi ro chọn mẫu xuốngmức có thể chấp nhận được Phân tổ được thực hiện trước khi tính toán kích
cỡ mẫu và chọn các phần tử để áp dụng thủ tục kiểm toán Việc đánh giá kếtquả chọn mẫu cũng có thể được đánh giá riêng lẻ cho từng tổng thể hoặc kếthợp ước lượng để suy ra đặc trưng của toàn bộ tổng thể lớn
Kỹ thuật phân tổ có ưu điểm là giúp nâng cao tính đại diện cho mẫu đượcchọn hơn đồng thời KTV có thể thực hiện chọn mẫu và vẫn đảm bảo đượctính trọng yếu
Trang 171.3.3.Quy trình chọn mẫu
1.3.3.1.Lập kế hoạch chọn mẫu
Công việc lập kế hoạch chọn mẫu kiểm toán thường được tiến hành trướckhi tiến hành chọn mẫu để đảm bảo mục tiêu của cuộc kiểm toán Lập kếhoạch chọn mẫu, KTV thường xem xét các vấn đề:
Thứ nhất, xác định mục tiêu của thử nghiệm kiểm toán: Tùy từng trường
hợp là TNKS hay TNCB mà KTV áp dụng thủ tục, chương trình chọn mẫuthuộc tính hay chương trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ Đối với từng trườnghợp, việc xác định mục tiêu của thử nghiệm là hết sức quan trọng
Đối với thử nghiệm kiểm soát : Mục tiêu của TNKS là thu thập bằng
chứng về sự tồn tại và hoạt động hữu hiệu của hệ thống KSNB Thông qua đóKTV khẳng định mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá trong giai đoạnlập kế hoạch Nếu thông qua chọn mẫu, KTV có cơ sở để tin rằng mức độ rủi
ro kiểm soát ban đầu là không thỏa đáng thì KTV có thể thay đổi mức độ đó
Và ngược lại, khi KTV thấy rằng mức độ rủi ro đó là hợp lý thì mức độ đó sẽđược duy trì Khi xác định mục tiêu, KTV cần chú ý xây dựng mục tiêu mộtcách rõ rang, cụ thể hóa các mục tiêu thành các cơ sở dẫn liệu, và đề ra cácmục tiêu có khả năng thực hiện được
Đối với thử nghiệm cơ bản: Mục tiêu chọn mẫu trong trường hợp này
là xác định sai số ước tính trong tổng thể kiểm toán và quyết định là tổng thểkiểm toán có được trình bày trung thực và hợp lý hay không
Thứ hai, xác định tổng thể để chọn mẫu kiểm toán : Tổng thể là toàn bộ
dữ liệu mà từ đó KTV tiến hành chọn mẫu và cũng là đối tượng mà KTVmong muốn đưa ra kết luận Vì vậy, cần phải đảm bảo tính đầy đủ và phù hợpcủa tổng thể kiểm toán
Thứ ba, xác định khả năng thực hiện phân tổ của tổng thể: Bước lập kế
hoạch này có vai trò quan trọng đặc biệt với các TNCB Trong bước này,
Trang 18KTV thực hiện phân chia tổng thể thành các tổng thể con có đặc tính tương tựnhau Khi thực hiện TNCB, mỗi số dư hay số phát sinh cần kiểm toán thườngđược phân tổ thành các nhóm theo đơn vị tiền tệ Việc phân tổ thường diễn ranhất là với các nghiệp vụ có số phát sinh lớn, trọng yếu và các nghiệp vụ cóđặc trưng riêng lẻ, đặc biệt.
Thứ tư, xác định đơn vị của mẫu chọn: Việc xác định một đơn vị mẫu
chọn cũng hết sức quan trọng vì vấn đề đặt ra là đơn vị như thế nào thì đượctính là một mẫu Thông thường đó là một nghiệp vụ (đặc biệt là với TNKS,mỗi dấu hiệu của sự phê chuẩn liên quan đến một nghiệp vụ được tính là mộtđơn vị) hoặc một số dư trên sổ chi tiết (chẳng hạn trên sổ chi tiết khoản phải thu,mỗi số dư khoản phải thu ứng với một khách hàng được tính là một đơn vị)
1.3.3.2.Chọn mẫu kiểm toán theo chương trình chọn mẫu thuộc tính
Chọn mẫu thuộc tính xét trên phương diện thống kê khá phức tạp Sau khixác định được mục tiêu và tổng thể để chọn mẫu một cách phù hợp, KTV cầntiến hành các bước công việc như sau:
Xác định các thuộc tính và điều kiện sai phạm: Trong chọn mẫu thuộc
tính, việc xác định thuộc tính và điều kiện sai phạm là hết sức quantrọng.Thuộc tính là những đặc tính mà nó chỉ ra rằng một biện pháp KS đãđược thực hiện Khi một nghiệp vụ mà không có đặc tính như vậy thì đượcgọi là sai phạm Tuy nhiên không phải mọi sự khác biệt so với các quy chếKSNB đều được coi là sai phạm vì cần phải xem xét nó dưới giác độ tính hiệulực, hiệu quả của hệ thống KSNB Vì vậy xác định như thế nào được coi là saiphạm cũng hết sức quan trọng KTV cần sử dụng nhận định nghề nghiệp củamình để xác định thuộc tính và điều kiện sai phạm
Xác định qui mô mẫu: Qui mô mẫu là số lượng phần tử được chọn để áp
dụng các thủ tục kiểm toán Xác định quy mô mẫu dựa vào rất nhiều yếu tố
Trang 19quan hệ giữa 4 nhân tố : Rủi ro của việc đánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp, tỉ
lệ sai phạm cho phép, tỉ lệ sai phạm kì vọng trong tổng thể và qui mô tổngthể
+ Mức rủi ro của việc đánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp: Như đã đề cập
ở phần trước, rủi ro chọn mẫu là khả năng KTV đưa ra kết luận dựa trên mẫukhác với kết luận nếu dựa trên toàn bộ tổng thể Rủi ro này có thể là khả năngKTV đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn hoặc cao hơn thực tế Trong chọnmẫu theo chương trình, KTV thường quan tâm tới khái niệm rủi ro của việcđánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp Đó là khả năng tỉ lệ sai phạm thực tế trongtổng thể lớn hơn tỷ lệ sai phạm gắn với yếu tố rủi ro cho phép Chẳng hạn, khiKTV xác định mức rủi ro của việc đánh giá rủi ro là 10% có nghĩa là KTVchấp nhận sai lệch giữa tỉ lệ sai phạm thực tế và tỉ lệ sai phạm cho phép tối đa
là 10%
Nguyên nhân của những rủi ro này là do KTV chưa có đủ hiểu biết cầnthiết về tổng thể Có nghĩa là những rủi ro này sẽ giảm nếu KTV thu thậpthêm nhiều thông tin về tổng thể thông qua việc tăng kích cỡ mẫu Do đó, khiKTV càng hiểu rõ về tổng thể thì khả năng đưa ra kết luận sai lầm sẽ cànggiảm xuống Vì vậy quy mô của mẫu tăng giúp hiểu biết của KTV về tổng thểđược tăng cường do đó rủi ro sẽ giảm xuống
+ Tỷ lệ sai phạm cho phép: Như đã đề cập ở phần trên, tỷ lệ sai phạm cho
phép là tỷ lệ sai phạm lớn nhất mà KTV có thể chấp nhận được trong tổng thể
để không thay đổi mức rủi ro KS ban đầu Khi các yếu tố khác không đổi, tỉ lệsai phạm cho phép càng tăng thì quy mô mẫu càng giảm và ngược lại
Để xác định tỉ lệ sai phạm cho phép, KTV căn cứ vào hai nhân tố, đó là:Đánh giá dự kiến ban đầu về rủi ro kiểm soát và mức bảo đảm cần thiết về kếtquả từ mẫu Ta có thể dễ dàng thấy được nếu đánh giá dự kiến ban đầu về rủi
Trang 20nếu yêu cầu về sự bảo đảm kết quả từ mẫu càng cao thì tỉ lệ sai phạm chophép càng phải thấp.
Mức rủi ro kiểm soát được đánh giá dự
Bảng 1.1 : Mối quan hệ giữa mức đánh giá dự kiến về rủi ro kiểm soát
với tỷ lệ sai phạm cho phép
(Nguồn: Nghiên cứu thủ tục kiểm toán – AICPA)
+ Tỷ lệ sai phạm kỳ vọng trong tổng thể: Tỉ lệ này bằng số sai phạm kỳ
vọng trong tổng thể chia cho tổng số đơn vị trong tổng thể Việc xác định sốsai phạm kì vọng trong tổng thể được thực hiện bởi đánh giá mang tính xétđoán của KTV dựa trên kinh nghiệm kiểm toán các năm trước hoặc thông tin
từ KTV tiền nhiệm Việc đánh giá tỉ lệ sai phạm kì vọng trong tổng thể rấtquan trọng Khi KTV đánh giá tỉ lệ sai phạm kì vọng trong tổng thể lớn hơn tỉ
lệ sai phạm mà KTV có thể chấp nhận được thì KTV sẽ thôi không thực hiệnTNKS nữa đồng thời thay đổi mức độ rủi ro kiểm soát đã đánh giá ban đầu.Trong trường hợp tỉ lệ sai phạm kì vọng nhỏ hơn tỉ lệ sai phạm cho phép, quy
mô mẫu có quan hệ tỉ lệ thuận với tỉ lệ sai phạm kì vọng trong tổng thể
+ Quy mô tổng thể: Nhìn chung, khi quy mô tổng thể tăng thì quy mô
mẫu cũng tăng tương ứng Tuy nhiên, tốc độ tăng của quy mô tổng thể lớnhơn rất nhiều tốc độ tăng của mẫu