Khái niệm Những phân tích về sự ra đời và phát triển của tài chính trong phần trước đã cho thấy: hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động phân phối lần đầu vàphân phối l
Trang 1Họ và tên: sithixay PHIMMASAN
Mã học viên: CH230924
Lớp : Quản lý kinh tế và chính sách 23 Q
Giáo viên : PGS.TS Mai Văn Bưu
BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN QUẢN LÝ DỰ ÁN CHUYÊN ĐỀ 1: NÊU VÀ PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ ĐỀ ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
1 Khái niệm
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực tàichính, lao động , tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trựctiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chấtkỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ củangành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tưtrực tiếp và gián tiếp
Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó người đầu tưkhông trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra
Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếptham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra Nó chia ra thành 2 loại đầu tưchuyển dịch và đầu tư phát triển Trong đó:
• Nâng cấp các hoạt động đó vì mục tiêu phát triển thực chất Nó tạo ra củacải vật chất cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm Đầu tư chuyển dịch
là hoạt động đầu tư mà chủ đầu tư bỏ tiền để mua lại mọ ̂t số lượng đủ lớn cổphiếu của một doanh nghiệp nhằm tham gia nắm quyền điều hành hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp đó
• Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản, tạo ranhững năng lực sản xuất , phục vụ mới bao gồm: xây dựng các công trình mới,các hoạt động dịch vụ mới, cải tạo mở rộng cải thiện đời sống người lao động
Có thể nói đầu tư phát triển đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiềunăm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khálớn và vốn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư(viết tắt là
Trang 2đủ để các lợi ích thu được tương ứng
Đầu tư có thể được phân ra nhiều loại tư theo giác độ nghiên cứu Đầu tư
có thể được phân loại những tiêu thức sau đây:
- Theo mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào đối tượng mà mìnhbỏ vốn
- Theo mục tiêu đầu tư
- Theo nội dung kinh tế
- Theo thơi gian sử dụng
- Theo lĩnh vực sử dụng
2 Nội dung kinh tế
Đầu tư được chia thành 3 loại :
- Đầu tư lực lượng lao động nhằm mục đích tăng về lượng và chất, yếu tốquan trọng nhất của quá trình kinh doanh, đó là sức lao đọng thông qua việctruyển mộ, thuê muốn và đào tạo chuyên gia cán bộ quản lý và công nhân
- Đầu tư vào tài sản lưu động : nhằm bảo đảm sự liên tục nhịp nhàng củaquá trình sản xuât kinh doanh, đó là : tư liẹu sản xuất giá trị nhỏ, nguyên vậtliệu, tiền tệ phục vụ cho quá trình kinh doanh
- Đâu tư xây dựng cơ bản: nhằm đào tạo ra hoặc nâng cao mức độ hiệnđại tài sản cố định của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng,các công trình hạ tầng và đâu tư cho thiết bị máy móc,công nghệ, bằng phátminh, mua bản quyền, bí quyết công nghệ
Đầu tư xây dựng cơ bản vai trò quyết định, nó gắn liên với việc nângcao những lúc sản xuất của doanh nghệp, đỏi hỏi một khoản vốn lơn và cầnđược tính toán một cách chuẩn xác, nếu không sẽ dân đến sự lãng phí tiền củarất lớn
3 Mục tiêu đâu tư
Theo tiêu thức này đầu tư được chia thành :
-Đầu tư mới : là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một công trìnhmới hoàn toàn
- Đầu tư mở rộng : là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ đã hoạtđộng để nâng cao công suất của công trình cũ hoặc tăng thêm mặt hàng, tăngthêm khả năng phục vụ cho nhiều loại đổi tượng so với nhiệm vụ ban đầu Đầu
tư này gắn liền với mua sắm thiết bị mới, xây dựng các phân xưởng mới hoặc
Trang 3mở rộng các phân xưởng chính hiện có, xây dựng thêm các công trình phuj trợ
và phục vụ mới
- Đầu tư cải tạo công trình hoạt động : đầu tư nay gắn liên với trangbị lại và tổ chức lại toàn bộ hãy một bộ phần doanh nghiệp đang hoạt động,được thực theo một thiết kể duy nhất, không bảo gồm việc xây dựng mới hãymở rộng các bộ sản xuất chính đang hoạt động hoặc có thể là xây dựng mớihoặc mở rộng các công trình phục vu hãy phụ trợ Trong khi cải tạo, có thể thaythể thiết bị đã hao mòn vô hình hoặc hữu hình, cơ giới hoá và tự động hoá sảnxuất nhằm bảo đảm công suất thiết kế, trên cơ sở quy trình công nghệ và kỹthuật mới hiện đại hoá hoàn thiện trình độ tổ chức sản xuất hoặc nhằm mục đíchthay đổi mặt bảng sản xuất của công trình hoặc tổ chức sản xuất sản phẩm mớitrên mặt bảng sản xuất hiện tại hoặc có thể thay thế các phân xưởng sản xuấtcông trình phụ trợ phục vụ hiện có nếu xét thấy việc hoạt động của nó về saukhông còn hợp lý nữa Cải tạo công trình hiện có còn bảo gồm việc nhằm tăngthêm mặt hàng hoặc tăng khả năng phục vụ, cao chất lượng sản phẩm với chiphí thấp va thời gian tiến hành cải tạo phải ngắn hơn so với thời giàn xây dựngmới, mở rộng công trình tương tư hoặc nhằm xây dựng các công trình bảo vệcân bằng sinh thái và làm sách môi trường trong khu vực có công trình đanghoạt động
Đầu tư hiện đai hoá công trình đang sử dựng : gồm các đầu tư đang thayđổi, cải tiền các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn(hữu hình
và vô hình) trên cơ sở kỹ thuật mới nhằm nâng cao các thông số kỹ thuật của cácthiết bị đó Việc hiện đại hoá có thể tiến hành một cách độc lập hoặc tiến hànhđồng thời với việc cải tạo Thông thương hiện đại hoá và cải tạo tiến hành độngthời vì vậy tính toán đâu tư chỉ xem trong 3 trương hợp : đầu tư mới, đầu tư mởrộng và đẩu tư cải tạo, hiện đai hoá
4 Các mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào đổi tượng mà mình bỏ vốn.
Theo tiêu thức này đâu tư chia thành 3 loại:
- Đầu tư gián tiếp : là đầu tư mà người bò vốn và người sử dựng vốnkhông phải là một Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tài chính vì đầu tưnay được thực hiện bằng cách mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, chứng
Trang 4phương thức đầu tư này, người bò vốn không chức tiếp tham gia quản lý kinhdoanh
- Cho vay ( tin dụng ) : đây là hình thức dưới dạng cho vay kiểm lời qualái suất tiền cho vay
- Đầu tư trực tiếp : là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sửdụng vốn là một chủ thể
Người đầu tư có thể là nhà nước thông qua các cơ quan doanh nghiệp nhànước, cũng có thể là tư nhân hoặc lập thể các công ty tư nhân, công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn
Nếu đâu tư trực tiếp bằng vốn của nước ngoài thì phải tuần theo luật đầu tưnước ngoài tại việt nam Theo luật này đầu tư trực tiếp của nước ngoại tại việtnam có thể tiến hành theo 3 hình thức:
- Xí nghiệp hoặc công ty liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luậtviệt nam Công ty liên doanh do 2 bên cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùnghoàn lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro Tỷ lệ phân chia lợi nhuận, rủi ro lấy theo
tỷ lệ góp vốn Tỷ lệ góp vốn pháp định của viết nam không được thấp hơn 30%vốn pháp định cuar công ty liên doanh Đây là hình thức đầu tư mới như đã xemxét ở phân trên
- Công ty 100% vốn nước ngoài : công ty này cùng có tự cách pháp nhântheo luật pháp việt nam, công ty tư mình quản lý, chịu sự kiểm soát của cơ quannhà nước quản lý đầu tư nước ngoài, được hưởng các quyền lợi và phải thựchiện các nghĩa vụ gui trong giấy phép đầu tư
Đầu tư trực tiếp đến lượt mình được chia thành :
- Đầu tư dịch chuyển là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn mua lạimột số cổ phần đủ lớn để nắm được quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp.Trong hình thức đầu tư này chỉ có sự thay đổi của quyền sơ hữu tài san đượcdịch chuyển tư tay người này sang tay người khác không có sự gia tăng tài sảncủa các doanh nghiệp
- Đầu tư phát triển : là hình thức đầu tư trong đó tạo dừng nen nhữngnăng lực mới ( về lượng hãy về chất ) cho các hoạt đống sản xuất, dịch vụ đểlàm phương tiện sinh lời Đầu tư phát triển có vi trí đặc biệt quan trọng, nó làbiệu hiện cụ thể của tài sản xuất mở rộng là biện pháp chủ yếu để cung cấp việclàm co người lao động, là tiền để cho đầu tư tài chính và đầu tư dịch chuyển
Trang 55 Đầu tư theo thời gian sử dựng
Theo tiêu thức này chia thành 3 loại :
- Đầu tư ngắn hạn
- Đầu tư trung hạn
- Đầu tư dài hạn
6 Đầu tư còn được phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Theo tiêu thức này đầu tư được chia thành: đầu tư cho nghiên cứu khoahọc, đầu tư cho san xuất, đầu tư cho quản lý
7 Theo chủ đầu tư
Theo tiêu thức này đầu tư được chia thành đầu tư Nhà Nước và đầu tư cácthành phần kinh tế khác
- đầu tư nhà nước là : đầu tư mà Nhà nước là người bỏ vốn nhằmthực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triển
- Đầu tư của các thành phần kinh tế khác là đầu tư mà chủ đầu tưthuộc các thành phần kinh tế khác
Trang 6CHUYÊN ĐỀ 2: TRÌNH BÀY PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Bài làm
1 Khái niệm
Những phân tích về sự ra đời và phát triển của tài chính trong phần trước
đã cho thấy: hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động phân phối lần đầu vàphân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị Tổng sản phẩm xã hộiđược hiểu là toàn bộ các sản phẩm do một nền kinh tế sản xuất ra và được thịtrường chấp nhận (tức là có thể tiêu thụ trên thị trường) Hoạt động phân phốigiá trị các sản phẩm xã hội được thực hiện dưới hình thái tiền tệ, nói một cách rõràng hơn, hoạt động phân phối trong tài chính là phân phối bằng tiền chứ khôngphải phân phối bằng hiện vật Hoạt động tài chính không chỉ liên quan đến việchình thành các quỹ tiền tệ mà cả việc sử dụng các quỹ tiền tệ đó một khi việc sửdụng đó lại dẫn đến việc hình thành một quỹ tiền tệ khác Ví dụ: Hoạt động trảlương cho người lao động là một hoạt động tài chính vì nó liên quan đến việcphân phối một phần giá trị các sản phẩm mà người lao động đã tạo ra Hoạtđộng trả lương làm hình thành nên quỹ tiền tệ cho người lao động Nếu ngườilao động sử dụng toàn bộ quỹ tiền tệ này để tiêu dùng bằng cách mua các hànghoá hay dịch vụ mình cần thì hoạt động sử dụng quỹ tiền tệ đó không được coi
là hoạt động tài chính Nhưng nếu người lao động trích một phần quỹ tiền tệ đóđể tích lũy hoặc để trả nợ thì hành động này làm hình thành nên một quỹ tiền tệmới (quỹ tiền tệ để tích lũy hay quỹ tiền tệ để trả nợ) và do vậy là một hoạt động
tài chính Ở đây, người lao động đã thực hiện việc "phân phối lại" quỹ tiền tệ
của mình và qua đó đã tạo ra một quỹ tiền tệ mới Qua những phân tích như vậy,
có thể thấy: sự vận động của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ giữa các quỹ tiền tệ do kết quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ này nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu hoặc tích lũy của các chủ thể kinh tế là biểu hiện bề ngoài của phạm trù tài chính.
Các quỹ tiền tệ nói trên còn được gọi là các nguồn tài chính vì chúng là
cơ sở hình thành và là đối tượng của các hoạt động tài chính Trong thực tế,nguồn tài chính có thể được gọi với các tên như vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, tiềnvốn hay trong từng trường cụ thể thì bằng các tên gọi riêng như vốn trong dân,
Trang 7vốn tín dụng, vốn ngân sách Nguồn tài chính không chỉ hình thành từ các quỹtiền tệ mà còn từ những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ.Những tài sản này khi cần có thể chuyển hóa thành tiền tệ để trở thành cácnguồn tài chính Ví dụ: nguồn tài chính của một hộ gia đình không chỉ hìnhthành từ những quỹ tiền tệ mà hộ gia đình này nắm giữ mà còn có thể hình thànhtừ các động sản và bất động sản của họ, những tài sản mà khi cần họ có thể đembán để làm tăng quỹ tiền tệ của mình Xét trên phạm vi quốc gia, nguồn tàichính hình thành không chỉ từ các quỹ tiền tệ trong nước mà còn từ các quỹ tiền
tệ huy động từ nước ngoài vào Đặc biệt, nguồn tài chính cũng không chỉ đượchiểu là bao gồm các giá trị hiện tại mà cả những giá trị có khả năng nhận đượctrong tương lai Đây là sự mở rộng rất quan trọng trong quan niệm về nguồn tàichính vì nó mở rộng giới hạn về nguồn tài chính mà mỗi chủ thể kinh tế nắmgiữ Một chủ thể kinh tế khi đưa ra các quyết định sử dụng các quỹ tiền tệ hiệntại không chỉ dựa trên nguồn tài chính mà họ hiện nắm giữ mà cả những nguồntài chính mà họ kỳ vọng sẽ có trong tương lai
Trên cơ sở những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về tài chính nhưsau:
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.
Để làm rõ hơn khái niệm tài chính, cần so sánh nó với khái niệm tiền tệ vàthương mại là các khái niệm có liên quan và có nhiều điểm tương đồng Tronghoạt động thương mại, tiền tệ đóng vai trò là vật trung gian môi giới trong traođổi hàng hoá, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được diễn ra dễ dàng vàhiệu quả hơn Tuy nhiên, trong hoạt động thương mại tiền tệ chỉ đóng vai trò làphương tiện còn hàng hoá mới là đối tượng của trao đổi Tương tự, trong tàichính, hoạt động phân phối giữa các chủ thể kinh tế được thực hiện thông quaviệc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ Biểu hiện bề ngoài của hoạt động tài chính làsự di chuyển của các dòng tiền tệ, tuy nhiên bản chất của tài chính là phân phốicác sản phẩm tạo ra trong nền kinh tế dưới hình thức giá trị Hoạt động tài chínhphải thông qua tiền tệ để phân phối giá trị nên trong tài chính, tiền tệ cũng chỉ là
Trang 8chính và thương mại là: trong thương mại, sự vận động của tiền tệ luôn gắn liềnvới sự vận động của hàng hoá và dịch vụ tham gia vào quá trình trao đổi, còn
trong tài chính sự vận động của tiền tệ là độc lập tương đối với sự vận động của hàng hoá, dịch vụ nhờ chức năng phương tiện trao đổi và phương tiện cất trữ giá
trị của tiền tệ
Cũng cần lưu ý rằng, quan điểm truyền thống về khái niệm tài chính trongrất nhiều giáo trình về Tài chính hiện nay tại Việt Nam nhấn mạnh tới các mốiquan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính Quan
điểm này nhấn mạnh rằng hoạt động tài chính thực chất là hoạt động "phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị" giữa các chủ thể kinh tế, do vậy để
hoạt động tài chính được phát triển và hiệu quả thì phải giải quyết tốt mối quan
hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối - những mối quan
hệ được xem là cơ sở quyết định cách thức phân phối các sản phẩm xã hội Vídụ: việc trả lương phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và ngườilao động Chủ doanh nghiệp muốn trả lương thấp để có lợi nhuận cao nhưng nhưvậy sẽ không khuyến khích người lao động sáng tạo ra giá trị thặng dư là cái làm
ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì vậy hoạt động trả lương chỉ hiệu quả khi giảiquyết tốt mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và người lao động Tươngtự, trong mối quan hệ đóng thuế giữa doanh nghiệp đóng thuế và nhà nước, nhànước cần cân nhắc việc đưa ra quyết định mức thuế sao cho vừa đảm bảo đápứng cho nhu cầu chi tiêu của mình, vừa phải đảm bảo khuyến khích doanh
nghiệp phát triển sản xuất để duy trì khả năng đóng thuế lâu dài Như vậy, theo quan điểm truyền thống, hoạt động tài chính hiệu quả thì phải giải quyết tốt những mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nảy sinh trong việc phân
chia lợi ích từ hoạt động phân phối tổng sản phẩm xã hội Nói một cách khác,
các hoạt động tài chính nào đảm bảo được sự công bằng trong phân chia quyền lợi nảy sinh từ hoạt động tài chính thì hoạt động tài chính đó sẽ hiệu quả và phát triển.
Các giáo trình kinh điển về tài chính tại các nước phát triển thì lại tiếp cận
khái niệm tài chính theo góc độ khác Các giáo trình này nhấn mạnh tài chính, với tư cách là một lĩnh vực khoa học, nghiên cứu về cách thức phân bổ các nguồn lực tài chính có hạn qua thời gian Mọi chủ thể kinh tế đều phải đối mặt
với sự ràng buộc về nguồn tài chính hạn chế trong khi nhu cầu sử dụng nguồn
Trang 9tài chính thì đa dạng và thường là vô hạn Chính vì vậy vấn đề đặt ra đối với cácchủ thể kinh tế là làm sao để tối ưu hóa việc phân bổ các nguồn tài chính củamình cho các nhu cầu sử dụng Hai đặc trưng quan trọng trong các quyết định tài
chính là chi phí và lợi ích của các quyết định tài chính 1/ diễn ra trong một khoảng thời gian và 2/ luôn không thể biết trước một cách chắc chắn Ví dụ: Để
quyết định đầu tư vào một dự án, doanh nghiệp phải so sánh các chi phí màmình phải bỏ ra cho dự án đó với các khoản thu dự tính từ dự án đó Toàn bộquá trình đầu tư kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định và rất khó có thểdám chắc được chính xác giá trị các khoản thu đó Ngay cả khoản chi phí phảibỏ ra cũng thường không thể dự đoán chính xác được Hơn nữa, khi đưa ra mộtquyết định tài chính, doanh nghiệp phải đánh đổi chi phí cơ hội của việc sử dụngmột nguồn lực tài chính cho những ích lợi có thể thu được từ quyết định sử dụngvốn của mình Chính sự giới hạn về nguồn lực tài chính và sự không chắc chắnvề lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính đòi hỏi các chủ thể kinh tế luônphải cân nhắc giữa chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài
chính Do vậy, để hoạt động tài chính được hiệu quả, các chủ thể kinh tế phải đánh giá được chính xác những chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính hạn chế của mình và phải kiểm soát được những rủi ro có thể nảy sinh trong quá trình sử dụng.
Sau đây là minh họa về những quyết định cơ bản mà các hộ gia đình và doanhnghiệp gặp phải trong hoạt động tài chính của mình:
Các quyết định tài chính mà một hộ gia đình sẽ gặp phải
1 Phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm
2 Lựa chọn danh mục đầu tư cho khoản tiền tiết kiệm
3 Quyết định cách thức tài trợ cho chi tiêu
4 Quản lý rủi ro gắn liền với các hoạt động tài chính của mình
Các quyết định tài chính mà một doanh nghiệp sẽ gặp phải
1 Xác định chiến lược đầu tư: lựa chọn lĩnh vực đầu tư, định hướng phát triển
2 Lập ngân sách mua sắm: lên kế hoạch chi tiêu cụ thể cho dự án đầu tư đượclựa chọn
3 Xác định cấu trúc vốn huy động: xác định tỷ lệ giữa huy động vốn thông quaphát hành cổ phần hay huy động vốn thông qua phát hành nợ
Trang 104 Quản lý vốn lưu động: quản lý khoản vốn lưu động nhằm đảm bảo cho dự ánđạt được mức lợi nhuận kỳ vọng
2 Quá trình phân tích hiệu quả tài chính
1 Những chỉ tiêu đánh giá
1.1 Suất chiết khấu
Khi phân tích các dự án đầu tư chúng ta thường thấy chúng có một đặc tínhchung đó là lợi ích và chi phí của dự án thường xuất hiện ở các thời điểm khácnhau Xuất phát từ quan điểm “một đồng hôm nay có giá trị cao hơn một đồngnhận được vào ngày mai” Điều đó có thể hiểu là lợi ích và chi phí hiện tại đượcđánh giá cao hơn lợi ích và chi phí tương lai Chính vì thế người đi vay (cầnvốn) sẳn sàng trả lãi để có quyền sử dụng vốn vay đó, còn người cho vay (dưvốn) đòi hỏi phải được trả lãi
Tiền tệ có giá trị theo thời gian: Nếu đem 1 đồng đầu tư vào ngày hôm nayvới lãi suất (r) thì sau 1 năm số tiền sẽ tăng thêm thành P1 = 1*(1 + r);
Sau 2 năm số tiền sẽ tăng thêm thành P2 = 1*(1 + r)2
Sau t năm số tiền sẽ tăng thêm thành Pt = 1*(1 + r)t
Đưa về hiện tại tất cả các khoản thu nhập trong tương lai, giá trị hiện tại củachúng lần lượt sẽ là: P1/(1 + r); P2/(1 + r)2;…… ; Pt/(1 + r)t
Nói cách khác, vốn đầu tư sẽ sinh ra lãi, tiêu dùng trong tương lai có giá trịthấp hơn hiện tại hay tiêu dùng hiện tại có giá trị cao hơn tiêu dùng tương lai
1 Xác đ nh l trình phân tích Tìm ra các nh hnh giá, t su t chi t kh u ư ịnh lộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ỷ suất chiết khấu ộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ất chiết khấu ến DA ất chiết khấu ảnh hưởng tác động đến DA ưởng tác động đến DA ng tác đ ng đ n DA ộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ến DA
2 Nh n d ng lo i d án: L a ch n mô hình phân tích phù h p nh t (th i gian hoàn v n, t su t hoàn v n n i b , t s l i ích/chi phí )ận dạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ, tỷ số lợi ích/chi phí ) ỷ suất chiết khấu ự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ất chiết khấu ọn mô hình phân tích phù hợp nhất ốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ, tỷ số lợi ích/chi phí ) ộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ỷ suất chiết khấu ốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ, tỷ số lợi ích/chi phí ) ợp nhất ợp nhất ất chiết khấu
3 Lượp nhất ng hóa các giá tr : T, NPV, IRR, B/C ịnh lộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA
4 Xem xét tác đ ng c a y u t r i ro, đi u ch nh các đ i lộ trình phân tích Tìm ra các ảnh hưởng tác động đến DA ủa yếu tố rủi ro, điều chỉnh các đại lượng ến DA ốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ, tỷ số lợi ích/chi phí ) ủa yếu tố rủi ro, điều chỉnh các đại lượng ều chỉnh các đại lượng ỉnh các đại lượng ạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ượp nhất ng
5
Đ a ra k t lu n Đ xu t nh n xét, đánh giá trên KQ phân tích ư ến DA ận dạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất ều chỉnh các đại lượng ất chiết khấu ận dạng loại dự án: Lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất
Trang 11Do đó để có thể đánh giá hiệu quả của dự án thông qua so sánh lợi ích và chi phícủa dự án ở những thời điểm khác nhau phải được đưa về cùng một thời điểm để
so sánh Có hai phương pháp được sử dụng để quy đổi giá trị của tiền tệ theothời gian gắn liền với hai thời điểm là hiện tại và tương lai thông qua suất chiếtkhấu (r) đó là:
Phương pháp tích lũy: Quy đổi giá trị đồng tiền ở các thời điểm hiện tại vềmột thời điểm nào đó ở tương lai Pt = P0 (1 + r)t
Phương pháp chiết khấu: Quy đổi giá trị đồng tiền ở các thời điểm trongtương lai về một thời điểm nào đó ở hiện tại
Po = Pt(1 + r)tTrong đó:
Pt : giá trị tiền tệ ở một thời điểm t nào đó
Po : giá trị tiền tệ ở thời điểm hiện tại (t = 0);
t : khoản thời gian qui đổi
r : lãi suất chiết khấu
(1 + r)t : hệ số tích lũy;
1/(1 + r)t : hệ số chiết khấu
Muốn tính đổi dòng tiền theo thời gian theo hai phương pháp trên cần phảihội đủ ba yếu tố đó là dòng tiền theo thời gian (NCF); thời điểm qui chiếu vàsuất chiết khấu (r), chúng ta nhận thấy rằng r càng lớn và thời gian càng dài thìhiện giá của nó càng nhỏ Như vậy thời gian và suất chiết khấu (r) có quan hệnghịch với giá trị hiện tại
Định nghĩa suất chiết khấu của dự án: Suất chiết khấu là suất sinh lời kỳvọng của nhà đầu tư đối với số vốn cần đầu tư cho dự án Nếu gọi: Bt là thunhập ở năm (t) và Ct là chi phí ở năm (t) thì lợi ích ròng qua các năm (hay còngọi là thu nhập ròng) được tính như sau:
Trang 121.2 Hiện giá thu nhập thuần (NPV)
Hiện giá thu nhập thuần là chỉ tiêu về lợi ích ròng của dự án NPV là hiệusố giữa hiện giá thực thu bằng tiền và hiện gía thực chi bằng tiền trong suốt thờigian thực hiện dự án
Trong đó:
- Bt là thu nhập ở năm (t) và Ct là chi phí ở năm (t)
- r là suất chiết khấu của dự án
- n là số năm thực hiện của dự án
Để tính giá trị hiện tại ròng của dự án ta thực hiện các bước sau:
- Dự báo ngân lưu vào (các khoản thu nhập), ngân lưu ra (các khoản chi phí) vàtính ngân lưu ròng trong thời gian hoạt động của dự án
- Xác định suất chiết khấu của dự án
1.3 Chỉ số lợi ích / Chi phí
Chỉ tiêu này thường được các nhà đầu tư sử dụng để xếp hạng các dự ánđầu tư đặc biệt là các dự án công cộng (giáo dục, y tế…) Vì những dự án nàyngười ta không tính đến lợi nhuận của dự án mà chỉ ước lượng những lợi ích màdự án mang lại cho người hưởng thụ Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có nhượcđiểm là có thể dẫn đến một quyết định sai lầm đối với các cơ hội đầu tư Tỷ sốB/C được tính bằng cách lấy hiện giá của các lợi ích/ hiện giá của các chi phítrong suốt thời gian hoạt động của dự án với suất chiết khấu là chi phí cơ hội củavốn
Công thức:
B/C = PV(lợi ích)/PV(chi phí)
Quy tắc đánh giá dự án:
- Các dự án có tỷ số B/C 1 sẽ được chấp nhận (trường hợp các dự án độc lập 1 sẽ được chấp nhận (trường hợp các dự án độc lậpvới nhau)
- Các dự án có tỷ số B/C < 1 thì bác bỏ
n n
r
C B r
C B r
C B r
C
B
PV
0 1
1 1 0 0 0
1 1
1 1
n n
r
C B r
C B r
C B C B NPV
0 1
1 1 0 0
1 1
1
Trang 131.4 Chỉ suất sinh lời nội bộ IRR
Suất sinh lời nội bộ (IRR) là suất chiết khấu mà tại đó hiện giá dòng tiềnròng đã xác định của dự án bằng không (NPV = 0; r* = IRR)
Công thức tính suất sinh lời nội bộ: hay r* = IRR
Chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ được các nhà đầu tư sử dụng rất nhiều để mô tả sựhấp dẫn của một dự án
Ý nghĩa của IRR:
- Nếu một dự án có IRR = 15%, điều này có nghĩa là vốn đầu tư vào dự án này
sẽ sinh lãi ở mức 15%
- Suất chiết khấu làm cho hiện giá dòng tiền ròng đã xác định của dự án bằng 0chính là suất sinh lời của dự án
- Xét trên khía cạnh khả năng sinh lời, IRR thể hiện suất sinh lời của dự án đầu
tư IRR còn được hiểu là tỷ lệ tăng trưởng của dự án đầu tư đặc biệt đối với cácdự án chỉ chi tiền một lần trong hiện tại và lợi ích thu được một lần trong tươnglai
- Xét trên phương diện khả năng thanh toán, IRR thể hiện mức lãi suất tối đa màdự án có thể chấp nhận được khi huy động các nguồn tài trợ đầu tư cho dự án
1.5 Chỉ tiêu thời gian hòa vốn
Thời gian hòa vốn của dự án được hiểu là thời gian cần thiết để có thểhoàn trả số vốn đầu tư từ lợi ích ròng thu được của dự án
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn được sử dụng rộng rãi trong việc ra quyếtđịnh đầu tư Chỉ tiêu này dễ tính toán đối với các dự án có thời gian hoàn vốnnhanh, nên nó trở thành tiêu chí để đánh giá các dự án trong kinh doanh Chỉtiêu thời gian hoàn vốn cho thấy ngưỡng hoàn vốn của một dự án mà chỉ tiêuNPV không thực hiện được Thời gian hoàn vốn có 2 phương pháp tính toán:a) Thời gian hoàn vốn không có chiết khấu:
C B NPV
0 1
t t
t
r
CF r
I
1 0
0 1
1
Trang 14Trong đó:
+ n là số năm hiện giá lũy kế thu nhập thuần bắt đầu lớn hơn lũy kế hiện giá vốnđầu tư
+ ∑PVI : Lũy kế hiện giá vốn đầu tư
+ ∑PVn-1 : Lũy kế hiện giá thu nhập thuần của năm n-1
+ ∑PVn : Lũy kế hiện giá thu nhập thuần của năm n
3 Các phương pháp hiệu quả tài chính
3.1 Phương pháp phân tích đầu tư đơn trong điều kiện an toàn
Nội dung của phân tích này tập trung vào việc đánh giá lời ích tuyệt đối
và tương đối của dự án đầu tưhay lựa chọn phương án đầu tư tối ưu khi có nhiềuphương án loại bỏ nhau Dự án đầu tư đơn chỉ giải quyết một niệm vụ nhất địchtrong các công tác đầu tư Ví dụ mua một máy mới cho dây chuyển sản xuất xâydựng một công trình … khác với dự an đầu tư đơn, chương trình đầu tư gồmnhiều phương án đầu tư không l oại bỏ nhau Những phương pháp được sử dụngtrong phân này nhằm giải quyết những cầu hỏi quan trọng sau:
- Liệu có lời hay có tính kinh tế nếu tiến hành mọt dự án đầu tư đã nằmtrong kế hoạch, nghĩa là dự án đầu tư đó có lợi truyết đối
- Liệu phương án đầu tư nào trong số các phương án nếu ra có loại bỏnhau sẽ là phương án có lợi nhất hãy kinh tế nhất, có nghĩa là phương án có lợitương đổi không
3.2 Các phương pháp phân tích đầu tư đơn trong điều kiện không an toàn
Đầu tư có ý nghĩa là bỏ vốn để hy vọng nhật được những kết quả trongtương lai Ta đã nghiên cưu những phương pháp đánh giá hiệu quả các dự anđầu tưtrong điều kiện an toàn tức là đã cọi lượng vốn bỏ ra là kết quả đầu tư làcố định và chắc chắn song trong thực tế là trái ngược lại lương vốn bỏ ra có thểbiết được một cách tương đổi chính xác Kết quả nhật được trong tương lai hoàntoàn trên cơ sở giả đình, như tính và có độ àn toan không cao Ngày bàn than cácphương pháp dự báo tốt nhất cũng không thể cấp cho ta những thong tin chínhxác an toàn Đó là chưa nói đến kết quả dự bảo sai so với kiểm nghiệm trongthực tế như vậy việc tính toán và đánh giá trong trương hợp này sẽ phức tạm và
)
1
(
n n
n
t I HV
Trang 15việc ra quyết định đầu tư lại dựa trên cơ sở nhiều kết quả có khả năng xay ra.Đây là việc tổng hợp mà việc tính toán và đanh giá dự án đầu tư điễn ra trongđiều kiện không an toàn Trong những điều kiện như vậy người ta thương sửdụng các phương pháp sau đây :
- phương pháp phân tích điểm hoá vốn
- phương pháp phân tích độ nhạy
- phương pháp phân tích xác xuất
Trang 16CHUYÊN ĐỀ 3 : TRÌNH BÀY PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1 Khái niệm và phân loại hiệu quả
1.1 Khái niệm vê hiệu quả của dự án đầu tư
Hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án được đặctrưng bằng các chỉ tiêu có tính chất định tính thể hiện ở các loại hiệu quả đạtđược và bàng các chỉ tiêu dinh lượng thể hiện quan hệ giữa lợi ích và chi phí củadự án
1.2 Phân loại hiệu quả vê mặt định tính
- Theo lĩnh vực hoạt dộng của xã hội: Hiệu quả có thể phân thành cácloại: hiệu quả kinh tế (khả năng sinh lời), hiệu quả kỹ thuật (nâng cao trình độ
và đẩy mạnh tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật); hiệu quả kinh tế – xã hội (mứctăng thu cho ngân sách của nhà nước do dự án đem lại, tăng thu nhập cho ngườilao động nâng cao phúc lợi công cộng, giảm thất nghiệp, bảo vệ môi trường) vàhiệu quả quốc phòng
- Theo quan điểm lợi ích: hiệu quả có thể là của doanh nghiệp, của Nhànước hay là của cộng đồng Riêng về mặt kinh tế của đầu tư thì hiệu quả đầu tưđược chia thành hiệu quả tài chính: biểu hiện lợi ích trực tiếp của chủ dự án đầu
tư và hiệu quả kinh tế- xã hội biểu hiện lợi ích của Nhà nước và cộng đồng,
- Theo phạm vi tác động-, bao gồm hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn cục,hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài, hiệu quả trực tiếp nhận được từ dự án vàhiệu quả gián tiếp kéo theo nhận được từ các lĩnh vực lân cận của dự án và dodự án đang xét tạo ra
1.3 Phân loại hiệu quả về mặt định lượng
a Theo cách tính toán
- Hiệu quả có thể được tính theo sô tuyệt đối (ví dụ tổng số lợi nhuận thuđược, hiệu số thu chi, giá trị sản lượng hàng hoá gia tăng, gia tăng thu nhập quốcdân, giảm sô người thất nghiệp v.v.)
- Hiệu quả có thể được tính theo sô tương đối (ví dụ tỷ suất lợi nhuậntính cho một đồng vốn đầu tư, tỷ số thu chi, số giường bệnh hoặc tính cho mộtđơn vị vốn đầu tư)
Trang 17Trong đó: có những chỉ tiêu được coi là độ đo hiệu quả tổng hợp để lựa chọnphương án Trong thực tế hiệu quả kinh tế thường được thể hiện theo số tuyệtđối (hiệu số thu chi) và theo sô tương đối (tỷ số kết quả và chi phí).
b Theo thời gian tính toán
Hiệu quả có thể tính cho một đơn vị thời gian (thường là một năm), hoặccho cả đời dự án Theo thời điểm tính toán hiệu quả phân thành hiệu quả ớ thờiđiểm hiện tại, tương lai và hiệu quả thường niên
c Theo độ lớn của hiệu quả: Hiệu quả có thê coi là đạt (hay là đáng giá)
và hiệu quả không đạt (hay là không đáng giá)
2 Tiêu chuẩn hiệu quả (tiêu chuẩn đáng giá) cúa dự án đầu tư
2.1 Tiêu chuán chung của hiệu quả đầu tư
Tiêu chuẩn chung của hiệu quả đầu tư là bảo đảm thực hiện mục tiêuchiến lược phát triển kinh tế- chính trị- xã hội một cách tốt nhất với chi phí ítnhất, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ, nângcao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đảm bảo ổn định chính trị vàcông bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước
2.2 Tiêu chuẩn đáng giá của đầu tư và quan điểm chọn phương án
Tiêu chuẩn đáng giá: một dư án đầu tư được coi là đáng giá nếu độ đohiệu quả của dự án lớn hơn hoặc bằng hiệu quả tiêu chuẩn (hay ngưỡng hiệuquả)
Quan điểm lựa chọn phương án:
Việc lựa chọn phương án có thể dựa vào một hay một vài chỉ tiêu tổnghợp về hiệu quả tài chính tuỳ thuộc vào chủ trương của chủ đầu tư, trong đó vẫnphải lấy một chỉ tiêu tống hợp nào đó là chủ yếu nhất
Phương án được chọn phải đảm bảo vừa là phương án đáng giá vừa phảibảo đảm hiệu quả lớn nhất Khi lựa chọn phương án, nếu phương án tốt nhất vừa
có chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối lớn nhất lại vừa có chỉ tiêu hiệu quảtính theo số tương đối lớn nhất, thì đó là một trường hợp lí tưởng Nếu hai điềukiện này không đồng thời được đảm bảo thì người ta thường lấy chỉ tiêu hiệuquả tính theo số tuyệt đối (còn gọi là kết quả) làm tiêu chuẩn để lựa chọnphương án, nghĩa là chọn phương án có hiệu quả tính theo số tuyệt đối lớn nhất,nhưng đó phải là phương án đáng giá tính theo số tương đối
Trang 18Trong thực tế tiêu chuẩn khái quát để chọn phương án đầu tư có thể xảy ra theohai hướng:
- Với một chi phí đầu tư cho trước phải đạt được kết quả lớn nhất;
- Với một kết quả cần đạt được cho trước, phải đảm bảo chi phí nhỏnhất
2 Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án đầu tư
1 Sự cần thiết của phân tích kỉnh tế- xã hội
Phân tích tài chính xem xét dự án đầu tư theo giác độ lợi ích trực tiếp củachủ đầu tư
Ngược lại, phân tích kinh tế – xã hội đánh giá dự án xuất phát từ lợi íchcủa toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn bộ xã hội Phân tích kinh tế – xã hội rấtcần thiết vì:
- Trong nền kinh tế thị trường, tuy chủ trương đầu tư phần lớn là do cácdoanh nghiệp tự quyết định xuất phát từ lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp,nhưng nó không được trái với pháp luật và phải phù hợp với đường lối phát triểnkinh tế – xã hội chung của toàn đất nước, trong đó lợi ích của Nhà nước vàdoanh nghiệp được kết hợp chặt chẽ Những yêu cầu này phải được thể hiệnthông qua phần phân tích kinh tế – xã hội
- Phân tích kinh tế – xã hội đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu đểthuyết phục Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, các ngânhàng cho vay vốn và nhân dân địa phương nơi đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư thựchiện dự án
- Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế là căn cứ quantrọng để họ chấp thuận viện trợ, nhất là đối với các tổ chức viện trợ nhân đạo,viện trợ cho các mục đích xã hội và bảo vệ môi trường
- Đối với dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốnthì phân tích kinh tế – xã hội có vai trò chủ yếu trong phân tích dự án, vì hiệnnay ở nước ta loại dự án này khá phổ biến và chiếm nguồn vốn khá lớn
1.2 Khái niệm vê chi phí, lợi ích và hiệu quả kinh tế- xã hội
a Chi phí kinh tế- xã hội
Chi phí kinh tế – xã hội là những khoản chi tiêu hay tổn thất mà Nhà nước
và xã hội phải gánh chịu khi thực hiện dự án Những khoản chi phí này thườnglà:
Trang 19- Tài nguyên thiên nhiên của đất nước phải dành cho dự án, mà loại tàinguyên này hoàn toàn có thể sử dụng vào việc khác trong một tương lai gần đểsinh lợi (có thể hiểu đây là một loại chi phí thời cơ) Để bồi hoàn lại chi phí nàycác doanh nghiệp phải nộp thuế tài nguyên.
- Các cơ sở hạ tầng kinh tế và văn hoá xã hội mà Nhà nước phải bỏ vốn từngân sách nhà nước để Xây dựng, mà các cơ sở hạ tầng này trực tiếp hay giántiếp phục vụ cho dự án (ví dụ công trình giao thông vận tải, điện, nước, các côngtrình văn hoá phục vụ công nhân,v,v ) Để bồi hoàn lại chi phí này các doanhnghiệp thường phải nộp thuế sử dụng cơ sở hạ tầng
- Lực lượng lao động nghề nghiệp mà Nhà nước đã phải bao cấp trongđào tạo, các lực lượng này được dự án sứ dụng Để bồi hoàn chi phí này đúng racác doanh nghiệp còn phải nộp thuế cho đào tạo nhân lực
- Chi phí quản lý chung của Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho sảnxuất kinh doanh
- Các tổn thất về kinh tế – xã hội và môi trường mà Nhà nước và nhân dân(nhất là nhân dân địa phương nơi xây dựng công trình của dự án) phải gánh chịukhi thực hiện dự án đang xét
Có các chi phí và tổn thất kinh tế – xã hội không thê tính toán thành sốlượng chính xác được
b Lợi ích và hiệu quả kinh tế- xã hội
Lợi ích kinh tế – xã hội là loại lợi ích được xét theo góc độ vĩ mô của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân và toàn bộ xã hội
Lợi ích kinh tế – xã hội của một dự án thường đã được trừ đi các chi phí
đã tạo nên nó và do đó nó đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế – xã hội (tính theo sốtuỵêt đối) Mặt khác hiệu quả này còn được tính theo số tương đối bằng cáchchia nó cho chi phí kinh tế – xã hội đã sinh ra nó
Hiện nay, theo cách tính toán lợi ích kinh tế – xã hội cần phân biệt lợi íchkinh tế-xã hội có bao gồm và không bao gồm lợi ích của doanh nghiệp trong sốtrường hợp Ví dụ chỉ tiêu kinh tế – xã hội theo chỉ tiêu giá trị sản phẩm hànghoá gia tăng, trong đó bao gồm cả lợi nhuận để lại cho doanh ghiệp và tiền nộpthuế cho Nhà nước được trích từ lợi nhuận trước thuế, là chỉ tiêu lợi ích kinh tế –
xã hội có bao gồm lợi ích của doanh nghiệp với tư cách là một thành viên của xã
Trang 20nước phải dùng để bồi hoàn chi phí phải bỏ ra trước đó (ví dụ thuế cơ sở hạ tầng
do Nhà nước xây dựng) Trái lại chỉ tiêu giá trị sản phẩm gia tãng, nếu khôngbao hàm khoản lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp, sẽ là chỉ tiêu lợi ích kinh tế –
xã hội không bao gồm lợi ích của doanh nghiệp
Có những lợi ích kinh tế – xã hội có thể định lượng được như giá trị sảnphẩm gia tăng, mức đóng góp cho Nhà nước, mức giảm độc hại cho môi trường,V.V nhưng cũng có lợi ích kinh tế – xã hội khó tính toán thành số lượng được,
ví dụ lợi ích của đầu tư cho văn hoá, giáo dục và sức khoẻ
Lợi ích kinh tế – xã hội phức tạp hơn lợi ích tài chính không những vềchủng loại lợi ích mà còn về tính thay dổi của lợi ích theo thời gian và theo từngquốc gia Ví dụ ở một giai đoạn nào đó lợi ích kinh tế – xã hội của một quốc gianào đó đòi hỏi phải coi việc giải quyết nạn thất nghiệp là chính, nhưng ở mộtgiai đoạn khác lại đòi hỏi phải giải quyết nạn khan hiếm lao động là chính Mộtquốc gia này đòi hỏi các dự án đầu tư phải tiết kiệm tài nguyên là chính, mộtquốc gia khác lại đòi hỏi phải tiết kiệm lao động là chính, v.v…
3 Đánh giá kinh tế - xã hội cảu các dự án đầu tư
Nguồn lực của mỗi đơn vị, mỗi ngành, mỗi địa phương và cả quốc gia đềukhan hiếm và có hạn Vì vậy, nguồn lực sử dụng cho dự án này sẽ làm giảmnguồn lực sử dụng cho dự án khác Bất cứ dự án nào ra đời cũng làm giảm cácđầu vào hiện có của nền kinh tế và làm tăng thêm các đầu ra Cho nên luôn luônphải xem xét có đáng phải mất các đầu vào này để lấy các đầu ra đó không? Tức
là phải lựa chọn dự án sao cho đạt hiệu quả kinh tế quốc dân cao nhất Vậy thựcchất của nghiên cứu kinh tế dự án là đánh giá các lợi ích và chi phí của dự án,chấp nhận hay loại bỏ dự án nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Lợi ích kinh tế xã hội chính là sự so sánh giữa lợi ích được dự án tạo ravới cái giá mà xã hội phải trả để sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhất đối với nềnkinh tế quốc dân
Lợi ích kinh tế xã hội là lợi ích được xem xét trên phạm vi toàn xã hội,toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tức là ở tầm vĩ mô Lợi ích này khác với lợi ích vềmặt tài chính chỉ xem xét ở tầm vi mô liên quan đến từng doanh nghiệp
Lợi ích kinh tế xã hội của một dự án đầu tư là hiệu số của các lợi ích mànền kinh tế quốc dân và xã hội thu được trừ đi những đóng góp mà xã hội phảibỏ ra khi dự án được thực hiện
Trang 21Lợi ích kinh tế mà xã hội thu được có nhiều khi không định lượngđượcnhư sự phù hợp dự án đối với những mục tiêu phát triển kinh tế, những lĩnhvực được ưu tiên, ảnh hưởng dây chuyền đối với sự phát triển các ngành khácNhững cái định lượng được, chẳng hạn sự gia tăng sản phẩm, thu nhập quốcdân, sử dụng lao động, tăng thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách cho Nhà nước.Lợi ích kinh tế xã hội cũng được dự tính trên cơ sở các dự báo nên nó cũng cótính biến động, rủi ro.
Những các chỉ tiêu đánh giá
Giá trị giá tang thuấn tuý (NVA)
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Giá trịgia tăng thuần tuý là giá trị chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào.Công thức tính toán như sau:
NVA = O - (MI + I)
Trong đó:
NVA- là giá trị gia tăng thuần tuý do dự án đem lại đây là đóng góp củadự án đối với toàn bộ nền kinh tế
O- là giá trị đầu ra của dự án
MI- là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch vụ mua ngoài theo yêucầu để đạt được các đầu ra trên đây ( như năng lượng, nhiên liệu )
I- là vốn đầu tư ban đầu
Chỉ số lao đông có việc làm
Bao gồm số lao động trực tiếp và số lao động gián tiếp do dự án tạo ra(các dự án liên đới, đó là các dự án được thực hiện do sự đòi hỏi của dự án Việcxác định số lao động trực tiếp và lao động gián tiếp do thực hiện dự án như sau:
- Xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạtđộng bình thường của dự án
- Xác định số lao động cần thiết cho dự án liên đới đối với dự án đangxem xét cả đầu vào lẫn đầu ra Đây chính là số lao động gián tiếp nhờ vào việcthực hiện dự án
Tổng hợp số lao động trực tiếp và gián tiếp sau khi đã được tính toán trên đây
ta sẽ có số lao động có việc làm nhờ thực hiện dự án
Trang 22Tiêu chuẩn để đánh giá
+ Nâng cao mức sống dân cư: Được thể hiện gián tiếp thông qua các sốliệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độtăng trưởng và phát triển kinh tế
+ Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện qua sự đóng góp củacông cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển và việc đẩymạnh công bằng xã hội
+ Gia tăng số lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủyếu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các nước thừa lao động, thiếuviệc làm
+ Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉnghèo mà còn là nước nhập siêu Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhậpkhẩu là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
Phương pháp đánh giá lời ích kinh tế - xã hội do thực hiện dự án đầu tư
Xuất phát tư góc độ nhà đầu tư
Dưới góc độ nhà đầu tư, lợi ích kinh tế xã hội của dự án được xem xétbiệt lập với các tác động của nền kinh tế đối với dự án (như trợ giá đầu vào, bù
lỗ đầu ra của Nhà nước) Trong trường hợp này, phương pháp áp dụng là dựatrực tiếp vào số liệu của các báo cáo tài chính của dự án để tính các chỉ tiêu địnhlượng và thực hiện các xem xét mang tính chất định tính sau:
+ Mức đóng góp cho ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi dự ánbắt đầu hoạt động như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuếđất ) từng năm và cả đời dự án
+ Số chỗ làm việc tăng thêm từng năm và cả đời dự án
+ Mức tăng năng suất lao động sau khi có dự án so với trước khi có dự ántừng năm và bình quân cả đời dự án
+ Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường của dự án
+ Nâng cao trình độ kĩ thuật của sản xuất: thể hiện ở mức thay đổi cấp bậccông việc bình quân sau khi có dự án so với trước khi có dự án và mức thay đổinày tính trên mỗi đơn vị đầu tư
+ Nâng cao trình độ quản lý: thể hiện ở thay đổi mức đảm nhiệm quản lýsản xuất, quản lý lao động, quản lý sau khi có dự án so với trước khi có dự án
Trang 23+ Các tác động đến môi trường sinh thái.
+ Đáp ứng việc thực hiện mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xãhội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từngthời kỳ
Xuất phát từ góc độ quản lý vĩ mô của nhà nước :
Đối với cấp quản lý vĩ mô của Nhà nước, khi xem xét lợi ích kinh tế xãhội của dự án phải tính đến mọi chi phí trực tiếp và gián tiếp thu được do dự ánđem lại
Chi phí ở đây chi phí của nhà đầu tư, của địa phương, của ngành và của đấtnước Các lợi ích ở đây bao gồm lợi ích mà nhà đầu tư, người lao động, địaphương và cả nền kinh tế được hưởng
Để xác định chi phí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư phải sử dụng cácbáo cáo tài chính, tính lại đầu vào đầu ra theo xã hội Không sử dụng giá thịtrường để tình chi phí và lợi ích kinh tế xã hội và giá thị trường chịu sự chi phốicủa các chính sách tài chính, kinh tế, hành chính của Nhà nước Do đó giá thịtrường không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế
Vì vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế xã hội của những dự án có tầm cỡlớn, bao quát một vùng, một ngành rộng lớn hay quan trọng của nền kinh tế thìphải điều chỉnh giá này theo giá xã hội, phải lưu ý đến yếu tố bên ngoài có ảnhhưởng đến dự án và ngược lại
Những tác động của dự án
Mục tiêu và phạm vi phân tích tác động đến môi trường sinh thái: Việcthực hiện một dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinhthái Các tác động này cũng có thể là tích cực nhưng cũng có thể là tiêu cực Tácđộng tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống,sinh hoạt cho dân cư địa phương Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễmnguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng sức khoẻ con người và súc vậttrong khu vực Vì vậy trong phân tích dự án các tác động về môi trường đặc biệt
là tác động tiêu cực phải được quan tâm thoả đáng
Những ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng: Sự gia tăng năng lực phục vụ củakết cấu hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ mới của kết cấu hạ tầng mới
Tác động dây truyền: Do xu hướng phát triển của phân công lao động xã
Trang 24chặt chẽ Vì vậy, lợi ích kinh tế xã hội của dự án không chỉ đóng góp cho bảnthân ngành được đầu tư mà còn có ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của cácngành khác Tuy nhiên ảnh hưởng dây truyền này không chỉ có ý nghĩa tích cực
mà trong một số trường hợp nó cũng có tác động tiêu cực Khi phân tích dự áncần phải tính đến cả hai yếu tố này
Những ảnh hưởng đến sự phát triển địa phương: Có những dự án mà ảnhhưởng của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương là rất rõ rệt Đặcbiệt là đối với các dự án tại các địa phương nghèo, miền núi, nông thôn với mứcsống và trình độ dân trí thấp Nếu dự án được triển khai tại các địa phương trêntất yếu sẽ kéo theo việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Những nănglực mới của kết cấu hạ tầng được tạo từ những dự án nói trên không những chỉ
có tác dụng đối với chính những dự án đó mà còn có ảnh hưởng đến các dự ánkhác và sự phát triển của địa phương
Sự khác nhau giữa phân tích kinh tế xã hội và phân tích tài chính các dự án
- Về quan điểm
Phân tích tài chính là xem xét hiệu quả ở tầm vi mô, tầm doanh nghiệpcòn phân tích kinh tế xã hội là xem xét ở tầm vĩ mô, tầm xã hội
Phân tích tài chính xuất phát từ lợi ích của nhà đầu tư, còn phân tích kinh
tế xã hội là xuất phát từ lợi ích của cả xã hội, cả cộng đồng
Mục tiêu trong phân tích tài chính là tối đa hoá lợi nhuận cho nhà đầu tư,còn mục tiêu của phân tích hiệu quả kinh tế xã hội là tối đa hoá phúc lợi củatoàn xã hội
Chính vì có sự khác biệt đó nên trong thực tế, một dự án đầu tư có thểthoả mãn tối đa hoá lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng có thể nó không đồngthời tối đa hoá phúc lợi cho xã hội, những lợi ích mà nó đem lại cho xã hội cókhi không tương xứng, thậm chí có thể còn có hại cho xã hội
Mặc dù đã phân tích tài chính đầy đủ, một dự án đầu tư vẫn phải phân tích vềmặt hiệu quả kinh tế xã hội vì đối với Nhà nước đây lại là căn cứ chủ yếu đểNhà nước cấp giấy phép đầu tư và ngân hàng xem xét tài trợ vốn cho dự án
- Về mục đích :
Mục đích của phân tích tài chính là quan tâm tới tối đa hoá lợi ích của chủđầu tư và các nhà tài trợ Do đó, họ quan tâm đến lợi nhuận, hiệu quả đầu tư, sản
Trang 25lương tối đa hoá lợi nhuận Ngoài ra, họ hầu như không quan tâm đến tác độngcủa dự án đến nền kinh tế xã hội nói chung Trái lại, mục đích của phân tíchkinh tế là quan tâm đến lợi ích của đem lại cho nền kinh tế, tức là xem xét dự ánđóng góp thực sự cho nền kinh tế quốc dân là bao nhiêu và tìm cách tối đa hoálợi ích đó.
Từ sự khác nhau về mục đích nói trên, dẫn đến quan niệm khác nhau vềlợi ích và chi phí trong phân tích tài chính và trong phân tích kinh tế Trongphân tích kinh tế chi phí được quan niệm là những khoản chi làm tiêu hao nguồnlực thực sự của nền kinh tế, còn lợi ích là những khoản đóng góp thực sự của dự
án vào phúc lợi chung của quốc gia Tất cả những khoản chi phí và lợi ích đơnthuần mang tích chất chuyển giao từ thực thể kinh tế này sang thực thể kinh tếkhác trong nền kinh tế đều bị loại ra khỏi phân tích kinh tế
Chính vì quan niệm về lợi ích và chi phí kinh tế như vậy, cho nên giá cảsử dụng trong phân tích kinh tế phải là giá cả phản ánh đúng sự khan hiếmnguồn lực Thế nhưng ở hầu hết các nước đang phát triển, giá cả thị trường củahàng hoá, dịch vụ, vốn, ngoại hối, đất đai đều bị bóp méo vì những lí do khácnhau Có trường hợp, giá cả thị trường bị bóp méo do thất bại của thị trường,trường hợp khác có sự can thiệp của chính phủ Vì lẽ đó, không thể sử dụng giáthị trường để phân tích kinh tế, mà cần thiết phải điều chỉnh giá thị trường sangmột giá phản ánh đúng sự khan hiếm nguồn lực của nền kinh tế - đó là giá kinhtế