Mặt khác, công tác hội nhập trong nước phải bắt đầu từ việc đẩy mạnh công tác đổi mới thể chế, hoàn thiện chính sách pháp luật, như Thủ tướng đã khẳng định “Chất lượng thể chế không chỉ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-o0o -BÀI TẬP MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TOÀN CẦU HÓA
Lớp : Quản lý nhà nước B GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai Học viên : Nguyễn Xuân Trọng
Hà Nội, 20/05/2014
Trang 2MỤC LỤC
I CÂU 1 1
1 Đề bài: 1
2 Bài làm: 1
II CÂU 5 6
1 Đề bài 6
2 Bài làm 6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KTQT Kinh tế quốc tế
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 3I CÂU 1
1 Đề bài:
Trong điều kiện hiện nay, bất kỳ nhà lãnh đạo/quản lý nào cũng phải có tầm nhìn toàn cầu và hiểu biết sâu rộng về hội nhập KTQT
2 Bài làm:
Thông điệp của Thủ tướng nêu rõ: “Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế sâu rộng Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do với yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn tạo ra nhiều cơ hội cho hợp tác cùng phát triển nhưng sự tùy thuộc lẫn nhau cũng tăng lên và cạnh tranh ngày càng gay gắt”
Trải qua gần 30 năm hội nhập và phát triển, bắt đầu từ chủ trương Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế sau Đại hội Đảng lần thứ VI, năm 1986, Việt Nam đã trải qua những dấu mốc lớn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Sau khi gia nhập ASEAN
19 năm trước đây (1995), Việt Nam đã lần lượt tham gia sáng lập ASEM năm 1996, tham gia APEC năm 1998 và chính thức trở thành thành viên của WTO được 7 năm Bên cạnh đó, Việt Nam còn ký kết nhiều hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại và đầu
tư, hiệp định FTA song phương và đa phương
Hiện nay, Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện mục tiêu Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015 và đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây chính là các “Hiệp định thương mại tự do với yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn tạo ra nhiều cơ hội cho hợp tác cùng phát triển nhưng sự tùy thuộc lẫn nhau cũng tăng lên và cạnh tranh ngày càng gay gắt”
Với những dấu mốc và thành tựu như vậy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã lần lượt trải qua ba giai đoạn chính là: Mở rộng quan hệ hội nhập kinh tế quốc tế; Đàm phán gia nhập WTO; Triển khai thực hiện cam kết WTO và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập sâu hơn, thực hiện tự do hóa thương mại triệt để hơn Đối với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở cao thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, dễ bị những tổn thương và tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới đòi hỏi chúng ta phải triển khai đều cả hai kênh: hội nhập trong nước và hội nhập nước ngoài Đặc biệt chú trọng nhiều hơn tới hội nhập trong nước Gắn bó chặt chẽ với mỗi kênh hội nhập là các hệ thống thể chế luật pháp tương ứng Theo đó:
Trang 4Một mặt, các hoạt động hội nhập ngoài nước phải đi vào chiều sâu, lấy chất lượng
và hiệu quả làm trọng tâm, khai thác tốt các kết quả đàm phán hội nhập kinh tế quốc
tế, tối đa hóa lợi ích do hội nhập kinh tế quốc tế đem lại Hội nhập ngoài nước, gắn liền với những thể chế luật pháp được đông đảo các quốc gia trên thế giới thừa nhận Việt Nam phải có nghĩa vụ tuân thủ các thể chế hội nhập kinh tế quốc tế này và phải chế định hóa các thể chế đó vào hệ thống pháp luật trong nước
Mặt khác, công tác hội nhập trong nước phải bắt đầu từ việc đẩy mạnh công tác đổi mới thể chế, hoàn thiện chính sách pháp luật, như Thủ tướng đã khẳng định “Chất lượng thể chế không chỉ tác động như một yếu tố tự thân mà còn ảnh hưởng có tính quyết định đến môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế, của từng doanh nghiệp và là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả lợi thế quốc gia” Mặc dù “chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh có tầm quan trọng hàng đầu”, tuy nhiên, chúng ta vẫn phải cải thiện sức cạnh tranh kinh tế, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực để tương thích với các thể chế hội nhập quốc tế mới
mà chúng ta đã tham gia hoặc ký kết, để tranh thủ cơ hội phát triển sang các sân chơi mới và tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền phổ biến về những thể chế hội nhập đó
Hệ thống thể chế hội nhập trong nước phải đảm bảo mục tiêu “tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh Pháp luật và cơ chế chính sách phải tạo thuận lợi nhất cho mọi người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Tài nguyên, nguồn lực của quốc gia phải được phân bổ tới những chủ thể có năng lực sử dụng mang lại hiệu quả cao nhất cho đất nước”
Trên cơ sở thông điệp đầu năm của Thủ tướng, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới vừa phải đáp ứng được những yêu cầu của quốc tế và vừa phải tuân thủ đúng các chủ trương, đường lối trong nước Nói cách khác, các thể chế trong nước phải được hoàn thiện phù hợp với các thể chế hội nhập kinh tế quốc tế
để khai thác tối đa các cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế đem lại
Từ nội dung trên ta thấy trong điều kiện hiện nay, bất kỳ nhà lãnh đạo/quản lý nào cũng phải có tầm nhìn toàn cầu và hiểu biết sâu rộng về hội nhập KTQT thì mới đáp ứng được yêu cầu của công việc, nếu không chúng ta sẽ bị tụt hậu và không tận
Trang 5dụng được các cơ hội của toàn cầu và cũng không ứng phó được sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp bên ngoài và các địa phương khác cũng đang nỗ lực thu hút mời gọi các đối tác đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư của họ Nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi toàn cầu hóa lãnh đạo và quản lý chúng ta phải có sự chủ động tìm hiểu về hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa để có các chiến lược, chính sách phù hợp cho địa phương cho cơ quan
Khi tham gia hội nhập quốc tế ta có các cơ hội và thách thức sau:
Cơ hội:
- Thu hút được các nguồn lực từ bên ngoài
- Tiếp thu được khoa học công nghệ mới
- Hoàn thiện được thể chế chính sách pháp luật
- Thúc đẩy tiến trình cải cách kinh tế trong nước
- Tái cơ cấu lại nền kinh tế
- Mở rộng thị trường suất khẩu hàng hóa và dịch vụ
- Nhập khẩu được các mặt hàng giá rẻ hơn
- Tạo vị thế bình đẳng của quốc gia với các nước thành viên khác, tăng vị thế trên trường quốc tế
- Đào tạo được nguồn nhân lực và thu hút được nhân tài
- Tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
- Giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập
Thách thức:
- Cạnh tranh gay gắt trên bình diện rộng và sâu hơn
- Nguy cơ phá sản doanh nghiệp và thất nghiệp gia tăng
- Chi phí tái cấu trúc nền kinh tế gia tăng
- Tác động khủ hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề toàn cầu
Trang 6- Gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội
- Xuất hiện mâu thuẫn và xung đột giữa các khối liên kết
- Gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường nước ngoài
Cơ hội và thách thức trên mang tính cấp bách buộc lãnh đạo buộc phải hành động cũng như phải có tầm nhìn toàn cầu và hiểu biết sâu rộng về hội nhập KTQT
Vấn đề Hội nhập quốc tế với vấn đề quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc :
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cho chúng ta những điều kiện, khả năng to lớn trong xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, cũng như trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình hội nhập quốc tế, xét ở góc độ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, cũng như ở góc độ bảo vệ Tổ quốc nói chung, chúng ta cũng phải đối đầu với những thách thức không nhỏ Những thách thức đó diễn ra trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:
- Hội nhập quốc tế có nghĩa là chúng ta đã đi vào xu thế chung của thế giới - xu thế hội nhập, cùng vào một “sân chơi chung” Về khách quan, do bị chế ước bởi những định chế chung nên tính phụ thuộc lẫn nhau sẽ ngày càng sâu sắc hơn Điều đó không chỉ đe dọa đến sự độc lập về kinh tế, chính trị, làm gia tăng thêm tính chất, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh giữa định hướng xã hội chủ nghĩa với xu hướng tự phát theo định hướng tư bản chủ nghĩa, mà còn gia tăng sự phụ thuộc của an ninh quốc gia vào an ninh khu vực, an ninh thế giới Chúng ta hội nhập quốc tế “trong bối cảnh quốc
tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc”, như “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)” đã chỉ rõ Cương lĩnh còn nhấn mạnh: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc”
- Trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta tham gia vào môi trường thông tin rộng lớn, với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao như máy tính, mạng internet, thư điện tử… Theo đó, quan niệm về “an ninh toàn diện”, “an ninh phi truyền thống” đã xuất hiện và vấn đề “bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hóa và an ninh xã hội” phải được đặt ra Vấn đề kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn những cuộc xâm nhập, “tiến công mềm” từ
Trang 7bên ngoài bằng các thủ đoạn thông tin trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa được đặt ra một cách gay gắt hơn
- Tham gia hội nhập quốc tế, chúng ta không thể không chịu ảnh hưởng của sự
“phân phối” lợi ích toàn cầu không đồng đều, đặc biệt là đối với những nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp như nước ta thì việc phải chịu thua thiệt trong “phân phối” lợi ích toàn cầu là điều khó tránh khỏi Không những thế, sự “phân phối” không đồng đều cũng có thể diễn ra ngay trên đất nước ta, cụ thể là một bộ phận dân cư sẽ được hưởng lợi ít hơn, từ đó có thể dẫn đến nguy cơ thất nghiệp, gia tăng sự phân hóa giàu nghèo; có thể dẫn đến nguy cơ “rạn nứt” trong xã hội, thách thức sự ổn định và đồng thuận về chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc củng cố, xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
- Trong hội nhập quốc tế, thông qua các hiệp định song phương và đa phương, dòng đầu tư nước ngoài vào nước ta sẽ ngày càng lớn, nhất là việc hình thành và mở rộng các khu kinh tế mở, các khu kinh tế trọng điểm, các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn Trước tình hình đó, vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh trên cả đất liền, biển đảo, trong các khu kinh tế sẽ khó khăn, phức tạp hơn, nhất là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, việc xây dựng tổ chức đảng, hoạt động của lực lượng tự vệ, an ninh, công đoàn và các tổ chức quần chúng khác còn nhiều khó khăn, vướng mắc cả về nhận thức và tổ chức thực hiện
Chính vì vậy bất kỳ nhà lãnh đạo/quản lý nào cũng phải có tầm nhìn toàn cầu
để không làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và công cuộc bảo vệ tổ quốc
Trang 8II CÂU 5
1 Đề bài
Thuế nhập khẩu tăng lên không ảnh hưởng gì đến những người chỉ tiêu dùng sản phẩm được sản xuất ở trong nước
2 Bài làm
Thuế quan :
Thuế xuất nhập khẩu hay thuế xuất-nhập khẩu hoặc thuế quan là tên gọi chung
để gọi hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu
là thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu
Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế xuất-nhập khẩu còn được các chính quyền địa phương thu, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường nó được nhà nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế xuất-nhập khẩu là hải quan thực hiện công việc kiểm tra, tính và thu thuế Về mặt nguyên tắc, thuế xuất nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để người xuất khẩu có thể giao hàng hóa cho người chuyên chở hay người nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên chúng có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế xuất-nhập khẩu là khá nhỏ
Trong thời đại ngày nay, các chính sách về thương mại, thuế và thuế quan thường được xếp cùng nhau do ảnh hưởng chung của chúng đối với các chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp và chính sách đầu tư Các khối thương mại là nhóm các quốc gia liên minh thỏa thuận giảm thiểu hay loại trừ thuế quan đối với thương mại trong khối, cũng như khả năng áp đặt thuế quan có hiệu quả lên hàng nhập khẩu từ ngoài khối hay hàng xuất khẩu ra ngoài khối Liên minh hải quan của khối thường có biểu thuế quan ngoài chung, và theo các quy định đã thỏa thuận thì các quốc gia thành viên chia sẻ các khoản thu nhập từ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong khối
Buôn lậu trong lĩnh vực thương mại quốc tế là hành vi mà một số tổ chức, cá nhân thực hiện trái luật để trốn thuế xuất-nhập khẩu
Mục đích:
Thuế nhập khẩu có thể được dùng như công cụ bảo hộ mậu dịch:
Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường
Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến tranh thương mại
Trang 9Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, chẳng hạn nông nghiệp giống như các chính sách về thuế quan của Liên minh châu Âu đã thực hiện trong Chính sách nông nghiệp chung của họ
Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế
Thuế xuất khẩu có thể được dùng để:
Giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng của nó đối với sự an toàn lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết Thuế xuất nhập khẩu có thể được dùng để tăng thu ngân sách cho nhà nước
Tùy từng nhu cầu mà một hay vài mục đích nói trên được đề cao Khi bị xác định là có mục đích bảo hộ mậu dịch, thuế nhập khẩu có thể trở thành đối tượng bị nước ngoài đòi cắt giảm
Thuế nhập khẩu:
Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước Về mặt nguyên tắc, thuế nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan để nhà nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế nhập khẩu là khá nhỏ
Mục đích:
Thuế nhập khẩu theo truyền thống được đưa ra chủ yếu để tăng thu cho ngân sách, tuy nhiên nó cũng có thể để:
Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường
Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến tranh thương mại
Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, chẳng hạn nông nghiệp giống như các chính sách về thuế quan của Liên minh châu Âu đã thực hiện trong Chính sách nông nghiệp chung của họ
Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế
Trang 10 Không khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng có thể bị coi là xa xỉ phẩm hay đi ngược lại các truyền thống văn hóa dân tộc v.v
- cơ sở cho các đàm phán thương mại như thực hiện các ưu đãi hay là trả đũa thương mại như đã nói ở trên vì nó có tính minh bạch và dễ dàng thực hiện
Phân loại:
Theo phương thức tính thuế, có các kiểu thuế quan như sau:
Thuế quan theo đơn giá hàng (ad valorem tariff): Là một tỷ lệ phần trăm nào đó
của mặt hàng, chẳng hạn 10% trên giá CIF của hàng nhập khẩu, được gọi là thuế suất thuế nhập khẩu Đôi khi ở đây cũng có vấn đề do giá cả trên thị trường quốc tế của hàng hóa giảm xuống thì thuế nhập khẩu cũng giảm theo và các ngành sản xuất trong nước trở thành dễ bị thương tổn hơn trong cạnh tranh Ngược lại, khi giá hàng hóa tăng lên trên thị trường quốc tế thì thuế nhập khẩu cũng tăng lên, nhưng khi đó thì sản xuất nội địa của mặt hàng đó thông thường cũng ít quan tâm đến việc bảo hộ khi giá cả
là cao hơn Bên cạnh đó, ở đây còn có vấn đề chuyển dịch giá khi mà các tổ chức nhập khẩu khai báo giá/giá trị của mặt hàng mà họ đang kinh doanh thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nhằm mục đích giảm nghĩa vụ thuế tổng thể
Thuế quan theo trọng lượng (specific tariff): Được tính theo trọng lượng của
mặt hàng, chẳng hạn $5 trên 1 tấn Kiểu tính thuế nhập khẩu này có thể là khó khăn hơn trong việc quyết định số lượng tiền thuế phải nộp, do nó cần sự cập nhật thường xuyên vì các thay đổi trên thị trường hay vì lạm phát
Hiện nay, nói chung hải quan thực hiện tính thuế nhập khẩu theo kiểu thuế theo đơn giá hàng là chủ yếu.
Theo mục đích đánh thuế, có các kiểu thuế quan sau:
Thuế quan tăng thu ngân sách: Là một tập hợp các mức thuế suất được đưa ra
mà mục đích chính là làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, còn mục đích bảo
hộ cho sản xuất trong nước chỉ là thứ yếu Chẳng hạn thuế quan mà một quốc gia không trồng cũng như không chế biến cà phê đánh vào cà phê nhập khẩu có mục đích chủ yếu là tăng thu cho ngân sách
Thuế quan bảo hộ: Được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạo đối
với hàng hóa nhập khẩu nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài (Xem, thêm các bài Suất hiệu quả của bảo hộ và Thuế chống phá giá) Chẳng hạn, một thuế suất 20% trên giá trị máy móc nhập khẩu với giá nhập khẩu của chiếc máy là 2.000.000 VNĐ sẽ cho giá trị của nó sau thuế là 2.400.000 VNĐ Giả sử không có khoản thuế nào khác nữa thì các nhà nhập khẩu phải bán chiếc máy này ít nhất phải ở mức giá trên 2.400.000 VNĐ để đảm bảo có lãi Khi không có thuế nhập khẩu thì các nhà sản xuất trong nước nếu muốn bán được mặt hàng tương tự chỉ có thể tính giá ở mức khoảng 2.000.000 VNĐ cộng với một lợi nhuận hợp lý; nhưng do nhà